Lời hay ý đẹpTư liệu văn hóa

Giáo trình lớp Hội nhập Văn hoá Văn hoá Công Giáo Việt Nam

Giáo trình lớp Hội nhập Văn hoá “Văn hoá Công Giáo Việt Nam

 

Lời mở

Khi hiểu văn hoá là tổng thể những giá trị do con người sáng tạo ra trong một giai đoạn nhất định của lịch sử thì công trình quan trọng nhất trong thiên niên kỷ thứ III của Giáo Hội Công Giáo là xây dựng nền văn hoá nhân bản Công Giáo. Nền nhân bản này được xây dựng trên con người mới là Đức Giêsu Kitô, để từng tín hữu có thể sống và hành động như Người, “Đấng đang ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), Đấng là vị cứu tinh duy nhất và cũng là mục tiêu duy nhất của lịch sử (x. Tóm lược HTXHCG, số 1).

Giáo Hội muốn xây dựng nền nhân bản chính là để đáp lại lòng mong mỏi của toàn thể nhân loại hiện nay vì sau mấy thiên niên kỷ con người đã bỏ quên chính mình để quy hướng mọi quan tâm vào thần linh, vào Thiên Chúa, trong đó có cả Kitô giáo, thì gần đây con người chỉ tập trung vào chính mình. Nền nhân bản này lấy con người làm gốc, nhưng con người này là ai, là gì lại là điểm chúng ta cần xác định trước bao tranh cãi, xung đột giữa các hệ tư tưởng, chủ nghĩa và tôn giáo.

Tiếp đến chúng ta sẽ tìm hiểu nền nhân bản Công Giáo có những đặc tính nào để được gọi là toàn diện và liên đới. Bốn giá trị căn bản: sự thật, tình yêu, tự do, công lý được hiểu như thế nào và tại sao lại được coi là nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong xã hội. Bốn nguyên tắc căn bản: nhân vị, công ích, bổ trợ và liên đới phải được hiểu thế nào để có thể áp dụng trong đời sống (x. TLHTXHCG, số 7). Cuối cùng, nền nhân bản này làm cho con người chúng ta sống cao thượng, mở ra cho siêu việt và hướng tới vô biên như thế nào.

Sau khi tìm hiểu nền nhân bản Công Giáo, chúng ta sẽ áp dụng vào cuộc sống của chúng ta, những người Việt Nam trong xã hội hiện nay. Chúng ta sẽ tìm hiểu sơ qua cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam để hiểu rõ bối cảnh văn hoá của người Việt trước các nền văn hoá khác nhau, nhất là nền văn hoá Trung Quốc. Từ đó chúng ta tìm ra con đường tình yêu của Thiên Chúa và thấy rằng Đức Giêsu chính là con đường sự thật và sự sống đáng cho toàn thể nhân loại đi chung.

Chúng ta cũng tìm hiểu cuộc hội nhập văn hoá của tổ tiên người Việt chúng ta trong gần 500 năm qua để tìm con đường Giêsu như thế nào, để thấy tôn giáo không phải là một thứ mê tín nhưng là hình thức tối thượng của văn hoá. Nhờ đó, ta có thể xây dựng một cấu trúc vững chắc cho nền văn hoá Việt Nam trong xã hội hiện nay.

Cuộc sống văn hoá như mời gọi chúng ta đưa những giá trị mới vào những hoạt động hằng ngày để ta cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc trong từng giây phút sống. Sống là phải thở, phải yêu, phải ăn uống, nói năng, học hành, làm việc, chơi đùa, phải đi đứng, ngủ nghỉ, tắm giặt, viết lách, mặc cho tươm tất. Khi thực hành những giá trị này, chúng ta sẽ tạo nên một nếp sống văn hoá mới cho mình cũng như cho người khác. Chỉ khi đó cuộc hội nhập văn hoá của chúng ta mới thật sự hoàn thành. Cuối cùng, chúng ta tìm được ý nghĩa của cái chết như cuộc trở về với cội nguồn hiện hữu vô biên.

Trên đây chỉ là một vài giá trị trong một nền văn hoá hết sức phong phú mà từng người chúng ta có thể tiếp nhận. Chúng tôi hy vọng rằng mỗi người có thể khám phá và viết thêm những giá trị mới của nền văn hoá này để xây dựng một dân tộc Việt Nam thật sự tự do và hạnh phúc.

Trong việc thực hiện giáo trình này, chúng tôi đã mượn một số hình ảnh để minh hoạ nhưng không tìm được địa chỉ của các tác giả ảnh để xin phép, xin quý vị tác giả niệm tình thông cảm, vì chúng tôi chỉ muốn giúp người đọc dễ cảm nhận hơn các bài học mà thôi. Chắc chắn khi trình bày những suy tư, chúng tôi có thể phạm phải những lầm lẫn và thiếu sót, rất mong được mọi người chỉ dẫn và sửa chữa giúp chúng tôi cho tốt đẹp hơn.

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ mọi người đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành giáo trình Văn hoá Công Giáo Việt Nam này.

Cầu chúc tất cả luôn an vui và hạnh phúc.

Trân trọng,

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

Các đề tài được trình bày theo 3 phần chính:

I. Văn hoá Công Giáo: nhân bản tâm linh

Bài 1: Con người là gì, là ai

Bài 2: Xây dựng nền nhân bản toàn diện và liên đới

Bài 3: Con đường sự thật giải thoát ta

Bài 4: Tình yêu trong kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa

Bài 5: Những con người tự do

Bài 6: Giá trị của công bằng

Bài 7: Vươn tới sự sống dồi dào và sung mãn

Bài 8: Bốn nguyên tắc hành động trong xã hội

II. Cuộc hội nhập văn hoá của người Công Giáo Việt Nam

Bài 9: Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử Việt Nam

Bài 10: Cấu trúc văn hoá xã hội của người Việt

Bài 11: Cuộc hội nhập văn hoá của Giáo hội Việt Nam

Bài 12: Con đường tình yêu mở rộng cho mọi người

Bài 13: Đức Giêsu Kitô là con đường sự thật và sự sống

Bài 14: Thở được linh khí của Trời

III. Nếp sống văn hoá Việt Nam

Bài 15: Ăn để hoà nhập vào sự sống và tình yêu

Bài 16: Uống nước nhớ nguồn

Bài 17: Mặc lấy con người mới

Bài 18: Học với người Thầy tuyệt vời

Bài 19: Nói Lời cứu độ

Bài 20: Chữ cũng là người

Bài 21: Làm tốt cho đời

Bài 22: Chơi đẹp trong đời

Bài 23: Đứng vững trong bão tố

Bài 24: Nhẹ bước trên đường

Bài 25: Sống đẹp từng phút trong đời

Bài 26: Đi tìm nguồn đẹp

Bài 27: Tẩy sạch bụi trần

Bài 28: Giấc ngủ an bình

Bài 29: Về với cội nguồn

IV. Phụ lục

Bài 1. Chữa trị những trẻ chậm nói

Bài 2. Tin mừng cho người khuyết tật

Các học viên có thể liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ:

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, 166F Bùi Thị Xuân, Q.1, TP.HCM

Đt: 0908411106, Email: antnnson1948@yahoo.com, Website: hanhkhatkito.org

PHẦN I : VĂN HOÁ Công Giáo: NHÂN BẢN TÂM LINH

Bài 1: Con người là gì, là ai

Lời mở

Kể từ lúc con người biết suy tư (homo sapiens) xuất hiện khoảng 200.000 năm trước cho đến ngày nay với khoảng 7,7 tỷ người đang sống trên trái đất[1], con người không ngừng tìm kiếm câu trả lời về lai lịch của mình – Con người là gì, là ai? (CĐ.Vat II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 8) -, về chỗ đứng và vai trò của con người trong xã hội và vũ trụ, về cùng đích của con người và muôn vật (CĐ.Vat II, GS, số 3). Nhờ những khám phá mới mẻ của các ngành khoa học hiện đại, con người có nhiều điều kiện hơn để tìm hiểu về chính mình và trả lời cho các vấn đề trên.

1. Con người là ai hay là gì?

Cuộc tranh luận giữa hai dòng tư tưởng: “con người là ai” như một chủ thể biết suy tư và “con người là gì” như một tổng hợp các yếu tố vật chất kéo dài từ nhiều ngàn năm nay và có thể kết thúc khi chúng ta tìm ra được một định nghĩa đúng đắn về con người.

1.1. Những định nghĩa khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt: Con người là động vật tiến hoá nhất, có khả năng nói, tư duy, sáng tạo và sử dụng công cụ trong quá trình lao động[2].

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Con người là sinh vật thuộc giống người, đánh giá trình độ phát triển cao của cơ thể sống trên trái đất[3].

Theo Từ điển Công Giáo Anh-Việt: Con người là một hữu thể vừa thể xác, vừa tinh thần (GLHTCG, số 362) tạo thành một thể duy nhất (GLHTCG, số 365). Linh hồn thiêng liêng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng. Thân xác sẽ hư hoại, nhưng linh hồn bất tử, không hề hư mất khi lìa khỏi xác trong giờ chết và sẽ tái hợp với thân xác trong ngày phục sinh cánh chung (GLHTCG, số 366)[4]. Con người là một ngôi vị được Thiên Chúa tạo dựng để liên hệ với Ngài. Chỉ trong mối liên hệ này, con người mới tìm được sự sống, thể hiện được chính mình và hướng đến Thiên Chúa một cách tự nhiên[5].

Theo Từ điển Công Giáo: Con người là thụ tạo hồn-xác, nam và nữ – được Thiên Chúa tình thương dựng nên theo hình ảnh của Ngài và được ban quyền làm chủ vũ trụ (x. St 1,26 – 2,25; GLHTCG, số 369)[6].

Hai định nghĩa đầu tiên tìm hiểu “con người là gì” trong dòng tiến hoá của vạn vật. Hai định nghĩa sau nhận định “con người là ai” trong mối tương quan với nguồn gốc là Thiên Chúa và với muôn loài trong vũ trụ. Để tìm được định nghĩa đúng đắn, chúng ta sẽ sử dụng những dữ liệu của khoa học mới mẻ nhất để khám phá con người trong dòng tiến hoá, rồi mới xác định con người trong các mối tương quan.

1.2. Khoa học khám phá con người

Sau nhiều chục thế kỷ chìm đắm trong các huyền thoại của các dân tộc và tôn giáo, con người đặt niềm tin vào khoa học vì “khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như những hoạt động của tinh thần con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”[7]. Chúng ta có thể lưu ý một vài cột mốc của vài ngành khoa học giúp con người khám phá ra chính mình.

– Từ thế kỷ XII, các đại học được mở ra trên vài nước ở châu Âu, thúc đẩy con người tìm hiểu một cách khách quan về vạn vật, trong đó có con người. Những tiến bộ về Y khoa và Dược khoa giúp cho con người có thể chữa lành bệnh tật, thoát khỏi cái chết trước mắt, thay thế được những bộ phận hư hỏng trong cơ thể khiến con người thấy mình không còn phải là món đồ chơi trong tay các thần linh hay hoàn toàn thụ động trước sự an bài của Thiên Chúa.

– Học thuyết Tiến hoá của C. Darwin (1809-1882). Năm 1859, nhà tự nhiên học người Anh này đã xuất bản cuốn “Nguồn gốc các loài” đề xướng giả thuyết về tiến hoá sinh học: mọi loài sinh vật sinh ra không phải do Chúa Trời hay thần thánh, mà là xuất hiện và phát triển nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên. Trong quá trình này, những biến dị cá thể hay biến dị di truyền nhỏ nhất, nếu làm tăng khả năng cạnh tranh, sinh tồn và sinh sản của cá thể sẽ được chọn lọc (được giữ lại, củng cố và tăng cường), trở thành đặc điểm thích nghi… Người ta đã đưa học thuyết này vào trong nhiều ngành khoa học, trong nhiều hệ tư tưởng để ám chỉ tới nguồn gốc sự sống: ví dụ sự sống con người do ngẫu nhiên mà có[8].

– Thuyết Big Bang (Vụ nổ lớn) là mô hình vũ trụ học, miêu tả giai đoạn sơ khai của sự hình thành vũ trụ. Vụ nổ lớn xảy ra cách đây 15 tỷ năm và được các nhà vũ trụ học coi là tuổi của vũ trụ. Chính xác là 13,8 tỷ năm theo tính toán từ tàu Planck năm 2013. Lý thuyết này do nhà vũ trụ, cũng là linh mục, Georges Le Maître đề xuất: một nguyên tử nguyên thuỷ ở một trạng thái cực nóng và đậm đặc đã phát nổ và các hạt bụi hình thành nên các thiên hà, trong đó có thiên hà của chúng ta. Thuyết này được nhiều nhà bác học, vũ trụ học chứng minh như Albert Einstein, Alexander Friedmann, Hoyle, E. Hubble[9]. Thuyết Big Bang như một cách giải thích nguồn gốc hình thành vũ trụ mà không cần đến một đấng sáng tạo nào.

Khoảng 12 tỷ năm trước, mặt trời là ngôi sao xuất hiện trong thiên hà này. Khoảng 8 tỷ năm trước, trái đất là một hành tinh tách ra từ mặt trời. Các chất khởi đầu như C H O N phối hợp với nhau. Hydro phối hợp với Oxy thành nước. Các chất vô cơ phối hợp với nhau càng ngày càng phức tạp. Rồi đến các chất hữu cơ xuất hiện. Khoảng 1 tỷ năm trước, tế bào sống đầu tiên xuất hiện, rồi đến các đa bào, các sinh vật hạ đẳng cho đến các sinh vật thượng đẳng dần dần xuất hiện theo thuyết tiến hoá của Darwin.

– Sự tiến hoá của loài người. Theo sinh vật học, con người được xếp vào linh trưởng, thuộc họ người. Trên cây tiến hoá, loài linh trưởng phân nhánh từ những nhóm thú khác cách đây từ 65 triệu năm. Trong nhóm linh trưởng, con người có chung các đặc điểm giải phẫu với nhóm khỉ dạng người, xuất hiện ở Đông Phi cách đây 20 triệu năm. Khoa học cho thấy người và tinh tinh có chung tổ tiên cách đây khoảng 5-8 triệu năm. Nhưng loài người có hai đặc điểm chính: đi thẳng đứng trên hai chân và có não bộ lớn: sọ người có thể tích từ 1.100-1.700cm3, trong khi sọ tinh tinh 300-500cm3. Tinh tinh sống thành từng nhóm lớn, có trật tự xã hội với các cử chỉ thể hiện sự quan tâm chăm sóc như bắt ve bọ cho nhau. Tổ chức xã hội của con người phức tạp hơn nhiều. Dù tinh tinh có thể học cách sử dụng ngôn ngữ dấu hiệu, nhưng con người là loài duy nhất có thể truyền đạt các ý tưởng và suy nghĩ qua các hệ thống ngôn ngữ phức tạp[10].

– Các tổ tiên của loài người: nhờ những khám phá mới trong ngành cổ sinh vật về phương pháp so sánh protein và ADN của các loài, người ta xây dựng cây gia hệ và phân tích các di tích hoá thạch của loài người cách chính xác hơn và đẩy lùi niên đại của các tổ tiên ban đầu của tông người xa hơn.

Hoá thạch cổ xưa nhất là Sahelanthropus tchadensis ở Đông Phi cách đây 7-6 triệu năm: đứng thẳng trên hai chân, lỗ tuỷ sống chui ra khỏi sọ não, thể tích não khoảng 300cm3. Chi vượn người phương Nam (Australopithecus) xuất hiện khoảng 4-3 triệu năm trước: tư thế đi thẳng nhưng chưa có bàn chân dài và não bộ lớn như chi Người (380-485cm3). Homo erectus là loài đầu tiên trong tông người rời khỏi châu Phi và sang đến Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam xuất hiện cách đây 1,8 triệu – 30.000 năm, não 750-1300cm3.

Homo heidelbergensis tồn tại ở châu Phi và châu Âu cách đây khoảng 600.000-100.000 năm, não 1100-1400cm3, tiến hoá thành người Neanderthal ở châu Âu xuất hiện 400.000-28.000 năm, não khoảng 1412cm3 và thành người hiện đại (Homo sapiens), do Richard Leakey – nhà nhân chủng học người Kenya – tìm thấy ở niềm Nam Ethiopia cách đây khoảng 200.000 năm với não bộ 1200-2000cm3. Người hiện đại phát triển ra ngoài châu Phi khoảng 50.000 năm trước, theo bờ Ấn Độ Dương tới Australia, về phía Bắc tới châu Âu, châu Á và cuối cùng là châu Mỹ[11].

– Con người vô cùng kỳ diệu

Các khoa di truyền học và sinh học trong 20 năm gần đây tiến bộ vượt bậc cho chúng ta biết rõ hơn con người là một cái gì vô cùng kỳ diệu và phức tạp. Con người có khoảng 75 ngàn tỉ tế bào trong một cơ thể bình thường. Mỗi ngày có hàng triệu trong số các tế bào này được thay thế. Tế bào là đơn vị chức năng của cơ thể người. Chúng gồm một trung tâm kiểm soát, gọi là nhân, để chứa các vật liệu di truyền (ADN), màng bên ngoài và các ti thể tiêu hoá các chất béo và đường để sản sinh ra năng lượng ADN (acid deoxyribonucleic) bao gồm các khối cấu trúc gọi là base. Bộ gen người gồm khoảng 3 tỉ base của ADN. ADN tập trung thành những cấu trúc dày đặc gọi là các nhiễm sắc thể: mỗi tế bào chứa 23 cặp nhiễm sắc thể, 1 bộ từ mẹ và 1 bộ từ cha.

Những tế bào này được tổ chức chính xác, giữ vị trí riêng của chúng trong một cấu trúc có trật tự. Một số tế bào làm việc đơn độc như hồng cầu hoặc tinh trùng, nhưng nhiều tế bào khác được tổ chức thành nhiều nhóm khác nhau (khoảng 200 nhóm) và tạo thành các mô với những chức năng khác nhau để hoàn thành một hay nhiều nhiệm vụ riêng biệt như tiêu hoá thức ăn, suy nghĩ, chuyển động, sinh sản[12].

Hệ thần kinh giúp con người thích nghi với hoàn cảnh chung quanh, cảm nhận được thế giới quanh mình. Hệ thần kinh trung ương gồm não và tuỷ sống tiếp nhận thông tin từ tất cả các bộ phận của cơ thể và đáp lại bằng các chỉ thị đến mọi mô và cơ quan. Các tế bào chính của hệ thần kinh được gọi là Neuron. Não có khoảng 100 tỉ neuron và chúng liên lạc với nhau qua các tín hiệu thần kinh gọi là các xung động điện. Phân tích việc truyền tín hiệu thần kinh, người ta thấy các neuron không hoàn toàn chạm vào nhau tại các điểm tiếp giáp. Các túi chứa chất dẫn truyền để từ thân tế bào của neuron gửi đến màng khớp thần kinh, một xung động điện đến giải phóng các chất chứa trong túi, các chất này vượt qua khe khớp thần kinh lại tạo nên xung điện ở neuron tiếp theo[13].

Phân tích não bộ, người ta thấy các vùng vỏ não phụ trách một số chức năng nhất định: như vùng vỏ não thị giác nhận các tín hiệu đến từ hai mắt; vùng Broca, Wernicke và Geschwind phụ trách ngôn ngữ, vùng thính giác, vùng cảm giác, vùng vận động thân thể, vùng cảm xúc, vùng điều hành trung tâm, tổng hợp các tín hiệu ở các vùng khác và lập ra kế hoạch hành động[14].

Các vùng của não liên quan đến trí nhớ không phải chỉ đơn thuần là lưu trữ và gợi nhớ lại các sự kiện, nhưng bao gồm đủ loại thông tin, sự việc, kinh nghiệm và hoàn cảnh, từ tên người đến khuôn mặt, nơi chốn và cả trạng thái cảm xúc của con người vào thời điểm đó[15].

Nhờ não bộ, con người đã suy nghĩ biết bao điều kỳ diệu, sáng tạo nên các khoa học, làm nên các công trình văn học, nghệ thuật, chế tạo nên các sản phẩm hết sức tiện dụng để giúp cho con người sống an vui, sung túc và hạnh phúc.

Mở rộng ra ngoài cộng đồng xã hội, con người quy tụ lại thành những dân tộc, những tổ chức với những luật pháp chặt chẽ để cùng nhau phục vụ lợi ích chung và tạo nên hạnh phúc bền vững cho muôn loài.

Con người đã đi vào lĩnh vực tinh thần với các giá trị không còn bị lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian. Đó là những giá trị của tình yêu, sự thật, cái tốt, cái đẹp, tự do, hạnh phúc, nhân vị, hoà bình… Con người vượt qua giới hạn của “cái gì” để khám phá ra mình “là ai”, nhận thức được đối tượng mình sống với, mình yêu thương, mình phục vụ, mình hy sinh là những ngôi vị. Con người bước vào một chân trời mới của hiện hữu và suy tư để đi tìm nguồn gốc của mọi hiện hữu, lý do hiện hữu và cùng đích của mọi hiện hữu trong các mối tương quan. Tất cả những khám phá và vấn đề do con người đặt ra bây giờ lại không còn là những đối tượng có thể cân đo đong đếm của các khoa học thực nghiệm vì chúng là những đối tượng có thật, vì con người đang nghĩ, đang yêu, đang sống với chúng. Con người bắt đầu đi tìm câu trả lời trọn vẹn cho câu hỏi “mình là ai, là gì” trong các hệ tư tưởng, các tôn giáo, trong khoa học và cả thần học.

2. Những hệ tư tưởng về con người trong dòng lịch sử

Đứng trước thực tại vừa tầm thường vừa phi thường của con người, nhiều tôn giáo, chủ nghĩa đã cố gắng giải thích, làm thành những hệ tư tưởng và tạo nên những thái độ sống khác nhau của con người. Chúng ta có thể lược thuật vài quan điểm nổi bật trong dòng lịch sử được nhiều người đón nhận sau đây:

2.1. Bái vật (Tiền sử, Thời đồ đá cũ – thời đồ đá mới)

Con người không ý thức về mình, không nhận ra những giá trị của mình, nên tôn thờ những sức mạnh thiên nhiên và vạn vật làm thần linh. Đây là thái độ của những người nguyên thuỷ, hay người tiền sử, chưa biết đến khoa học, chỉ nhìn vào các hiện tượng bên ngoài, thấy hổ báo, sấm sét, lửa nước, gió bão mạnh mẽ hơn mình thì tôn thờ chúng. “Đất có thổ công – Sông có hà bá”.

Con người không đặt câu hỏi về mình, về những sự việc liên quan đến mình như cái chết, khổ đau, bệnh tật và coi chúng là những chuyện tự nhiên của kiếp người giống như bao sinh vật khác. Thái độ bái vật này vẫn còn xuất hiện trong thời đại hiện nay, khi con người tôn thờ tiền của, coi chúng là giá trị tuyệt đối trong đời sống: “Có tiền mua tiên cũng được!”.

2.2. Bái thần (từ thời Cổ đại – thời Cận đại, thế kỷ 18)

Nhờ trí thông minh, con người thắng được các sức mạnh thiên nhiên: lấp sông, phá núi, ngăn biển và không tôn thờ chúng nữa. Nhưng con người lại tạo ra cho mình các thần linh mới và thể hiện lòng sùng bái đó qua các tôn giáo.

Con người tìm ra phương pháp làm nông nghiệp với lúa gạo, lúa mì, các cây lương thực khác, thuần hoá các động vật hoang dã thành gia súc nên bỏ đời sống du mục sang định cư lâu dài. Con người phát triển giao thông vận tải, phát minh ra hệ thống chữ viết (chữ hình nêm, chữ Hy Lạp, chữ Latinh). Nhiều thành phố phát triển bên cạnh hồ, sông và các cửa biển. Con người sống ấm no, sung túc nên có nhiều thời giờ suy nghĩ về mình, về thế giới, tạo nên các nền văn minh ở đồng bằng Lưỡng Hà Mesopotamia, bờ sông Nil ở Ai Cập, sông Indus, nền văn minh Tây Á, văn minh Hy Lạp, văn minh La Mã. Các dân tộc giàu mạnh, văn minh hơn sáng tạo ra các phương tiện chiến tranh, dùng sức mạnh, vũ khí để xâm lăng các dân yếu kém hơn mình và bắt họ lệ thuộc về mặt văn hoá, tinh thần, tôn giáo[16].

Các tôn giáo tạo nên những hệ tư tưởng giải đáp các thắc mắc về nguồn gốc, giá trị, cùng đích của con người. Nói chung, con người bắt nguồn từ thần linh, do thần linh điều khiển, chi phối con người. Các thần thoại Hy Lạp, La Mã coi con người là đồ chơi của các thần linh, chỉ có thần linh là bất tử như thần Zeus, Jupiter, Mars, Minerva, Venus, Diana… Ấn Độ giáo cho con người là một phần của Brahman, Đại Ngã tối cao, gọi là Atman (tiểu ngã) khi con người dùng tinh thần của mình hoà nhập với Brahman. Phật giáo cho con người chỉ là một dạng sống biến đổi trong sáu đường (Lục đạo, Lục thú): địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, Atula, nhân gian, thiên thượng[17] trong hàng tỉ kiếp của vòng luân hồi trước khi thoát ra để vào được Niết Bàn thành Phật. Do Thái giáo giải thích con người là thụ tạo do Đức Chúa Giavê dựng nên, có tinh thần giống như Ngài, nhưng đã phạm tội không tuân phục, nên cắt đứt sự hoà hợp với Đức Chúa, phải đau khổ và phải chết. Do Thái giáo đưa con người hướng về niềm hy vọng sẽ được giải thoát, được cứu độ bởi Đấng Mêsia (Đấng Kitô: Đấng được xức dầu).

Kitô giáo xuất hiện vào đầu thế kỷ I giới thiệu Đức Giêsu, người Nazareth của nước Do Thái chính là Đấng Mêsia để cứu độ con người và vũ trụ. Kitô giáo nhận lời giải thích của Do Thái giáo về con người và xác định rằng con người đã được Đức Giêsu biến đổi hoàn toàn, trở thành một con người mới, có giá trị vô cùng, được chia sẻ sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa và có thể trở thành quyền năng vô tận như Thiên Chúa vì đã được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu đã chết để đền tội cho con người và sống lại vì con người. Kitô giáo là tôn giáo có lời giải thích rõ ràng nhất về con người nên số tín đồ đã phát triển mạnh và hiện nay có khoảng 2 tỉ 400 tín đồ trong số 7,7 tỉ người sống trên trái đất.

2.3. Nhân văn (từ thời cận đại, thế kỷ XV đến hiện đại, thế kỷ XXI)

Thái độ sống quy hướng vào con người, lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động và giá trị. Từ thế kỷ XV, khi Johannes Gutenberg phát minh ra máy in, máy điện báo do ông Chapper phát minh năm 1793, điện thoại năm 1876, truyền thanh (1920), truyền hình (1937), máy tính điện tử, internet (1974), nhất là trong thời hiện đại, con người phổ biến và chia sẻ rất nhanh những suy tư cảm nghĩ của mình, tạo nên những chủ nghĩa, hệ tư tưởng, thái độ sống rất khác nhau về con người. Tuy nhiên, dù là chủ nghĩa duy tâm hay duy vật, duy lý hay duy nghiệm, tư bản hay cộng sản, vô thần hay hữu thần, tất cả đều muốn tập trung vào con người chứ không muốn dành cho thần thánh mọi chú ý để không còn bị vong thân.

Những khám phá của khoa học tác động sâu xa vào suy nghĩ của con người, nhất là thuyết tiến hoá, thuyết Big Bang. Con người nghĩ rằng mình có thể giải thích về nguồn gốc của chính mình, mà không cần đến bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa, mình có thể xây dựng cho nhân loại phát triển nhờ trí thông minh mà không cần cầu xin ơn lành của thần linh và khoa học tiến bộ có thể giải đáp tất cả những vấn đề khó khăn của con người như nghèo đói, bệnh tật và cả cái chết.

Những niềm tin vào Thiên Chúa, vào thần linh dần dần biến mất khỏi tâm trí con người do đời sống muốn tự do hưởng thụ vật chất, dành thời giờ nhiều cho việc học hành, làm việc, giải trí. Niềm tin vào một Thiên Chúa bị lung lay tận gốc sau hai cuộc chiến tranh thế giới (1914-1918) và (1939-1945). Hàng chục triệu người chết, hàng trăm triệu căn nhà, tài sản bị phá huỷ khiến cho con người thấy cuộc sống thật ngắn ngủi, vô nghĩa và phi lý. Hệ tư tưởng hiện sinh theo các nhà văn Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus được phổ biến rộng rãi, nhất là trong giới trẻ. Chúng ta thấy thái độ sống đó thể hiện ở rất nhiều nơi trên thế giới: những đền thờ, chùa chiền của các tôn giáo vắng bóng người trẻ, chỉ còn ít người già tham dự các buổi cầu kinh trong khi các sân vận động, trung tâm giải trí, các nơi du lịch đầy ắp người vào các ngày nghỉ cuối tuần.

2.4. Nhân bản tâm linh

Dù đang bị cuốn theo cơn lốc của vật chất và các phương tiện truyền thông xã hội, nhiều người vẫn đang muốn đi tìm một hệ tư tưởng có thể giải đáp trọn vẹn cho con người biết mình là ai, mình sẽ đi về đâu sau cái chết ở cuộc đời trần thế, mình có thể phát huy những khả năng vô tận của tinh thần và thể xác như thế nào để sống mãi, trẻ mãi, đẹp mãi, quyền năng vô tận và hạnh phúc vô biên. Phim ảnh, sách báo nói rất nhiều về những mơ ước đó của con người: Super Man, Super Girl, Harry Potter, các truyện võ hiệp Trung Quốc…

Những khám phá mới của khoa học về con người càng thúc đẩy những người hiểu biết đi tìm nguồn gốc của những gì hiện hữu nơi con người: sự sống, tình yêu, tư tưởng, tự do, hạnh phúc. Dù với tất cả những máy móc hiện đại nhất, con người cũng không thể tìm thấy sự sống là gì, tình yêu ở đâu, tư tưởng cao thấp như thế nào trong con người. Người ta chỉ thấy những chất liệu hoá học, những xung động điện chuyển vận trong các tế bào, các neuron thần kinh. Vì thế, nhân loại đang hướng về một nền nhân bản tâm linh có thể giải đáp cho con người sự thật toàn vẹn của con người.

Nhiều nhà khoa học đã nhắc nhở và vạch trần những sai lầm trong giả thuyết tiến hoá của Darwin[18]. Rất nhiều người Cộng sản ở Nga và các nước Đông Âu đã ân hận về việc đã phổ biến những luận chứng sai lầm để phá bỏ tôn giáo và hô hào hệ tư tưởng duy vật, vô thần khiến cho nền luân lý, đạo đức của đất nước bị suy đồi. Các nhà lãnh đạo dân tộc Việt Nam cũng hô hào mở những lễ hội tôn giáo, mỗi năm có hơn 5000 lễ hội, thay vì đả phá như trước để phục hồi con người sống đạo đức hơn[19].

Nhưng xây dựng thế nào để có được một nền giáo dục nhân bản thoả mãn được mọi yêu cầu của con người và chứng minh nền nhân bản đó có thật bằng những con người cụ thể như các tông đồ và môn đệ của Đức Giêsu Kitô đã làm trong thời Giáo Hội Công Giáo sơ khai là một công trình đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và quyết tâm thực hiện. Đó cũng là niềm mơ ước của cả nhân loại hôm nay.

3. Tóm lược Giáo huấn Xã hội Công Giáo về con người

3.1. Vài dòng lịch sử

Mặc dù Thánh Kinh nói rõ về nguồn gốc và cùng đích của con người, cũng như Chúa Giêsu và các môn đệ của Người dạy rất cụ thể về tình yêu thương của con người đối với Thiên Chúa, với anh chị em mình và với vạn vật như là những điểm căn bản của một nền nhân bản tâm linh, người Kitô hữu trong suốt gần 20 thế kỷ qua có vẻ như vẫn giữ thái độ bái thần, nhất là từ khi đạo Công Giáo được vua Constantinus nhìn nhận là tôn giáo hợp pháp trên toàn đế quốc Rôma năm 313.

Trong nhiều thế kỷ trước cho đến thời Trung cổ, người Kitô hữu tập trung nguồn lực vào việc xây dựng các cơ sở vật chất, tổ chức các nghi lễ trang trọng, quản lý các địa phận tôn giáo bằng các quan chức như giám mục, linh mục tạo thành giai cấp tăng lữ. Giai cấp này cộng tác mật thiết với chế độ quân chủ. Hầu hết Kitô hữu giáo dân, do học vấn thấp kém, hiểu đạo, giữ đạo là tôn thờ Chúa qua các lễ nghi, kinh nguyện, bí tích và tuyệt đối vâng phục các người đại diện cho Chúa là vua quan và hàng giáo phẩm, giáo sĩ. Họ quan niệm rằng mọi sự đều quy về Chúa, chịu đựng vì Chúa dù có bị bóc lột, thiệt thòi. Karl Mars, Engel và nhiều nhà hoạt động xã hội đã cho thái độ bái thần ấy làm cho con người vong thân và cho tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng.

Trước những vấn nạn xã hội nghiêm trọng liên quan đến con người, nhất là những con người đang lao động kiệt lực, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã công bố thông điệp Rerum Norarum (Các sự việc mới) năm 1891. Thông điệp này được coi như “học thuyết Công Giáo đầu tiên về lao động, về quyền tư hữu, về nguyên tắc hợp tác thay vì đấu tranh bạo động, về phẩm giá của người nghèo và nghĩa vụ của người giàu…”[20].

Nhiều vị giáo hoàng tiếp theo đã công bố những văn kiện về những vấn đề xã hội liên quan đến con người tạo thành “học thuyết xã hội” Công Giáo. Từ này được Giáo hoàng Piô XI nói đến đầu tiên năm 1941 và được nhiều giáo hoàng nhắc đến[21]. Gọi là học thuyết, vì “đây là toàn thể nói chung những quan niệm có hệ thống dùng để lý giải các hiện tượng và hướng hoạt động của con người” trong lĩnh vực xã hội[22]. Một số người chỉ dùng từ “giáo huấn xã hội” như một tập hợp những lời dạy của Giáo Hội Công Giáo về xã hội.

Công đồng Vaticanô II (1962-1965) với Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes “giới thiệu một Giáo Hội thật sự liên đới sâu xa với loài người và lịch sử nhân loại. Hiến chế trình bày một cách có hệ thống các chủ đề về văn hoá, đời sống kinh tế và xã hội, hôn nhân và gia đình, về cộng đồng chính trị, về hoà bình và cộng đồng các dân tộc, dựa trên quan điểm nhân học Kitô giáo và sứ mạng Giáo Hội”[23].

Sau nhiều năm nghiên cứu và biên soạn, nhất là dưới sự điều hành của vị chủ tịch là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình đã giới thiệu cuốn Tóm lược học thuyết Xã của Giáo Hội Công Giáo vào tháng 4 năm 2004 cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo và mọi người. “Người tín hữu có thể tìm thấy trong học thuyết này những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những chỉ dẫn để hành động là bước đầu để thăng tiến một nền nhân bản toàn diện và liên đới”[24].

Bản tóm lược này tuy xuất hiện hơi muộn, nhưng hết sức cần thiết để có thể giúp người tín hữu vượt qua thái độ “bái thần”, tập trung sự chú ý vào con người và các vấn đề xã hội của con người, trước những thách đố do các hệ tư tưởng và khoa học đặt ra muốn chỉ tập trung vào con người và chối bỏ Thiên Chúa.

3.2. Nội dung

Bản Tóm lược giới thiệu nền “nhân bản tâm linh vì lấy con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, với tình cảm và lương tâm, với lý trí và ý chí làm then chốt cho toàn bộ phần trình bày của mình. Giáo Hội Công Giáo muốn phục vụ con người trong thời đại này qua cuốn Tóm lược theo cung cách đối thoại, mà chính Thiên Chúa đã thực hiện qua Con Một đã làm người của mình, đối thoại như với bạn hữu để làm chứng cho sự thật cũng như để cứu độ con người”[25].

Sách Tóm lược gồm 583 số trình bày thành 12 chương với phần nhập đề và kết luận. Tất cả nội dung trình bày xoay quanh con người và các vấn đề xã hội của con người. Ta có thể nói rằng Học thuyết Xã hội Công Giáo chính là học thuyết của Giáo Hội về con người vì như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô xác định: “Con người là con đường của Giáo Hội” đồng thời cũng là con đường của Thiên Chúa vì Thiên Chúa đã trở thành người là Đức Giêsu Kitô.

Con người là lý do tồn tại của Giáo Hội vì Giáo Hội được Chúa Giêsu lập nên là để cứu độ con người. Khi Giáo Hội quay lưng lại với con người thì con người cũng bỏ Giáo Hội và cũng đánh mất luôn cả Thiên Chúa cùng với Đức Giêsu Kitô vì họ không nhận ra Đức Giêsu chính là con người lý tưởng mình mơ ước đạt tới, như cùng đích cho mọi hoạt động của con người. Trong quá khứ, không ít lần nhiều cá nhân và tập thể Kitô hữu đã quay lưng lại với con người hoặc đã bỏ quên con người như một chủ thể sống động để tập trung vào nghi thức, lễ lạc hoặc vào cơ sở vật chất. Kinh nghiệm đó như đang thúc đẩy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến con người và tích cực hành động như Chúa Giêsu và cùng với Giêsu để cứu độ họ.

Chúng ta có thể nêu tên các đề tài của 12 chương sau đây:

Nhập đề: Một nền nhân bản toàn diện và liên đới.

Chương 1: Kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Chương 2: Sứ mạng của Giáo Hội và học thuyết xã hội.

Chương 3: Con người và nhân quyền.

Chương 4: Các nguyên tắc của HTXHCG.

Chương 5: Gia đình – tế bào sống của Giáo Hội.

Chương 6: Lao động con người.

Chương 7: Đời sống kinh tế.

Chương 8: Cộng đồng chính trị.

Chương 9: Cộng đồng quốc tế.

Chương 10: Bảo vệ môi trường.

Chương 11: Cổ vũ hoà bình.

Chương 12: Học thuyết xã hội và hoạt động của Giáo Hội.

Kết luận: Vì một nền văn minh tình yêu.

Năm 2016, nhân Ngày Giới trẻ Thế giới tại Cracow, Ba Lan, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trao cho các bạn trẻ cuốn Docat, như là bản tóm lực học thuyết xã hội Công Giáo theo phong cách Youcat năm 2011 để các bạn trẻ hành động như Chúa Giêsu, vì “Chúa Giêsu chính là giáo huấn xã hội của Thiên Chúa”[26]. Cuốn Docat gồm 328 câu hỏi và câu trả lời có thêm phần trích dẫn các văn kiện của Giáo Hội và các giáo hoàng. Sách cũng chia thành 12 chương tương ứng với cuốn Tóm lược HTXHCG.

Kết luận

Nhìn vào Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hiện nay, những vấn đề về con người càng thôi thúc chúng ta hơn nữa để mỗi tín hữu Kitô giáo phải trở thành một con người thật sự như Đức Giêsu. Có thế chúng ta mới hy vọng tăng thêm tỉ lệ 7% người tín hữu Công Giáo mà từ 1885 đến nay vẫn giữ nguyên tỉ lệ này là tín hiệu báo động chúng ta cần xét lại thái độ và hành động của mình đối với con người!

Câu hỏi

1. Thách đố đầu tiên mà con người phải đối mặt là tìm được sự thật về con người: Con người là gì? Con người có thể làm được những gì? Con người phải như thế nào để đạt được cùng đích của đời mình? (x. Tóm lược HTXHCG, số 16). Bạn thấy còn thách đố nào khác không?

2. Trong 4 thái độ: bái vật, bái thần, nhân bản và nhân bản tâm linh, bạn có thể xếp loại các tôn giáo và hệ tư tưởng mình biết vào thái độ nào? (ví dụ: Phật giáo, Khổng giáo, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa xã hội…).

3. Bạn nghĩ mình hay cộng đồng mình sống đang thuộc loại thái độ nào?

4. Bạn dự tính sẽ có hành động xã hội nào cho những đồng bào nghèo khổ, bệnh tật, dốt nát, yếu kém quanh mình nhân danh tình yêu của Đức Giêsu Kitô?

Bài 2: Xây dựng nền nhân bản toàn diện và liên đới

Lời mở

Xây dựng nền văn minh tình yêu là đích điểm cuối cùng cho mọi hoạt động của Giáo Hội Công Giáo ở trần thế này[27]. Để đạt được mục đích đó, Giáo Hội cổ vũ mọi tín hữu xây dựng một nền nhân bản toàn diện và liên đới. Đường hướng này được Giáo Hội xác định ngay trong lời mở đầu của cuốn Tóm lược HTXHCG (số 6, 19; được nhắc lại ở phần kết luận số 582) và nội dung của nền nhân bản này được trình bày trong suốt 12 chương của cuốn Tóm lược (2004) và cuốn Docat (2016). Tuy nhiên, rất nhiều học viện Công Giáo ít quan tâm và hầu hết tín hữu Công Giáo chưa hiểu biết nền nhân bản này là gì và bao gồm những nội dung nào.

1. Nền nhân bản Công Giáo là gì?

1.1. Phân biệt từ ngữ

Từ “nền nhân bản” chỉ được sử dụng vài ba lần trong cuốn Tóm lược HTXH, được Công đồng Vaticanô II nhắc đến ít lần trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (số 7,55,56) vì sợ rằng một số người có thể hiểu sai ý nghĩa của nó.

Từ này nguyên ngữ Latinh là humanismus (Anh ngữ: humanism) bắt nguồn từ từ homo – con người (nhân). Nhiều từ điển Việt Nam dịch là chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân văn (theo Trung Quốc), chủ nghĩa nhân đạo[28].

Từ điển Công Giáo 2016 của HĐGMVN nói đến “nền nhân bản Kitô giáo” trong mục từ cùng tên ở trang 637: “là hệ thống quan niệm Kitô giáo về ‘căn tính’ (bản chất) của con người vốn được biểu hiện trong các mối tương quan của con người với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ”[29].

Từ điển Công Giáo Anh Việt của Nguyễn Đình Diễn dịch từ humanism: chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân bản[30]. Thuật ngữ này bao gồm các phong trào trí thức, văn học và khoa học từ thế kỷ 14 đến 16, nhấn mạnh đến sự phát triển toàn diện con người dựa trên văn hoá Hy Lạp – La Mã cổ điển.

Ngày nay người ta phân biệt chủ nghĩa nhân văn thế tục, nhân văn vô thần với nhân văn tôn giáo. Chủ nghĩa nhân văn thế tục cho rằng thế giới mà con người đạt tới là tất cả thực tại, không có thế giới của những giá trị siêu việt và loài người là giá trị cao quý nhất. Chủ nghĩa này còn cho rằng niềm tin vào Thượng Đế làm cho con người mất đi phẩm giá và tính sáng tạo, khiến cho họ không còn thiết tha đến việc phát triển năng lực và trau chuốt sự cao quý của nhân loại, và làm trì trệ khả năng vươn lên về kinh tế khoa học, thẩm mỹ và đạo đức. Các tác giả tiêu biểu cho chủ nghĩa này: L. Fenerbach (1804-1872), Karl Marx (1818-1883), F. Nietzsche (1844-1900) và Signund Freud (1856-1939).

“Chủ nghĩa nhân văn tôn giáo trong Kitô giáo ý thức phẩm giá đặc biệt của con người trong tương quan với Thiên Chúa”[31].

Công đồng Vaticanô II đã lưu ý nhắc nhở ta về một “nền nhân bản mới, trong đó con người được định nghĩa trước hết dựa trên trách nhiệm của mình đối với anh em và đối với lịch sử”[32]; đồng thời cũng lưu ý ta về chủ nghĩa nhân bản thế tục thuần tuý đối nghịch với tôn giáo[33].

1.2. Xác định từ ngữ

Trước hết, chúng ta dùng từ “nền nhân bản”: nền là cơ sở của một việc gì, nhân là người, bản là gốc, cội rễ.

Chúng tôi dùng từ “nền nhân bản” thay vì chủ nghĩa nhân bản để tránh sự hiểu lầm rằng Giáo Hội Công Giáo đang muốn xây dựng một chủ nghĩa đối kháng với các chủ nghĩa đang có mặt trong đời sống con người như Tư bản, Cộng sản, Duy thực, Duy nghiệm, Duy lý, Duy tâm, Duy vật… Đây là nền nhân bản được xây dựng cho con người và vì con người nên bất cứ chế độ chính trị, tổ chức chính quyền, loại hình kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo nào cũng có thể tiếp nhận và hoà hợp, miễn là không đi ngược với bản chất và những quyền lợi căn bản của con người.

Chúng ta dùng từ nhân bản chứ không dùng từ nhân văn, vì nhân văn thuộc về văn hoá con người. Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất hay tinh thần do con người sáng tạo nên trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Nhân bản có ý nghĩa rộng lớn hơn, bao gồm tất cả những gì thuộc về con người, nhưng không phải chỉ là những giá trị do con người sáng tạo mà còn cả những giá trị được ban tặng cho con người.

Nhân bản cũng không đồng nghĩa với nhân đạo (humanitarian), vì nhân đạo là đạo đức thể hiện ở sự yêu thương, quý trọng và bảo vệ con người. Nhân bản bao gồm nội dung cao cả và rộng lớn hơn nhiều, vì bao gồm mọi lĩnh vực hoạt động và mối tương quan của con người trong vũ trụ, trong đó có cả Thiên Chúa và vạn vật.

Thật ra, từ “chủ nghĩa” hay “nền” có thể dùng hoán đổi cho nhau, khi hiểu chủ nghĩa nhân bản vừa là một hệ tư tưởng về các bản chất và mối tương quan của con người, đồng thời vừa là một đường hướng hành động trong mọi lĩnh vực của con người.

Ta cũng cần phân biệt rằng nền nhân bản toàn diện và liên đới là do Công Giáo giới thiệu cho cộng đồng nhân loại, chứ không phải là của tất cả Kitô giáo như ghi nhận trong Từ điển Công Giáo 2016 của HĐGMVN. Nền nhân bản này lấy Đức Giêsu Kitô là con người mới, hoàn hảo, nhưng nhiều hệ phái Tin Lành không đồng quan điểm với Công Giáo về Đức Giêsu Kitô, nhất là từ khi nhà thần học Rudoft Bultmann (1884-1976), vào những năm 1940-1960, chủ trương giải trừ huyền thoại ra khỏi Phúc Âm, loại bỏ những phép lạ và thậm chí cả cuộc sống lại của Đức Giêsu để cho con người thời nay chuộng khoa học thực nghiệm dễ đón nhận Lời Chúa hơn[34].

1.3. Nền nhân bản Công Giáo

Sau khi xác định từ ngữ, ta có thể tạm thời định nghĩa rằng nền nhân bản mới này là một hệ thống suy tư và hành động lấy con người làm gốc, làm nền tảng, làm trung tâm để quy chiếu như các nền chủ nghĩa nhân bản khác, thay vì lấy vật chất hay thần linh. Đây là hệ thống suy tư giúp con người có những nhận thức đúng đắn về bản chất, về nguồn gốc, về hướng đi, về mối tương quan, về mục đích cuối cùng của con người và cộng đồng nhân loại trong vũ trụ này[35]. Đồng thời đây cũng là hệ thống hành động bao gồm những kỹ năng sống để con người thể hiện cách tốt đẹp và hiệu quả các nhận thức trên.

Trong dòng lịch sử nhân loại, nhiều tôn giáo, trong đó có cả Kitô giáo, đã có những lúc quá chú trọng đến các hình thức lễ nghi dành cho thần linh, cho Thiên Chúa mà coi nhẹ những hoạt động dành cho con người. Đây cũng là một trong các nguyên nhân phát sinh ra những thái độ từ chối thần thánh của con người tạo nên những chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa này đã nhân danh con người hay xã hội loài người để đòi lại những gì mà các tôn giáo lấy của con người để đem về cho thần linh, cho Thiên Chúa[36].

Nền nhân bản Công Giáo đặt con người và xã hội con người vào điểm trung tâm để quy chiếu mọi hoạt động của Giáo Hội Công Giáo vào đó. Con người này, từ muôn thuở, được Thiên Chúa yêu thương, được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, nghĩa là có tinh thần với tình yêu và tự do theo kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là tình yêu[37]. Con người này dùng tự do để chối từ tình yêu với Thiên Chúa, cắt đứt với nguồn sống vĩnh hằng, tình yêu vô biên, quyền năng vô tận là Thiên Chúa dẫn đến cái chết và muôn vàn hậu quả tai hại khác cho mình và cộng đồng xã hội.

Nền nhân bản này có thể được gọi là nền nhân bản Kitô (không phải Kitô giáo), vì được xây dựng trên Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa tự nguyện trở thành người theo kế hoạt của Thiên Chúa Cha (x. Ga 1,14; 3,16; Dt 4,15). Ngài sống như con người để làm cho mọi giá trị của con người thành cao cả vô biên, vì “mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” (GS, số 22). Đức Giêsu Kitô, Người đã tự nguyện chết trên thập giá để hoà giải con người và vạn vật với Thiên Chúa, và đã sống lại để chia sẻ sự sống kỳ diệu, vĩnh hằng của chính Thiên Chúa, nhờ đó, con người mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên (TLHTXHCG, số 130; Docat, câu 53).

Nền nhân bản Công Giáo nhằm mục tiêu đổi mới và xây dựng mỗi tín hữu và những ai thành tâm thiện chí thành hiện thân sống động của Đức Giêsu Kitô (TLHTXHCG, số 58). Người là con người mới, con người hoàn hảo vì nhờ Người mà bản tính nhân loại được nâng cao và đạt tới một phẩm giá siêu việt. Nhờ kết hợp với Đức Giêsu Kitô, người tín hữu sẽ nhận được “những hoa trái đầu mùa của Thánh Thần” (Rm 8,23) để trở thành con người mới (TLHTXHCG, số 19, 36), có khả năng chu toàn luật yêu thương mới (x. Mt 22,40; Ga 15,12; Rm 8,1-11), xây dựng được nền văn minh tình yêu cho cộng đồng nhân loại vì Đức Giêsu Kitô là nguyên mẫu và là nền tảng của nhân loại mới này[38]. Lúc đó loài người sẽ vượt qua bí ẩn của đau khổ và sự chết để sống trọn vẹn trong niềm vui, bình an và tình yêu của Thiên Chúa[39].

Nền nhân bản Công Giáo được gọi là nhân bản tâm linh vì liên quan đến “con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, tình cảm và lương tri, trí khôn và ý chí[40]. Đồng thời, nó cũng để ý đến mọi lĩnh vực hoạt động và tương quan của con người trong đó có tương quan với Thiên Chúa.

Con người được mời gọi hãy khám phá nguồn gốc, mục tiêu và lịch sử đời mình nơi sự hoà nhập yêu thương của Thiên Chúa (TLHTXHCG, số 34), nhờ mạc khải Kitô giáo, con người đã hiểu biết bản sắc, ơn gọi và định mệnh cuối cùng của con người và của nhân loại (TLHTXHCG, số 35).

Vì thế, nền nhân bản này không chỉ nhìn con người theo quan điểm duy vật thuần tuý và chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa theo quan điểm vô thần của các chủ nghĩa nhân bản thế tục. Do đó, nó được gọi là nền nhân bản toàn diện và liên đới (TLHTXHCG, số 19).

2. Nền nhân bản toàn diện

“Nền nhân bản toàn diện bao gồm mọi lĩnh vực của con người như thể xác và tinh thần, cá nhân và tập thể, tự nhiên và siêu nhiên, nội tâm và ngoại giới, vì con người là một mầu nhiệm không thể nào khám phá cho cùng…”[41].

2.1. Thể xác và tinh thần

Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một thể thống nhất với tinh thần và thể xác. Hai yếu tố thể xác và tinh thần đều do Thiên Chúa dựng nên, không phải bắt nguồn từ hai sức mạnh đối nghịch nhau[42]. Thông qua thân xác mình, con người thống nhất nơi mình các yếu tố của thế giới vật chất. Mỗi ngày, qua đồ ăn, thức uống, khí trời… con người hoà hợp với vạn vật trong vũ trụ và thống nhất chúng nơi mình[43]. Nhờ tinh thần, con người có thể khám phá vạn vật với cấu trúc của chúng và thấy mình vượt lên trên thế giới vật chất nhờ phẩm giá độc đáo và lương tâm ngay chính (TLHTXHCG, số 129).

Các nhà khoa học đã khám phá con người bao gồm khoảng 75 ngàn tỉ tế bào tồn tại trong một cơ thể con người bình thường. Mỗi tế bào là một đơn vị phức tạp với nhiều hoạt động khác biệt bên trong. Nhiều tế bào kết cấu với nhau thành những mô với khoảng 200 loại khác nhau. Các mô lại tập hợp thành 10 hệ cơ quan như xương, cơ, thần kinh, hô hấp, tim mạch, bạch huyết và miễn dịch, tiêu hoá, tiết niệu, sinh sản, nội tiết với cấu trúc của da, lông, tóc. Nhưng tất cả đều tác động qua lại với nhau thành một cơ thể thống nhất cho phép chúng ta hoạt động và tồn tại[44].

Tinh thần con người còn kỳ diệu hơn nữa. Tất cả những cảm giác, cảm xúc, những gì ta thấy, ta nghe, ta nhớ, ta nghĩ, ta yêu thương, suy luận đều chỉ là những xung động điện trong bộ não trung ương và hệ thần kinh, với những hoá chất phóng ra từ các đầu khớp nối thần kinh[45]. Các nhà khoa học cho đến nay vẫn chưa tìm ra được và giải thích được thế nào là sự sống, tình yêu, tư tưởng. Nếu chúng đang hiện hữu, theo nguyên lý của khoa học, chúng phải bắt nguồn từ đâu đó, từ một đấng nào đó là nguồn sự sống, tình yêu, tư tưởng và mọi hiện hữu. Chỉ có tinh thần con người mở ra với siêu việt, vô biên mới có thể khám phá được nguồn hiện hữu này.

2.2. Cá nhân và tập thể

Lịch sử loài người đã cho chúng ta thấy những xung đột giữa hai hệ tư tưởng hay chủ nghĩa cá nhân và tập thể với những cuộc chiến tranh, tàn sát ghê rợn. Nguyên nhân là vì con người không nhận ra phẩm giá cao quý của mình và của người khác đó là mọi người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa[46], dù họ là nam hay nữ (TLHTXHCG, số 110-114, 146-148), mạnh khoẻ hay khuyết tật x. TLHTXHCG, số 148 hoặc thuộc bất cứ giai cấp xã hội nào.

“Con người không phải là một hữu thể cô độc mà là một hữu thể xã hội, không thể nào sống cũng như không thể nào phát triển tiềm năng của mình bao lâu con người không liên hệ với người khác” (GS, số 12; TLHTXHCG, số 110). Con người là một cá nhân độc đáo[47] và không thể sao chéo trong số hơn 7,7 tỉ người đang sống trên trái đất hiện nay (thống kê tháng 6 năm 2019 của Liên Hiệp Quốc), nhưng mỗi con người đang sống với những người khác làm thành một gia đình nhân loại[48].

Nhờ tinh thần, con người có thể gặp gỡ những người khác để xây dựng thành những cộng đồng yêu thương. Cộng đồng đầu tiên và cơ bản là gia đình (chương 5 của TLHTXHCG và Docat), xí nghiệp và nơi mình lao động (chương 6), hay làm kinh tế (chương 7), làm chính trị (chương 8) hay hoà nhập với mọi người trong cộng đồng quốc tế (chương 9) để cùng xây dựng và đem lại hạnh phúc cho nhau.

2.3. Tự nhiên và siêu nhiên

Tự nhiên chỉ toàn bộ những gì tồn tại sẵn có trong con người, xã hội và vũ trụ mà không phải do con người tạo ra hoặc tác động hay can thiệp vào. Còn siêu nhiên là có tính chất, khả năng vượt ra khỏi phạm vi tự nhiên, không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên[49].

Từ này gợi ý cho chúng ta về thuyết Big Bang với tất cả những diễn tiến xảy ra trong vũ trụ trong 14 tỉ năm, làm cho con người tưởng lầm rằng vũ trụ tự nhiên mà có. Còn trái đất và các sinh vật tiến hoá cho đến con người biết suy tư hiện nay đang theo quy luật tự nhiên của cuộc tiến hoá mà chẳng cần đến bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa.

Nền nhân bản tâm linh Kitô xác định cho chúng ta rằng: Thiên Chúa là nguồn của mọi hiện hữu”[50]. Ngài dựng nên thế giới và loài người chúng ta theo một kế hoạch đã định trước: đó là diễn tả bản tính yêu thương của Ngài, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16; x. Docat, chương 1).

Thật ra, khi nói đến quy luật tự nhiên là ta phải nghĩ ngay đến người đặt ra hay tạo nên quy luật, dù ta không nhìn thấy người đó. Thí dụ: 1 cây bút bi với vài thành phần cấu tạo: chiếc lò xò, ruột chứa mực, nắp bút, thân bút; hay chiếc đồng hồ với vài chục thành phần. Ta không thể bỏ chung vào một chiếc bình rỗng rồi lắc liên tục cho đến khi ngẫu nhiên những thành phần đó ráp lại với nhau theo một trật tự đúng đắn để thành một cây bút viết được, hay một cái đồng hồ chạy được. Sự hiện diện của chúng tự nhiên đã đòi hỏi phải có một chủ thể tạo thành nên chúng theo một quy luật chính xác.

Nếu ta nhìn vào con người với 23 đôi nhiễm sắc thể trong đó bộ gen người có 3 tỉ base ADN được sắp đặt theo một trật tự lạ lùng. Một quả chuối có một nửa thành phần giống gen của người. Tuy nhiên, không thể thay một gen người bằng một phiên bản từ quả chuối vì sự khác biệt trong thứ tự các cặp base bên trong mỗi gen. ADN của con người khác biệt với ADN của tinh tinh khoảng 5%, nhưng từ hàng triệu năm nay, chẳng có tinh tinh nào biến hoá thành người cả![51]. Mặc dù bề ngoài chúng ta trông khác nhau về màu da, màu tóc, hình thể to lớn hay thấp bé, nam hay nữ, nhưng cấu trúc căn bản của ADN chúng ta lại đồng nhất[52]. Điều này dẫn chúng ta đến một kết luận khá lý thú: chúng ta đều là anh chị em của gia đình “người”, có một người Cha Tạo Hoá vô cùng kỳ diệu tạo nên!

Nếu trong “trật tự tự nhiên” đã kỳ diệu như thế, thì những gì thuộc “trật tự siêu nhiên” còn tiến hoá khôn lường. Tinh thần của con người mở ra đến vô biên vì không bị lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian. Tinh thần đó được biểu lộ qua những tư tưởng, ước muốn, tình cảm, hành động để con người sáng tạo nên những khoa học, theo đuổi nghệ thuật, đi tìm những gì thuộc về chân thiện mỹ tồn tại mãi mãi, vươn tới sự thật toàn diện và điều thiện tuyệt đối. Vì thế, HTXHCG quả quyết: “mở ra với siêu việt là một đặc tính của con người: con người mở ra với Đấng vô biên cũng như với mọi thụ tạo” trong đó có các thiên thần, hồn người đã khuất và cả vũ trụ vạn vật[53]. Đây là điểm khá mới mẻ đối với con người hiện nay, nhưng lại không xa lạ với Đức Giêsu Kitô và các môn đệ thời Giáo Hội sơ khai khi Người và họ phán bảo cho gió im, biển lặng, bánh cá hoá nhiều, chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, xua trừ ma quỷ để giải phóng con người.

2.4. Nội tâm và ngoại giới

“Con người đã không lầm khi nhận biết mình cao quý hơn vũ trụ vật chất và không coi mình chỉ như một mảnh nhỏ của thiên nhiên hay như một phần tử vô danh trong xã hội loài người. Bởi vì nhờ có nội tâm, con người vượt trên vạn vật: khi con người quay về với lòng mình là lúc họ tìm về nơi nội giới thâm sâu này. Ở đó, Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn đang chờ đợi họ và cũng chính nơi đó, con người tự định đoạt về vận mệnh riêng của mình dưới ánh mắt của Thiên Chúa” (GS, số 14; TLHTXHCG, số 128; Docat, câu 47). Đó chính là hồn thiêng bất tử mà Thiên Chúa dựng nên cho con người.

Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị, là một ai đó chứ không phải là một thứ gì đó. Con người có khả năng nhận biết bản thân và suy ngẫm về chính mình, đưa ra những quyết định tự do và bước vào mối tương quan với người khác. Hơn nữa, con người được ơn Chúa thúc đẩy để đáp lời mời gọi của Thiên Chúa bằng đức tin và tình yêu, đi tìm Thiên Chúa hoà nhập với Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô để phát triển trọn vẹn tiềm năng làm người của mình[54].

Ngoại giới được hiểu là toàn thể thế giới ở bên ngoài con người. Khi hiểu con người hiện hữu như một cái “tôi” có khả năng hiểu mình, làm chủ mình và tự quyết về mình, thì cần phải tôn trọng nhân phẩm siêu việt của con người. Không một tổ chức chính trị, xã hội, khoa học, văn hoá, kinh tế nào được quyền sử dụng con người như là một phương tiện để thực hiện các dự án của mình, hoặc lèo lái con người vào những mục tiêu xa lạ với sự phát triển trọn vẹn của con người (TLHTXHCG, số 132-134).

Tuy nhiên, con người cũng hiểu rằng ngoại giới và mình cần phải liên kết mật thiết với nhau. Con người thống nhất nơi mình các yếu tố của thế giới vật chất và thông qua con người, chúng tự do cất lời ca ngợi Đấng Tạo Hoá[55]. Con người có trách nhiệm phải bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống của mình[56].

3. Nền nhân bản liên đới

Con người toàn diện có 4 quan hệ căn bản với 4 tinh thần phải giữ để làm cho các mối quan hệ tốt đẹp và bền vững:

– Đối với Thiên Chúa, giữ tinh thần thảo hiếu.

– Đối với người khác, giữ tinh thần huynh đệ.

– Đối với vạn vật, giữ tinh thần huynh trưởng.

– Đối với chính mình, giữ tinh thần tự chủ.

3.1. Tinh thần thảo hiếu trong quan hệ với Thiên Chúa

Khi con người nhận thức mình được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và Thiên Chúa là nguồn của mọi hiện hữu, của chân thiện mỹ, của sự sống vĩnh hằng và hạnh phúc vô biên mà mình luôn mong đợi, thì con người mới nhận ra được phẩm giá cao quý vô song của mình mà không một thụ tạo nào có thể so sánh được. Con người được mời để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa bằng đức tin và tình yêu[57].

Hơn nữa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa làm người, con người nhận biết mình được tha thứ, được nhận làm con người cái của Ngài và được chia sẻ thần tính của Thiên Chúa nên con người đối xử với Thiên Chúa bằng tinh thần thảo hiếu chân thành, khác hẳn thái độ sùng bái các thần thánh trong lo sợ của các tôn giáo khác[58].

Con người khám phá tận đáy lòng mình lương tâm ngay chính như tiếng nói của Thiên Chúa như một lề luật phải theo, dạy con người phải yêu mến và làm điều thiện cũng như phải tránh điều ác[59]. Tuân theo các lề luật ấy là tuân theo các giá trị đạo đức. Các giá trị này bắt nguồn từ luật tự nhiên được ghi khắc trong lương tâm con người, nhờ đó phẩm giá con người được nâng cao và xã hội được ổn định[60].

Từ lòng thảo hiểu đối với Thiên Chúa, con người sẽ bày tỏ tinh thần thảo hiếu này đối với cha mẹ, thầy cô, ông bà, tổ tiên, dân tộc… là những người thay mặt Chúa chuyển giao hay chia sẻ sự sống, sự thật, hạnh phúc, tình yêu, kiến thức và các ơn lành cho mình. Chính trong mối tương quan với Thiên Chúa, con người được đào tạo để hiểu biết và giữ lòng ái quốc với dân tộc, tinh thần bảo vệ các nền văn hoá và lòng quảng đại chia sẻ vô điều kiện những ơn lành của Cha Trên Trời cho mọi người, mọi vật, thay vì đòi hỏi quyền sở hữu và tác quyền cách bất công như hiện nay.

3.2. Tinh thần huynh đệ trong tương quan với mọi người

Từ nền tảng lòng thảo hiếu với Thiên Chúa, con người mới nhìn nhận mọi người sống trên trái đất và trong cả vũ trụ đều là anh chị em trong một đại gia đình của mình để đối xử với nhau bằng tình huynh đệ, không kỳ thị vì bất cứ lý do gì.

Vượt lên trên đòi hỏi của Thiên Chúa: “Ngươi phải yêu thương người khác như chính mình” (Lc 19,18), Đức Giêsu còn mời gọi con người: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 1…) để dám chết thay cho mọi người, tha thứ và cầu nguyện cho kẻ đóng đinh mình và diễn tả tình yêu cụ thể đó thành những hành động chăm lo cho các nhu cầu của người khác (HTXHCG, số 112; x. Mt 22,37-40; Mc 12,29-31; Lc 10,27-28).

Thuyết Big Bang đưa con người hiểu rằng Thiên Chúa là người Cha Tạo Hoá thì vũ trụ bao la này vẫn có thể có những “người khác” ở ngoài hành tinh của mình để tìm hiểu, gặp gỡ, yêu thương và cùng nhau xây dựng một nền hoà bình giữa các vì sao (star peace), thay cho cuộc chiến tranh (star war) mà những phim ảnh đang cổ vũ.

Thiên văn học cho chúng ta biết thiên hà của chúng ta có khoảng 400 triệu ngôi sao giống như mặt trời và có khoảng 8000 hành tinh có điều kiện giống như trái đất, nghĩa là vật chất có thể phối hợp tiến hoá thành những “con người”. Vũ trụ có khoảng 100.000 thiên hà đã được kính thiên văn Hubble chụp được. Như thế, có hàng trăm ngàn hành tinh có những điều kiện phát triển sự sống và những con người nơi ấy có thể có những nền văn minh bằng hoặc hơn con người ở trái đất (x. báo Tuổi Trẻ online, ngày 9/3/2009).

Khi Giáo Hội Công Giáo tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Vua Vũ Trụ vào Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ và Kinh Thánh nhắc nhở ta về việc mọi sự trong vũ trụ được tạo dựng nhờ Người và cho Người (Ga 1,3), thì mọi con người ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ đều có thể đón nhận được ơn cứu độ của Đức Giêsu. Khi Đức Giêsu đón nhận thể xác được cấu thành bởi vật chất của trái đất này thì Người cũng là thành viên của vũ trụ và cứu độ tất cả theo kế hoạch của Chúa Cha. “Thiên Chúa yêu thương thế giới nên đã ban Người Con Một” (Ga 3,16). Thế giới này trước tiên hiểu về những con người biết tin vào Đức Giêsu. Nếu tinh thần của những con người ở các hành tinh khác mở ra đến vô biên, thì họ cũng có thể gặp gỡ được Đức Giêsu một cách nào đó để nhận được ơn cứu độ (HTXHCG, số 130).

3.3. Tinh thần huynh trưởng trong quan hệ với vạn vật

Đối với vạn vật và các thụ tạo không phải là con người, con người giữ tinh thần của người anh lớn, chị lớn để lo lắng cho các đứa em của mình. “Con người có khả năng và bổn phận lấy các thụ tạo khác phục vụ mình và hưởng dùng chúng, nhưng việc chế ngự thế giới đòi hỏi họ phải thi hành trách nhiệm, chứ không được tự do khai thác cách tuỳ tiện và ích kỷ” (HTXHCG, số 113). Thiên Chúa đã giao phó vạn vật cho con người để thay Ngài quản trị muôn loài (x. St 1,26-28; Kn 2,23). Con người thống trị thụ tạo bằng cách đặt tên cho chúng (x. St 2,19-20) và như thế, Ngài mời gọi con người có trách nhiệm với chúng (HTXHCG, số 113; GLHTCG, số 373).

Khi hiểu được vạn vật làm nên xương thịt của mình qua đồ ăn, nước uống, khí thở, con người sẽ thể hiện trách nhiệm huynh trưởng với tình yêu mãnh liệt đối với vạn vật như Đức Giêsu. Tình yêu ấy làm cho con người nhận ra đúng sự thật của vạn vật để điều khiển chúng đến độ nói cho gió yên, biển lặng, bánh cá hoá nhiều, đi trên mặt nước… như Chúa Giêsu. Vì vạn vật hy sinh sự sống cho con người, nên con người cũng sẵn sàng tự nguyện chết cho vạn vật để bảo vệ và phát triển chúng như Đức Giêsu để giải thoát và đưa chúng vào chung hưởng vinh quang vĩnh hằng của con cái Thiên Chúa (HTXHCG, số 123).

Tinh thần huynh trưởng được thể hiện qua việc chuyên cần học hỏi, nghiên cứu vạn vật qua các khoa học tự nhiên, siêng năng lao động, làm ra của cải vật chất và biết chia sẻ những của cái đó cho người yếu kém, bảo vệ môi trường sống cho sạch, xanh, đẹp và an lành cho mọi người và mọi vật khác.

3.4. Tinh thần tự chủ trong quan hệ đối với chính mình

Trong tương quan với chính mình, con người giữ tinh thần tự chủ. Con người chú ý lắng nghe những khát vọng sâu xa của tâm hồn mình, con người cũng cảm nghiệm những khắc khoải muốn được nghỉ ngơi trong Chúa[61], cảm nghiệm những thôi thúc của bản năng, của dục vọng và những hậu quả tai hại của tội lỗi[62]. Vì thế, con người phải cố gắng làm chủ bản thân, thời giờ, tình cảm, ân huệ, tham vọng và dục vọng để trở thành một con người tự do thật sự trước mọi ràng buộc của đời sống. Khả năng tự chủ này được đào tạo qua việc giáo dục và tập luyện những kỹ năng sống sau đây:

– Làm chủ ân huệ Chúa ban qua đời sống kết hợp với Chúa, Đức Mẹ, các thần thánh bằng cầu nguyện, phụng tự, đón nhận bí tích. Tất cả đều là hồng ân để luôn sống trong tâm tình tạ ơn.

– Làm chủ cá tính cần làm các trắc nghiệm tâm lý để biết mình thuộc loại cá tính nào, có những ưu điểm, khuyết điểm nào, tài năng nào, cảm năng hoạt động cao hay thấp…

– Làm chủ tài năng tinh thần như trí hiểu, trí nhớ, trí tưởng tượng, ý chí để trở thành con người biết sống tự lập, sáng tạo và đem lại hạnh phúc cho mình cũng như cho mọi người.

– Làm chủ thời giờ bằng việc hiểu rằng mỗi giây phút sống đều có giá trị vĩnh hằng khi kết hợp với Thiên Chúa và đều có thể đem lại niềm vui, hạnh phúc, ơn cứu độ cho muôn loài[63]. Vì thế, cần lập chương trình sống mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm để tận dụng thời giờ Chúa ban.

– Làm chủ các phương tiện vật chất để bảo đảm những điều kiện cần thiết cho một đời sống tự lập[64]. Của cải không phải chỉ làm lợi cho người sở hữu và còn cho người khác, vì Thiên Chúa ban trái đất chung cho con người[65]. Đó là mục tiêu phổ quát của vật chất và nhờ đó tạo ra một thế giới công bằng và liên đới[66]. Người chủ sở hữu vật chất cần biết tự nguyện sống tinh thần nghèo khó của Đức Giêsu (x. 2Cr 8,9) để làm giàu cho thế giới và nhân loại.

Kết luận

Khi hiểu nền nhân bản mà được Giáo Hội Công Giáo cổ vũ trong HTXHCG là một nền nhân bản toàn diện và liên đới, người tín hữu rất tự hào và quyết tâm xây dựng cho mình cũng như cho cộng đồng của mình thành những con người mới trong một trời mới, đất mới (x. GS, số 39; HTXHCG, số 123) mà Đức Giêsu Phục Sinh đã bắt đầu ngay tại trần thế này. Chỉ nhờ nền nhân bản này, con người mới có thể phát triển trọn vẹn và cộng đồng xã hội mới đạt được an vui, hạnh phúc vững bền.

Câu hỏi

1. Đâu là điểm cần phân biệt khi nói Chúa là nguồn gốc mọi sự và là cùng đích mọi loài, trong khi lại xác định “con người là nền tảng, là trung tâm” để quy hướng mọi hoạt động của Giáo Hội và xã hội?

2. Nguyên nhân nào đã khiến các hệ tư tưởng đòi trả lại cho con người vị trí trung tâm của mọi quan tâm và hoạt động?

3. Lĩnh vực nào của con người ít được quan tâm nhất trong thời đại hiện nay?

4. Trong các mối tương quan của con người, tương quan nào bị bỏ bê hơn cả?

5. Tương quan nào là nền tảng để xây dựng các tương quan khác?

6. Bạn nghĩ mình đang cần làm chủ điều gì hơn cả trong thời điểm hiện tại?

Bài 3: Con đường sự thật giải thoát ta

Lời mở

Nền nhân bản Kitô giáo giới thiệu bốn giá trị căn bản trong đời sống xã hội của con người, đó là: sự thật, tự do, công bằng, tình yêu[67].

Giá trị đầu tiên là sự thật. Đây là giá trị khởi đầu để giúp con người nghĩ đúng, nói thật, làm thật, sống thật trong một xã hội đầy vẻ hào nhoáng, câu nệ vào hình thức bên ngoài, tràn ngập những thông tin giả để lừa dối và những hoạt động kinh tế thiếu minh bạch. Đó là lý do tại sao từ “sự thật” được nhắc đến ở 86 số trong 583 số của sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo và ở 38 câu trong số 328 câu của sách Docat.

Vì thế, chúng ta tìm hiểu sơ qua sự thật trong đời sống con người hiện nay ra sao, nhân loại đi tìm sự thật như thế nào và sự thật toàn diện của con người là gì.

1. Sự thật trong đời sống

Hiện nay, mỗi ngày hàng tỉ người đang theo học trong các trường lớp, miệt mài nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm, say mê tìm hiểu qua các sách báo, phim ảnh, internet, chia sẻ điều mình tìm được qua các buổi nói chuyện và các phương tiện truyền thông xã hội… Mục đích chỉ nhằm khám phá ra sự thật ẩn chứa trong thiên nhiên, trong vạn vật, trong lòng người và trong cả Thiên Chúa hay các thần linh. Nhân loại khát khao sự thật, mơ ước tìm ra sự thật trong một ngọn cỏ vì nó có thể cứu chữa cho hàng triệu bệnh nhân ung thư. Con người mong mỏi tìm ra sự thật trong lòng người để có thể kết ước trăm năm, nhưng “Dò sông dò biển dễ dò. Nào ai lấy thước mà đo lòng người!”.

Thật ra, vì được Thiên Chúa chân thật tạo dựng nên muôn vật, muôn loài đều phản ánh sự thật. Sự thật không phải là một cái gì ở bên ngoài, nhưng ở trong ta, trong mọi sự và ta có thể cảm nhận được ngay. Nhìn vào một bông hoa, ta cảm nhận được sự thật vì màu sắc của cánh, của nhuỵ, của đài hoa, dù rực rỡ hay đơn sơ, đều là thật chứ không tô vẽ, giả tạo bằng những nét sơn phết bên ngoài. Một lời nói, dù có vẻ thô lỗ, cộc cằn, nhưng ta biết đó là lời thật, chứ không phải rào trước đón sau của những người khéo ăn khéo nói.

Con người nào cũng muốn sống thật với chính mình, muốn người khác sống thật lòng với mình. Chẳng ai muốn đóng kịch trên sân khấu cuộc đời, dù những vai diễn có cao sang như vua quan hay đẹp tươi như đại gia kiều nữ. Chẳng ai muốn người khác lừa bịp mình bằng những lớp quần áo hoá trang, những lớp son phấn vật chất giả tạo. Ai cũng muốn sống hạnh phúc, an lành giống như nguyên tổ Ađam – Eva trong vườn Eden, vì thân thể trần truồng và thân phận thụ tạo của họ đã được bao phủ bằng hào quang chân thật của Thiên Chúa (x. St 1-2).

Học thuyết Xã hội Công Giáo giải thích việc con người đánh mất sự thật nơi mình bằng bi kịch của tội[68], khi con người đầu tiên Ađam vi phạm giới răn của Chúa, đánh mất sự thánh thiện và công chính mà mình đã có khi được tạo dựng, cắt đứt với nguồn sống vô tận và chân thật là Thiên Chúa. “Hậu quả của tội làm con người xa rời, không phải chỉ với Chúa, mà còn với chính mình, với người khác và với thế giới chung quanh” (HTXHCG, số 116).

“Hậu quả cụ thể là con người phải chết vì xa rời nguồn sống vĩnh hằng. Con người tố cáo nhau (x. St 3,12), lừa dối nhau, giết hại nhau (x. St 4,2-16). Các hậu quả của tội làm cho cơ cấu của tội kéo dài mãi mãi. Những cơ cấu này lại ẩn sâu trong tội cá nhân… khiến cho tội trở nên trầm trọng hơn, dễ lan truyền và trở thành nguồn phát sinh các tội khác, chi phối cách ứng xử của con người” (HTXHCG, số 119; GLHTCG, số 1869). Nhất là khi con người ham muốn thu nhiều lợi nhuận và khát khao quyền lực bằng bất cứ giá nào[69].

Từ đó ta hiểu tại sao có tin giả, hàng giả và mọi thứ giả dối trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và cả tôn giáo nữa.

Khi Ađam – Eva cắt đứt mối tương quan với Thiên Chúa chân thật, xé rách vầng hào quang ân sủng bao phủ, họ chỉ còn thấy mình là thụ tạo trần trụi, yếu đuối và cái chết ở cuối cuộc đời. Họ không nhận ra người khác cùng xương thịt với mình mà chỉ đánh giá nhau theo những lớp áo hoá trang, màu da bên ngoài và trở thành những chú Cuội với nhau. Họ cũng chẳng nhận ra vạn vật là những đứa em nhỏ trong đại gia đình Thiên Chúa đã làm nên xương thịt của mình, mà chỉ coi chúng là loài vô tri, vô giác và khai thác chúng cạn kiệt như những ông chủ keo kiệt, bạo tàn.

Vì thế, nền nhân bản Kitô mời gọi con người đi tìm một sự thật toàn diện về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật, về chính mình.

“Thiên Chúa là chính sự thật”[70]. Nhưng vì là tinh thần tuyệt đối, siêu việt, nên con người tương đối, bất toàn không thể cảm nhận trực tiếp sự thật này nếu không được Thiên Chúa bày tỏ mình ra cho con người. Con người chỉ có thể dùng tinh thần để nhận biết sự thật đó qua những thụ tạo hữu hình (x. Dc 1,1-4), đồng thời nhận ra Ngài là nguồn của mọi sự thật.

2. Nhân loại đi tìm sự thật

Kể từ khi biết suy nghĩ về thân phận con người, sự hiện hữu của vạn vật, trong suốt dòng lịch sử văn minh của mình, con người luôn khao khát sự thật và cố gắng đi tìm để giải đáp cho mình những câu hỏi về nguồn gốc, giá trị, cùng đích của con người, cũng như về đau khổ, về cái chết, về sự sống vĩnh hằng để tìm được sự giải thoát cho mình và cho vạn vật. Những chủ nghĩa, hệ tư tưởng, khoa học và tôn giáo đủ loại mô tả cho ta con đường đi tìm sự thật của loài người.

Con người biết suy tư xuất hiện cách đây khoảng 196.000 năm, khởi đầu ở châu Phi, sau đó di chuyển và xuất hiện ở châu Âu cách đây khoảng 40.000 năm. Con người sử dụng trí óc để tìm hiểu sự thật. Nhờ khám phá ra ngôn ngữ (khoảng 10.000 năm TCN), chữ viết (khoảng 4000 năm TCN), ngành in (khoảng 1000 năm) và các phương tiện truyền thông như điện thoại, truyền thanh, truyền hình, internet (thế kỷ 20), con người có nhiều phương tiện để khám phá, tìm hiểu, chia sẻ và phổ biến sự thật cho nhau. Bước vào thế kỷ 21, những khám phá và phát minh của tin học đã mở rộng con đường sự thật cho mọi người.

Sự thật, theo nghĩa thông thường, là cái có thật, cái có trong thực tế. Theo nghĩa triết học: là điều phản ánh đúng hiện thực khách quan[71]. Theo nghĩa sau, sự thật đồng nghĩa với chân lý (lẽ thật) sự phản ánh chính xác sự vật khách quan và quy luật của chúng vào ý thức của con người[72]. Chân lý là lẽ thật vốn có một cách khách quan, người ta phải nhìn nhận nó, không tuỳ thuộc vào sở thích hay ý muốn cá nhân[73]. Thánh Thomas de Aquino định nghĩa: “chân lý là sự tương hợp giữa thực tại và trí khôn” (Veritas est adequatio rei et intellectus)[74]. Sự thật trong triết học kinh viện được định nghĩa là “sự tương hợp giữa trí khôn và thực tại” (veritas est conformitas intellectus cum re).

Người thời tiền sử nhận biết những cái có thật trong đời sống thực tế: cây cối, động vật, biển cả, núi non, mặt trời, mặt trăng, lửa khói. Họ thấy nhiều thứ như hổ báo mạnh hơn mình, có thể gây chết chóc cho mình. Khi trí khôn phát triển hơn, họ nhận ra sự thật là mình mạnh hơn khi dùng trí khôn để thắng được hổ báo, ngăn sông, phá núi, lấp biển… Khoa thiên văn ngày nay dạy cho con người biết rằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao không phải là các vị thần chi phối đời sống con người, mà chỉ là những khối vật chất.

Như thế, chân lý hay sự thật thường xuyên phát triển. Con người ngày càng thâm nhập sâu sắc vào các đối tượng, hiện tượng thì tri thức của con người về thế giới ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, khách quan hơn. Hơn nữa, thế giới con người cũng thường xuyên biến đổi, phát triển cho nên nó cũng quy định sự biến đổi của tri thức về nó. Tính đúng đắn của chân lý hay sự thật được kiểm tra bằng thực tiễn[75].

Cách đây khoảng 5000 năm, khi trí khôn con người vượt qua những thực tại vật chất để suy tư về những thực tại tinh thần như tình yêu, sự sống, cái đẹp, cái tốt, cái đúng, chiến tranh hay hoà bình… con người muốn biết chúng thật sự là gì. Khi thấy chúng vượt quá trí khôn của mình, không thuộc quyền hạn của mình, con người đưa chúng vào lĩnh vực của thần linh. Đó là thời kỳ của những huyền thoại và tôn giáo giải thích sự thật cho con người: mỗi thứ đều có những vị thần cai quản. Thần Mars về chiến tranh, thần Venus về sắc đẹp, thần Minerva về thi ca, thần Jupiter là thần cao nhất. Các tôn giáo cũng cố gắng giải thích cho con người sự thật về cái chết, về sự sống, về niềm mơ ước được sống mãi mãi, về ơn cứu độ.

Những lời giải thích về những thực tại tinh thần đó hầu hết chỉ mang tính chủ quan và không thể kiểm tra bằng thực tiễn, nên chúng không phải là những sự thật và cũng không đem lại sự giải thoát cho con người. Con người cứ sinh ra, lớn lên, già cỗi, bệnh tật và chết đi, dù mong ước được sống mãi, trẻ mãi, đẹp mãi. Xã hội con người vẫn cứ xung đột, giết hại nhau, lừa dối nhau với bao trò bịp bợm và chiến tranh lớn nhỏ, dù ai cũng mong ước được sống sung túc, bình an, hạnh phúc. Con người chưa tìm được sự thật giải thoát mình nên vẫn còn đang phải đi tiếp trên con đường tìm sự thật đúng nghĩa.

Cách đây khoảng hơn 2000 năm, vào đầu kỷ nguyên của chúng ta, Kitô giáo xuất hiện với vị sáng lập là Đức Giêsu. Vào thời điểm quyết định trong lịch sử, Thiên Chúa như là nguồn của sự thật, sự sống và mọi hiện hữu đã muốn bày tỏ cho loài người biết một sự thật cụ thể và siêu việt để quy tụ tất cả các sự thật tương đối về một mối. Sự thật không phải là những lý lẽ trừu tượng theo định nghĩa của con người, nhưng là một con người cụ thể để mọi người, mọi vật đều có thể tìm đến với người đó, đi vào con đường sự thật và sự sống của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa đã cho Con Một Ngài là Ngôi Lời trở thành người, trở thành Đức Giêsu Kitô (x. Ga1,1-18). “Lời Cha là sự thật” (Ga 17,17) sẽ giải thoát con người và vạn vật khỏi u mê, lầm lạc do sự bất toàn của con người và sự lừa dối của quỷ ma. Đức Giêsu đã chứng minh Người là sự thật giải thoát bằng lời giảng dạy đầy uy quyền, bằng đời sống, bằng những phép lạ chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỷ, bằng cái chết cứu độ và sự sống lại của Người.

Trong hàng chục thế kỷ tiếp theo, những sự thật về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật được truyền bá khắp vùng Địa Trung Hải, trong khắp đế quốc Roma và lan rộng ra khắp thế giới. Tuy nhiên, nhiều vùng ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á người ta vẫn giữ những quan niệm của các tôn giáo cổ xưa như Ấn Độ giáo, Phật giáo. Nhiều nước ở miền Trung Đông và châu Phi lại theo các quan niệm của Hồi giáo.

Từ thế kỷ 13, khi các đại học được mở tại nhiều nước châu Âu, các giáo sĩ, tu sĩ Kitô giáo trở thành những người tiên phong cổ vũ con người đi tìm sự thật và phát triển các ngành khoa học, đặc biệt là triết học và thần học. Nhưng nền triết học và thần học kinh viện của Kitô giáo dựa trên những suy tư trừu tượng đã dần dần xa rời thực tiễn của con người và xã hội.

Từ thế kỷ 18-19, cuộc cách mạng khoa học đã đưa nhân loại đến các miền đất mới của tri thức là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, để con người khám phá các sự thật của vạn vật (khoa học vật lý, hoá học, sinh học, y học, thực vật học, động vật học, vũ trụ học, thiên văn học…), của chính mình (tâm lý học, phân tâm học, luân lý, đạo đức…), của xã hội mình sống (xã hội học, kinh tế học, nhân học). Những khám phá này càng giúp con người hiểu hơn sự thật về chính mình, về vạn vật, về vũ trụ lại càng thôi thúc con người đi tìm sự thật cho các câu hỏi: “Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ, cái chết? Sao chúng vẫn tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ… Con người có thể đem lại gì cho xã hội và có thể trông đợi gì ở xã hội? Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo sau cuộc sống ở trần gian này?”[76].

Thế kỷ 20-21, chứng kiến sự phân hoá về quan điểm sự thật giữa nhiều hệ tư tưởng khác nhau, nhất là chủ nghĩa tư bản và cộng sản, chủ nghĩa duy lý và duy thực, chủ nghĩa duy tâm và duy vật, nhưng tất cả đều chú tâm vào con người, vào khoa học vì tin tưởng khoa học tiến bộ có thể giải thoát con người. Thật sự, các khoa học kỹ thuật giúp ích cách thiết thực cho con người. Tuy nhiên, con người cũng ý thức rằng: dù khoa học có phát triển đến đâu, chúng cũng không thể nào vượt qua được những giới hạn nằm trong chính bản chất của sự vật và bản tính của con người có thể xác và tinh thần. Sự vật và thể xác con người luôn bị giới hạn bởi vật chất, không gian và thời gian. Con người không thể tự giải thoát chính mình để trở thành tuyệt đối, vĩnh hằng, vô biên. Con người cần một sự thật tuyệt đối ở bên ngoài mình để mình vươn tới siêu việt, đồng thời ở bên trong mình để thúc đẩy và biến đổi chính mình.

Con người cũng cần một sự thật tuyệt đối để đảm bảo cho mọi hoạt động đúng đắn của con người được đón nhận và có giá trị mãi mãi. Sự thật này chỉ có nơi Đức Giêsu Kitô, và chỉ có Người mới có thể chia sẻ sự thật đó cho những ai tin vào Người (x. Ga 17,17).

Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã phân biệt “chân lý tuyệt đối phản ánh hoàn toàn đầy đủ và trọn vẹn bản chất của khách thể, không thể bổ sung và cũng không thể bác bỏ” với “chân lý tương đối phản ánh được khách thể một cách đúng đắn, nhưng không đầy đủ”[77]. Chủ nghĩa này cho rằng con người không thể đạt được chân lý như vậy ngay một lúc, bởi vì nhận thức là một quá trình đi sâu mãi vào bản chất của khách thể. Chủ nghĩa này không công nhận tinh thần con người mở ra với siêu việt vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và Đức Giêsu là chân lý tuyệt đối cụ thể của Thiên Chúa đã đến với con người và hoà nhập vào trong con người.

Người tín hữu Công Giáo, nhất là các linh mục, tu sĩ, khi học trong các học viện trong nhiều thế kỷ, đã quá chú tâm vào những vấn đề triết học, thần học và ít quan tâm đến những khoa học tự nhiên, xã hội nhân văn, những vấn đề thiết thực của con người cũng như những biến chuyển trong xã hội. Bài giảng của họ hầu như xoay quanh đến những vấn đề luân lý, những lời giải thích theo Thánh Kinh. Do không theo dõi những tiến bộ của khoa học, họ không thể giải thích kịp thời những vấn nạn của con người liên quan đến đức tin, luân lý. Thí dụ như: thuyết Big Bang và giả thuyết tiến hoá của Darwin. Do cứ lẩn quẩn trong những câu định nghĩa về sự thật siêu hình, sự thật mạc khải, sự thật tự nhiên và siêu nhiên, họ quên mất Đức Giêsu chính là sự thật toàn vẹn giải thoát muôn loài.

3. Sự thật toàn diện là chính Đức Giêsu

Con người sa ngã kéo theo vạn vật bị cưỡng bách phải chịu hư nát chung với con người (x. Rm 8,28) nhưng Thiên Chúa vẫn yêu thương con người và vũ trụ vật chất này. Ngài hứa ban Đấng Cứu độ ngay khi con người vừa phạm tội (x. St 3,1-24).

Đấng đó là Người Con Một của Ngài (x. Ga 3,16), “đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Đó là Ngôi Lời Thiên Chúa tự nguyện làm người, trở thành Đức Giêsu Kitô để dạy cho con người biết sự thật toàn diện là gì. Chính Người đã tự giới thiệu mình: “Tôi là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

Khi tự nguyện trở thành con người mang thể xác vật chất, Con Một Thiên Chúa đã hoà mình vào dòng lịch sử của loài người, trở thành anh em của mọi người cũng như mọi vật. Người chia sẻ cho tất cả sự thật, sự sống và ân huệ của Thiên Chúa để tất cả cùng nhận ra nhau là con cái của người Cha Trên Trời. Người còn cho con người khả năng nhận biết sự thật trong vạn vật nhờ những tài năng tinh thần và ân huệ của Thánh Thần như ta thấy thể hiện trong đời sống của nhiều vị thánh như Antôn Padôva, Phanxicô Khó Nghèo, Martinô de Porres. Hơn nữa, nền nhân bản Kitô được diễn tả trong Học thuyết Xã hội Công Giáo, đề cao sự thật như một giá trị căn bản. Sự thật ở đây không xác định là tương đối hay tuyệt đối, là chủ quan hay khách quan, là tự nhiên hay siêu nhiên, thuộc về hữu thể học, luân lý học hay luận lý học, thuộc về thần khải hay do lý trí con người khám phá ra.

Ngay trong số đầu tiên của phần nhập đề, Học thuyết này xác định: “Đức Giêsu Kitô chính là con đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6), khi nhìn ngắm dung nhan Người, chúng ta càng thêm tin tưởng và hy vọng nơi Người, Vị Cứu Tinh duy nhất và cũng là mục tiêu duy nhất của lịch sử”[78]. Người không phải là những ý niệm trừu tượng của suy luận bằng lý trí, nhưng là một con người cụ thể, để ta nhìn ngắm, tiếp xúc, gắn bó trong tin tưởng và yêu thương.

Đức Giêsu Kitô, vì là sự thật cụ thể của Thiên Chúa, nên Người vừa mang tính tuyệt đối của Thiên Chúa, vừa mang tính tương đối của con người. Người vừa là sự thật khách quan ở ngoài con người, nhưng đồng thời vừa hoà nhập với con người để họ nhận ra một sự thật chủ quan theo lương tâm ngay chính của mình. Người vừa là sự thật tự nhiên có thể dùng lý trí tìm hiểu về đời sống của Người trong lịch sử, đồng thời là sự thật siêu nhiên để khám phá bằng đức tin và ân huệ. Như thế sự thật Giêsu Kitiô là một tổng hợp tuyệt vời có thể nối kết và quy tụ mọi quan điểm của các hệ tư tưởng, tôn giáo của loài người trên đường tìm kiếm sự thật toàn diện và hoàn hảo. Học thuyết này xác định: “Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người, trong Người và nhờ Người, thế giới và con người đạt tới sự thật đích thực và trọn vẹn của mình”[79].

Đức Giêsu dạy những sự thật căn bản để giải phóng con người và mang lại ơn cứu độ: “Người nói với những người Do Thái đã tin Người rằng: ‘Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi. Các ông sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng các ông'” (Ga 8,31-32). Người dạy ta sự thật về Thiên Chúa là người Cha yêu thương đến nỗi ban Con Một mình (Ga 3,16) và chỉ muốn con người thờ phượng Ngài trong Thần Khí và sự thật (Ga 4,23-24). Người giải phóng ta khỏi mọi loại tôn giáo cổ vũ cho những hành vi sai lạc, mê tín, làm tha hoá con người.

Người dạy ta sự thật về con người không phải là một đám vật chất tình cờ tụ lại, sống ít năm ở trần thế rồi lại tan rã thành bụi đất, nhưng là những người con yêu quý của Chúa Cha và là anh em của nhau, để sống mãi mãi và chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa. Qua việc làm người, Đức Giêsu đã đón nhận tất cả những gì thuộc về con người để biến đổi chúng thành những thứ thuộc về Thiên Chúa với giá trị phi thường. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động của con người khi gắn kết với Người là sự thật tuyệt đối vĩnh hằng, sẽ tồn tại mãi mãi.

Điều này vừa là một lợi thế giúp con người can đảm sống theo sự thật một cách độc lập vượt ra ngoài mọi áp lực xã hội. Nhưng đây cũng là một thách đố cho tất cả những ai đang sống trái với sự thật vì họ sẽ bị chính Đức Giêsu Kitô là thẩm phán xét xử những hành vi dối trá, giả tạo của họ.

Đức Giêsu đã minh chứng Người là sự thật toàn diện cho con người khi rao giảng Tin Mừng cứu độ, chữa lành những người bệnh tật, cho người đói được ăn bánh no nê, giải thoát cho những người bị ma quỷ kiềm chế, tha thứ cho tội nhân, cho kẻ chết sống lại, chia vui sẻ buồn với con người, lao động như con người. Người còn chia sẻ quyền năng và sự sống kỳ diệu của Người cho các môn đệ để họ đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cứu độ và làm chứng cho Người. Như thế là Người phá vỡ mọi giới hạn do tội lỗi đặt ra để giúp con người đạt đến sự thật phi thường mà họ vẫn ước mơ: đó là họ có thể mở ra với Đấng Siêu Việt và mọi chân trời của hiện hữu[80].

Đức Giêsu dạy ta sự thật về vạn vật không phải là những thứ vô tri vô giác để hành xử với chúng như những ông chủ khắc nghiệt. Chúng thật sự là những đứa em trong đại gia đình Thiên Chúa và chúng ta là những anh chị lớn của chúng. Vì thế, càng yêu thương và tìm hiểu chúng qua các khoa học để biết sự thật về chúng, ta càng có khả năng cứu độ chúng, điều khiển chúng như Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ trên thiên nhiên. Trời đất đã tối sầm lại như đồng cảm với Đức Giêsu khi Người hấp hối trên thập giá và vui mừng trong cơn động đất khi Người sống lại để mời gọi ta nên có cái nhìn mới về vạn vật quanh ta.

Đức Giêsu dạy ta sự thật về một con người toàn diện và xã hội mới mẻ gồm những con người biết vượt qua những xung đột và đối kháng để tìm được sự thật trong khoa học (HTXHCG, số 78), trong triết học (số 77), trong luân lý (số 83), trong tôn giáo (số 141), trong luật tự nhiên (số 142) cũng như siêu nhiên (số 70). Người đưa con người biết đón nhận nhau trong cộng đồng xã hội (số 150) để hành động theo những nguyên tắc và sự thật của xã hội (số 163-167), xây dựng những mối quan hệ trên nền tảng sự thật (số 199,200), xây dựng gia đình theo sự thật khách quan của hôn nhân (số 218-219), xây dựng trật tự xã hội với các tổ chức chính quyền (số 397), hoạt động thông tin dựa trên sự thật về con người (số 415).

Cuối cùng, chúng ta cần lưu ý rằng sự thật này không phải chỉ để biết, nhưng còn là để sống. “Sống trong sự thật” là điều đặc biệt quan trọng trong các quan hệ xã hội. Mọi người có nghĩa vụ đặc biệt là phải luôn hướng tới sự thật, tôn trọng sự thật và làm chứng về sự thật một cách có trách nhiệm”[81]. Như thế, trong mọi mối tương quan của con người, chúng ta được mời gọi để nghĩ thật, nói thật, làm thật. Điều này người tín hữu Công Giáo có thể làm được, nhờ gắn bó với Đức Giêsu và đón nhận những ân huệ của Thánh Thần Chân Lý (Ga 14,26; 15,26-27; 16,12-13) mà Người ban cho tất cả những ai tin vào Người.

Lời kết

Sự thật mà nhân loại tìm kiếm trong suốt dòng lịch sử đã được khám phá. Câu hỏi Philatô đặt ra cho Đức Giêsu “Sự thật là gì?” (Ga 18,38) đã được giải đáp. Đó là Đức Giêsu Kitô, Người thật sự là con đường dẫn đến sự thật giải thoát, nhưng ta chỉ cảm nghiệm được sự giải thoát đó nếu ta cùng bước đi trên con đường này. Bạn có dám bước theo Đức Giêsu không?

Câu hỏi

1. Bạn có kinh nghiệm gì về sự thật qua những “thông tin” trên báo chí, truyền thanh, truyền hình và các mạng xã hội?

2. Có nhiều lúc trong cuộc sống, ta bất đắc dĩ phải nói dối để cho gia đình an vui, cộng đồng không hỗn loạn. Bạn có nghĩ đó là một giải pháp tốt không? Tại sao?

3. Những định nghĩa khác nhau của các chủ nghĩa, hệ tư tưởng về sự thật đã đồng quy về một con người, là Đức Giêsu Kitô. Bạn tìm được hiệu quả gì nơi sự kiện này?

4. Bạn đã có kinh nghiệm nào về sự giải thoát của Đức Giêsu khi biết được sự thật về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật, về chính mình?

Bài 4: Tình yêu trong kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa

Lời mở

Giá trị thứ hai làm nền tảng cho đời sống xã hội của con người là tình yêu. Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo nói đến tình yêu ở 129 số trong 583 số của toàn cuốn sách. Sách Docat nhắc đến tình yêu ở 72 câu trong 328 câu. Chúng ta cũng ghi nhận Công đồng Vaticanô II nhắc đến tình yêu hàng trăm lần trong tất cả các văn kiện. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo nói đến 101 lần. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã giải thích rất rõ về tình yêu trong 2 thông điệp: “Thiên Chúa là Tình yêu” (Deus est Caritas) và “Bác ái trong sự thật” (Caritas in veritate). Những số thống kê này cho ta hiểu ý nghĩa phong phú và tầm quan trọng của tình yêu trong đời sống Kitô hữu cũng như trong kế hoạch của Thiên Chúa[82].

Vì thế chúng ta sẽ tìm hiểu những quan niệm khác nhau của con người về tình yêu, tình yêu thật sự và toàn diện theo Kitô giáo được trình bày trong Học thuyết xã hội Công Giáo để tiến tới việc xây dựng nền văn minh tình yêu như mục đích cuối cùng của mọi hoạt động xã hội.

1. Những quan niệm khác nhau về tình yêu trong đời sống

Yêu là một trong các hành động thường ngày của con người, liên hệ mật thiết với sự sống: sống để yêu và yêu để sống. Tình yêu vừa là cội nguồn tạo ra sự sống vừa là cùng đích của sự sống. Thậm chí ngay cả khi không còn sống trên trần thế, người ta vẫn có thể tiếp tục yêu để sống trọn vẹn và sung mãn như bao tổ tiên anh hùng của đất nước và các bậc thánh hiền của nhân loại.

Tuy nhiên, thực tế của đời sống hiện nay lại là một thảm trạng về tình yêu. Chỉ tính riêng ở Việt Nam đã có hàng triệu cuộc tình tan vỡ và hàng triệu bào thai bị phá bỏ mỗi năm, chưa kể hàng ngàn người bị giết hại, lừa bịp, tự tử và hàng chục triệu bệnh nhân tâm thần, chỉ vì con người không hiểu được nghĩa tình yêu và không biết yêu thương. Người ta có nhiều quan niệm khác nhau về tinh yêu.

1.1. Những quan niệm khác nhau về tình yêu

– Trước hết, rất nhiều người không tin có tình yêu, nên họ cũng không cần tìm hiểu tình yêu bắt nguồn từ đâu. Nếu phân tích con người bằng tất cả máy móc khoa học tân tiến nhất, người ta cũng không thấy chỗ nào chứa đựng tình yêu, dù rằng người ta vẫn nói trái tim là biểu tượng tình yêu của con người, cũng như của Thiên Chúa.

Dù “yêu” là một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong ngày: yêu cha mẹ, yêu vợ con, yêu người tình, yêu bè bạn, yêu công việc, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu đất nước… nhưng thật khó giải nghĩa tình yêu là gì nên cũng không thể xác định yêu như thế nào mới tốt đẹp. Nhà thơ Xuân Diệu, là một thi sĩ nổi tiếng về tình yêu, đã viết bài Vì sao trong tập “Thơ Thơ”, sáng tác năm 1938, rằng:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu,

Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”.[83]

Ông cho rằng tình yêu là cái gì đó mờ ảo, bàng bạc trong thiên nhiên cũng như trong lòng người, nhưng không thể giải thích và xác định được.

Quả thật, những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng không tin có tình yêu. Điều này được minh chứng: trong hơn 4.000 trang khổ lớn của bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam do hàng trăm giáo sư tiến sĩ của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn và xuất bản năm 2005, người ta không tìm thấy mục từ “tình yêu” mà chỉ có “tình bạn”, “tình cảm”, “tình dục”. Các người theo hệ tư tưởng duy vật không tin có tình yêu và cho rằng tình yêu là sản phẩm tưởng tượng của người theo chủ nghĩa duy tâm. Điều nực cười là trong khi các thầy cô dạy các học sinh lớp mẫu giáo, tiểu học phải “yêu cha mẹ, yêu bạn bè, yêu tổ quốc, yêu đồng bào”, thì học sinh và sinh viên lớp lớn lại được dạy tình yêu chỉ là sản phẩm bịa đặt của thuyết duy tâm sai lạc.

Hậu quả là trong cộng đồng gồm những con người không biết yêu thương và không tin có tình yêu chân thật nơi con người, thì tất cả các mối tương quan chỉ được kết nối bằng sợi dây cơ học vật chất: tiền bạc, danh lợi, quyền lực, những rung động cảm xúc trên thân xác. Gặp trắc trở hay hết tiền bạc, hết danh lợi, hết cảm xúc thì người ta cũng hết tình. Những con người trong xã hội này không cảm nghiệm được hạnh phúc chân chính của tình yêu. Họ chỉ cảm nghiệm được niềm vui khi thoả mãn được các đòi hỏi của thể xác, chứ không biết đến những nhu cầu của tinh thần. Vì thế cộng đồng xã hội họ sống đầy dẫy những bất công, gian dối, tham lam, giết hại lẫn nhau.

Các tôn giáo khác rất ít khi nói đến tình yêu vì thường hiểu đó là tình cảm yêu đương nam nữ của con người bị bản năng sinh lý chi phối, nên xem thường và còn nhắc nhở các tu sĩ phải xa tránh hay kiêng cữ cho xứng đáng với thần linh.

Chúng tôi thử tìm định nghĩa về tình yêu trong các từ điển của Phật giáo nhưng không thấy[84]. Anh em Phật giáo cho tình yêu chỉ là vô thường, tình cờ tụ lại trong một kiếp người hay trong một ít năm sống, sau đó lại tan biến. Vì vậy mà Sư Giác Duyên nói với Thuý Kiều rằng: “Tu là cõi phúc, tình là dây oan”[85]. Tín đồ Phật giáo thường đưa tình yêu vào một trong ba, hay vào cả ba loại phiền não căn bản, quấy nhiễu thân tâm, đầu độc con người là tham-sân-si, vì tình yêu, hiểu theo nghĩa tình dục, làm cho người ta tham lam, giận dữ, ngu si và phải dùng các phương pháp đối phó như phép quán bất tinh, quán từ bi, quán nhân duyên để giải trừ[86]. Chắc hẳn còn nhiều bộ từ điển Phật giáo khác có thể đề cập đến định nghĩa tình yêu mà chúng tôi chưa có điều kiện để tham khảo.

– Những người không biết tình yêu bắt nguồn từ đâu.

Có những người tuy nhận ra tình yêu chân thật và giá trị tốt đẹp của nó, nên họ đã yêu thương, nhưng lại không đi trọn được đường tình của mình do bị lừa dối, phản bội. Có người bi quan hơn thì cho những khổ đau đó là lẽ thường tình của kiếp người vô thường. Tình yêu chỉ đem lại thứ hạnh phúc nửa vời nên cho rằng:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.[87]

Trong cộng đồng của những người tin có tình yêu nhưng lại không tìm ra cội nguồn, ta chỉ gặp thấy những loại hạnh phúc dở dang, những niềm vui không trọn vẹn. Người ta vội vàng yêu nhau, sống thử với nhau như vợ chồng để khi sống thật lại ly dị nhau vì những lý do nhỏ nhặt. Người ta có cùng một lúc rất nhiều những người tình để có thể chọn lựa ra người “bạn trăm năm”, nhưng lại không muốn gắn bó suốt đời, dù thề thốt với nhau hàng trăm lần với sự chứng giám của trời đất, núi sông.

– Những người biết rõ cội nguồn tình yêu

Một số tôn giáo độc thần như Do Tháo giáo, Kitô giáo, Hồi giáo biết rõ cội nguồn của tình yêu là Thiên Chúa, là Đức Thánh Allah, nhưng họ lại không yêu cho đúng đắn, tốt đẹp vì Thiên Chúa là tinh thần, vô hình, nên con người không biết được tình yêu của Ngài cao cả, vô biên như thế nào. Họ cần một tiêu chuẩn hay một Đấng nào đó dạy cho họ thật sự về tình yêu. Nhà thơ Công Giáo Hàn Mặc Tử đã trả lời cho Xuân Diệu qua bài Đà Lạt trăng mờ, rằng:

Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để nghe Trời giải nghĩa yêu.[88]

Kitô giáo nói rất rõ về tình yêu khác hẳn với tất cả các tôn giáo khác. Nhưng ít người tín hữu Kitô hiểu được ý nghĩa phong phú tuyệt vời và diễn tả được nó trong đời sống, nên họ vẫn chưa thuyết phục người khác theo đạo của mình. Cho đến nay, mới chỉ có 7% dân số Việt Nam theo đạo Công Giáo và khoảng 2% theo đạo Tin Lành. Số tín hữu Công Giáo trên thế giới chiếm khoảng 18 % dân số toàn cầu.

1.2. Đi tìm một định nghĩa tình yêu

1.2.1. Hiểu lầm tình yêu là tình cảm yêu đương nam nữ

Các văn sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, các triết gia, học giả, các nhà xã hội học, các nhà thần học… đều nói rất nhiều đến tình yêu, nhưng hầu hết đều hiểu là tình cảm yêu đương nam nữ. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã thôi thúc mọi người “hãy yêu nhau đi”:

“Hãy yêu nhau đi quên ngày u tối

Dù vẫn biết mai đây xa lìa thế giới

Mặt đất đã cho ta những ngày vui với

Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời.[89]

Rồi người ta phân biệt tình yêu này với tình cha, tình mẹ, tình huynh đệ, lòng ái quốc… dù mỗi người chỉ có một trái tim để yêu cha mẹ, vợ con, người tình, cũng như để yêu nghề nghiệp, yêu khoa học, yêu thiên nhiên, yêu dân tộc, yêu quê hương, yêu nhân loại…

1.2.2. Định nghĩa tình yêu

Mở cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên với sự cộng tác của các nhà ngôn ngữ học, chúng ta tìm được câu định nghĩa sau đây: “Tình yêu là tình cảm yêu mến, làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người với vật”, nghĩa thứ hai mới là “Tình cảm yêu đương giữa nam và nữ”[90]. Còn yêu là “có tình cảm dễ chịu khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó, muốn gần gũi và thường sẵn sàng vì đối tượng đó mà hết lòng”. Nghĩa thứ hai của yêu mới là “có tình cảm thắm thiết dành riêng cho một người khác giới nào đó, muốn sống chung và cùng nhau gắn bó cuộc đời”. Yêu đồng nghĩa với thương[91].

1.2.3. Từ “tình yêu” theo Kitô giáo

Tôn giáo nhắc nhiều đến tình yêu là Do Thái giáo. Người Do Thái hiểu biết và cảm nhận được tình yêu (2Sbn 2,11) của Thiên Chúa Giavê mà họ thờ kính (x. Xh 20,6) nên họ cũng phải yêu mến đồng bào (x. Lv 19,18) và cả ngoại kiều (x. Đnl 10,19) bằng tình yêu chân thành như tình yêu đối với Giavê (x. Đnl 6,5; 11,1). Các tác giả Thánh Kinh mô tả tình yêu vợ chồng (x. 1V 11,1), tình bạn (x. 1Sm 18,1.3; 20,17), tình yêu đối với lề luật Chúa (x. Tv 119) với đền thờ Giêrusalem (x. Tv 122)… bằng một từ duy nhất: yêu để dẫn mọi người đến cội nguồn tình yêu là chính Thiên Chúa.

Tuy nhiên, chỉ Kitô giáo mới là tôn giáo duy nhất xác định tình yêu là gì, phải yêu thương cụ thể như thế nào, tình yêu bắt nguồn từ đâu và dẫn con người đến đâu. Người Công Giáo đã dựa trên giáo huấn về tình yêu này để xây dựng nên nền văn hoá đặc biệt của mình trong suốt 20 thế kỷ qua, kể từ lúc Đức Giêsu Kitô rao giảng Tin Mừng về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Nền văn hoá này đã tác động mạnh mẽ đối với các dân tộc ở các nước Âu Mỹ trong nhiều thế kỷ qua. Chỉ vài thế kỷ gần đây, khi con người đặt tất cả niềm tin vào khoa học kỹ thuật, đề cao chủ nghĩa cá nhân và tư bản để hưởng thụ vật chất, người ta mới ít quan tâm đến những giá trị tinh thần, trong đó có tình yêu.

1.2.4. Lầm lẫn giữa tình yêu và tình thương

Riêng ở Việt Nam, người tín hữu Công Giáo có nguy cơ bị lầm lạc khi họ lẫn lộn “tình yêu” với “tình thương”, bắt nguồn từ việc phiên dịch thiếu chính xác các bản văn Thánh Kinh và các văn bản chính thức của Giáo Hội.

Do ảnh hưởng của xã hội và cả những người có tôn giáo đã đồng hoá tình yêu là tình dục, nên các dịch giả Công Giáo đã dùng từ “tình thương” để dịch từ Agape của tiếng Hy Lạp, từ Caritas và Amor của tiếng La Tinh hay Love của tiếng Anh. Tuy nhiên, tình thương khác với tình yêu. Tình thương, theo gốc tiếng La Tinh là Misericordia và tiếng Anh là Mercy, không thể dùng lẫn lộn với từ “tình yêu” được, dù rằng “tình thương” bắt nguồn từ tình yêu. “Tình thương” được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “tình cảm thương yêu, chia sẻ và đùm bọc một cách thắm thiết”[92] và nó mang một ý nghĩa thương xót: “cảm thấy đau đớn, xót xa trong lòng trước một cảnh ngộ không may nào đó”[93].

Trong khoảng 20 năm gần đây, Giáo Hội Công Giáo cổ vũ phong trào “Lòng Chúa Thương Xót” nên người ta càng thích dùng từ tình thương thay cho tình yêu. Có tác giả lại kết hợp cả hai và tạo nên từ “tình yêu thương” để diễn tả tình yêu mang nhiều sắc thái của Thiên Chúa cũng như của con người.

Thật ra, khi đồng hoá tình yêu là tình thương, người ta đã làm nghèo nội dung của tình yêu, vì con người có thể chia sẻ, quan tâm săn sóc người khác mà vẫn không yêu họ, như người vợ săn sóc người chồng đã phản bội mình. Đó là kiểu yêu nhau vì nghĩa chứ không phải vì tình. Hơn nữa, dùng từ như vậy có thể hiểu sai nghĩa thần học, vì khi nói “tôi thương Thiên Chúa” thì người ta lại hiểu lầm rằng Thiên Chúa đang gặp một cảnh ngộ bất hạnh nào đó đáng cho ta động lòng thương xót đối với Ngài. Tuy nhiên, Thiên Chúa có đầy đủ mọi sự, hoàn hảo và không cần đến lòng thương xót của ta![94]

Nhóm Phiên dịch Các giờ Kinh Phụng vụ có công rất lớn trong việc dịch và phổ biến bản văn Thánh Kinh của Giáo Hội Công Giáo. Với cả triệu cuốn Tân Ước, Kinh Thánh Trọn bộ, hàng chục ngàn cuốn Phụng vụ các giờ kinh, cuốn Bài đọc trong Thánh lễ, nhóm này đã đưa từ “tình thương” thay cho “tình yêu” và đã ảnh hưởng đến rất nhiều những văn bản khác của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Thí dụ: “Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy… anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,10-13). Trong Thư Chung hậu Đại hội dân Chúa năm 2010 của HĐGMVN, người ta dùng tựa đề “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”, thay vì dùng từ “tình yêu”! Chúng tôi hy vọng rằng việc dùng từ chính xác để phiên dịch Lời Chúa sẽ giúp chúng ta trình bày trung thực thánh ý của Ngài.

Chỉ tiếc rằng Từ điển Công Giáo, do HĐGMVN xuất bản năm 2016 với 2022 mục từ dày tới 1216 trang, cũng không có mục từ “tình yêu”, dù có từ “thương xót”!

1. 3. Giải thích tình yêu con người theo sinh lý học

Đối với nhiều người, tim (con tim, quả tim, trái tim) là biểu tượng của tình yêu bởi vì tim là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn. Tim bơm máu đi khắp cơ thể để nuôi sống toàn thân con người. Tình yêu cũng được coi là động lực quan trọng nhất đem lại sức sống và niềm vui cho con người.

Đối với các tôn giáo, nhất là Công Giáo, “Trái tim” là thuật ngữ chỉ toàn thể nội tâm con người: vừa là trung tâm của cảm xúc (x. 1V 8,66; 1Sm 1,8), vừa là nơi phát sinh tư tưởng (x. 1V 5,9; Hc 17,6), diễn tả ý chí hành động (x. Et 7,10) và cũng là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa (x. 1 Sm 12,24; G 32,40)[95]. Vì thế, người Công Giáo tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu hay tôn kính Trái tim Vẹn sạch Đức Mẹ Maria. Tuy nhiên, nếu muốn hiểu được các mức độ tình yêu, người ta phải phân tích hoạt động của bộ não và hệ thần kinh của con người vì khi ta biết rõ cảm xúc và suy tư của con người, ta sẽ hiểu tại sao con người lại lầm tưởng tình yêu là cảm xúc, là tình cảm, là tình dục và mới hiểu tình yêu bắt nguồn từ đâu.

Khi con người yêu một đối tượng nào đó, dù là đồ vật hay là người khác, thậm chí là yêu khoa học, yêu tổ quốc, yêu Thiên Chúa, thì họ yêu bằng cả con người của mình, nghĩa là với các giác quan, cảm xúc và nhận thức. Những yếu tố này xuất hiện trong hệ thần kinh. Hệ thần kinh gồm não, tuỷ sống và các tế bào thần kinh gọi là neuron. Hệ này cho phép chúng ta thích nghi được với hoàn cảnh chung quanh, cảm nhận được thế giới quanh mình và hài hoà với nó[96]. Hệ này tiếp nhận thông tin từ tất cả bộ phận của cơ thể và đáp lại bằng các chỉ thị đến mọi mô và cơ quan[97].

Yêu theo cảm giác

Tuỷ sống thu thập các thông tin từ thân mình và tay chân rồi chuyển chúng lên não. Các thông tin này càng đi lên cao, hướng đến các phần cao của não: chất trắng và chất xám ở vỏ não, thì càng tiến gần tới sự nhận biết có ý thức của con người. Thí dụ: Người ta thấy người mình yêu xinh đẹp, thơm tho, giọng nói êm ái, làn da mát dịu, cặp môi ngọt ngào … đó là phần cảm giác. Cảm giác là hình thức thấp nhất của nhận thức. Đó là những cảm xúc nhất thời, không được chủ thể yêu ý thức một cách rõ ràng. Cảm giác là quá trình tâm lý cho ta biết những thuộc tính riêng lẻ của sự vật đang tác động vào các giác quan của ta. Ngoài 5 giác quan chính như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, ta còn có cảm giác thăng bằng, đau đớn[98]. Các thụ thể cảm giác phát đi các tín hiệu thần kinh đi từ cơ quan cảm giác như mắt, tai, lưỡi, mũi, da qua tuỷ sống, đến phần cao nhất của não là vỏ não, để từ đó phát ra các ý nghĩ, cảm nhận, học hỏi và ra quyết định có ý thức.

Rất nhiều người đang yêu ở mức độ cảm giác này. Có những người chỉ yêu cha mẹ vì được cho ăn, yêu nghề nghiệp vì kiếm được tiền bạc, yêu người khác vì được cho quà, yêu đất nước vì đang được hưởng lợi, yêu thần linh vì nhận được ơn lành. Khi không còn những mối lợi mà họ cảm nhận được qua giác quan là họ trở thành một con người vô cảm: xa lạ với cha mẹ, người tình; thay đổi nghề nghiệp, quốc tịch, tôn giáo. Họ chỉ yêu cách thụ động để thu nhận vào cho mình theo cảm giác của cơ thể.

Yêu theo cảm xúc

Nhiều người yêu ở mức độ cảm xúc. Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người trước những sự vật hay hiện tượng có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu cá nhân. Cảm xúc thể hiện qua cử chỉ, hành vi, điệu bộ và những phản ứng về mặt sinh lý. Thí dụ: khi giận dữ người ta thường nhíu mày và trừng mắt, đôi môi mím lại; hoặc khi vui vẻ thì người ta cười tự nhiên với nếp nhăn ở đuôi mắt, gò má nâng lên, thay đổi các cơ ở vùng mặt và não tiết ra chất endorphine. Theo tiến sĩ Paul Ekman, có 7 cảm xúc cơ bản của con người thể hiện giống nhau ở mọi nền văn hoá: vui, buồn, sợ hãi, giận dữ, ngạc nhiên, ghê tởm, khinh bỉ[99]. Cha ông chúng ta cũng nói đến 7 cảm xúc chính của con người là hỷ (vui), nộ (giận), ai (buồn), cụ (sợ), ái (yêu), ố (ghét), dục (muốn). Ngoài ra còn có các cảm xúc khác như: chán, hận, nhút nhát, quá khích, yêu thích, hưng phấn, tự tin do các nhà tâm lý khám phá gần đây.

Xét về lĩnh vực sinh lý, “não cảm xúc” là một thuật ngữ thường áp dụng cho hệ viền là một nhóm các phần nằm trên đỉnh của thân não, gồm: hạnh nhân, đồi thị, vùng dưới đồi, vòm và các thể núm, các vùng hướng vào trong của vỏ não và hồi đai. Hệ viền chi phối khi có các cảm giác sâu kín và phản ứng mãnh liệt trong những lúc xúc động mạnh và lý trí khó có thể kiểm soát. Đặc biệt là vùng dưới đồi, nối não với hệ thống hormon, là trung tâm của những nỗ lực, bản năng, phản ứng cảm xúc và tình cảm. Thí dụ: khi giận, tuyến thượng thận tiết ra chất adrenalin để thúc đẩy hành động bất ngờ.

Nhiều phần của hệ viền có liên quan đến việc hình thành ký ức. Vì thế, khi có cảm xúc mạnh, người ta có ký ức mạnh ngay lúc đó và lại có cảm xúc trước đây khi ký ức này được gợi lại[100]. Điều này khiến ta hiểu vì sao những cảm xúc mạnh như ngày đầu tiên đi học, lần đầu đi xe đạp, nụ hôn đầu đời, kỷ niệm ngày cưới… khiến người ta nhớ mãi. Hoặc một người chứng kiến cha mẹ mình bị tai nạn, mỗi khi trở lại quãng đường xảy ra tai nạn, thường nhớ lại hình ảnh, có những cảm xúc như khóc ngất do không làm chủ được mình.

Người yêu theo cảm xúc có thái độ chủ động để định hướng và thích nghi các hoạt động của mình. Họ sẵn sàng dấn thân và hành động khi có cảm xúc mạnh, nhất là bảo vệ người hay vật họ yêu thích và không muốn chia sẻ cho ai. Tuy nhiên, các cảm xúc đều mang tính chủ quan, nhất thời. Đối với một số người có chỉ số xúc cảm thấp (emotional quotient), họ thường không quan tâm bảo vệ “tình yêu” của mình và dễ dàng đánh mất khi có cảm xúc mạnh với người khác, vật khác. Điều này ta gặp thấy nơi những người chồng bỏ bê vợ mình khi quan hệ với những cô gái mãi dâm biết tạo những cảm xúc mạnh cho họ.

Trong lĩnh vực tôn giáo người ta thường có những cảm xúc mạnh qua những buổi cầu nguyện đông người, những bài thánh ca vang động mạnh mẽ vào tai họ, những cuộc hành hương đông đảo…. Tuy nhiên những cảm xúc đó cần phải được nâng lên mức độ nhận thức thì mới phát triển được lòng đạo đức chân thực, lâu dài.

Yêu theo tình cảm

Mức độ cao hơn cả là yêu theo tình cảm. Tình cảm được hình thành trên cơ sở những cảm xúc của con người đối với đối tượng mình yêu, nhưng chủ thể nhận thức được nguyên nhân tạo nên những tình cảm đó đối với một đối tượng nhất định, trong một thời gian nhất định, trong mối tương quan xã hội rõ ràng giữa con người với con người hay với một đối tượng nào đó, như khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… Thí dụ: một người vợ yêu chồng vì luôn ý thức cả hai đã gắn bó với nhau, có trách nhiệm với con cái, với gia tộc và được nối kết bởi bí tích hôn nhân của tôn giáo.

Căn cứ vào đối tượng, người ta phân loại tình cảm: tình yêu đôi lứa, tình cha mẹ, tình vợ chồng, tình quê hương, tình dân tộc, tình yêu nghề nghiệp, tình yêu thiên nhiên, tình yêu thần linh. Các tình cảm này là nguồn động lực kích thích con người hành động, tìm tòi chân lý, sáng tạo nghệ thuật, điều hoà đời sống cá nhân, thúc đẩy khoa học và làm cho đời sống con người được phát triển trọn vẹn.

Bộ não con người với các phần khác nhau lưu trữ và gợi nhớ các sự kiện bao gồm đủ mọi loại thông tin, sự việc, kinh nghiệm và hoàn cảnh – từ tên người đến khuôn mặt và nơi chốn – có liên quan đến trạng thái cảm xúc của ta vào thời điểm đó, đồng thời giúp chúng ta cảm nhận thế giới bên ngoài. Tất cả các phần vỏ não như vùng Broca, Wernicke, Geschwind, thính giác, thị giác, vận động và cảm giác thân thể phối hợp với các phần dành cho trí nhớ và cảm xúc ở vùng viền đều gửi thông tin về vùng điều hành trung tâm ở trước trán để tổng hợp, điều phối và lập ra kế hoạch hành động[101]. Vì thế khi định nghĩa tình yêu là tình cảm yêu mến, làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người với vật”, chúng ta đã thấy tình yêu của con người là một tổng thể phức tạp, vừa là một tình cảm làm cho người ta gắn bó mật thiết nhưng đồng thời lại có trách nhiệm với nhau. Thiếu phần trách nhiệm này, nó chỉ còn là những cảm giác hay cảm xúc nhất thời, làm cho con người bị lệ thuộc vào vật chất, không gian và thời gian. Chỉ có con người mới có tình yêu vượt lên trên mọi loài vì con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, được chia sẻ bản tính thần linh của Ngài.

Đi tìm nguồn tình yêu

Điều khiến chúng ta kinh ngạc về bộ não của con người và đặt câu hỏi là những nhận thức về mối quan hệ với đối tượng bắt nguồn từ đâu, nhận thức về hoàn cảnh, những phân biệt giữa các tình cảm đủ loại bắt nguồn từ đâu? Những chức năng như tổng hợp, phân tích, điều phối, thích nghi đến từ nơi nào? Bởi vì nếu ta phân tích việc truyền tín hiệu thần kinh trong các neuron, chúng ta sẽ chỉ thấy đó là dạng các xung động điện rất nhỏ. Các xung động thần kinh di chuyển dọc theo các sợi trục của neuron. Xung động này tác động vào các túi bằng màng chứa các chất dẫn truyền thần kinh đến từ thân tế bào của neuron. Các chất dẫn truyền này ở dạng hoá học, sẽ vượt qua các khe nhỏ xíu ở các điểm nối giữa các neuron, gọi là khớp thần kinh, trong vòng vài phần ngàn của giây, để truyền tín hiệu sang neuron tiếp nhận[102].

Những xung động điện và các chất dẫn truyền trong bộ não của con người có thể nói là giống nhau, nhưng mức độ nhận thức về tình cảm nơi mỗi người lại rất khác nhau. Có người yêu cha mẹ vì hiểu được rằng cha mẹ sinh thành, dưỡng dục mình chứ không phải chỉ cho ăn (ở mức độ cảm giác), hay chiều chuộng theo ý thích của mình (ở mức độ cảm xúc). Nếu đi xa hơn về nhận thức, người đó yêu cha mẹ vì là hình ảnh của Thiên Chúa, vâng theo điều răn của Thiên Chúa “Hãy thảo kính cha mẹ”, dù cha mẹ họ già yếu, bệnh tật, khó tính, bất công với họ (ở mức độ tình cảm). Tất cả những nhận thức đó đều cần thiết để giúp cho con người nâng cao giá trị tình yêu của mình. Tình yêu của họ không còn bị lệ thuộc vào vật chất, vào không gian và thời gian để bước vào lĩnh vực của tinh thần. Tình yêu của họ vì thế mang tính vĩnh hằng và bất diệt!

Điều chúng tôi ghi nhận ở đây là trong bộ não của con người, chúng ta không thấy có chỗ nào chứa đựng nhận thức về trách nhiệm, tự do, hạnh phúc, tình yêu… Tất cả chỉ là những xung điện và những chất dẫn truyền thần kinh dưới dạng các phân tử hoá học. Vậy thì tư tưởng, nhận thức, tình yêu… của con người đến từ đâu và bắt nguồn từ đâu? Câu trả lời không thể tìm thấy nơi con người và khoa học hiện đại nhưng phải tìm về nguồn của mọi hiện hữu là Thiên Chúa, là Chúa Trời, là Ông Trời như nhà thơ Hàn Mặc Tử và nhiều người đang tin tưởng. Chỉ có Đấng đó mới giải nghĩa được tình yêu nơi con người và vạn vật trong vũ trụ.

2. Tình yêu thật sự và toàn diện theo Kitô giáo

Nền nhân bản Kitô đặt tình yêu là giá trị căn bản cho mọi hoạt động của con người vì tình yêu là bản chất cao cả nhất mà Chúa có thể ban cho con người thuộc giới tinh thần với ý thức và tự do[103]. Thiên Chúa vì yêu thương nên đã tạo dựng muôn loài để chia sẻ cho mọi loài thụ tạo những gì tốt đẹp của mình, trong đó tình yêu là ân huệ cao cả nhất. Vì thế không phải chỉ con người có tình yêu, mà vạn vật cũng có tình yêu. Tình yêu của chúng có khi còn trong sáng, cao cả hơn con người, vì không bị yếu tố tự do của tinh thần tác động như con người.

2.1. Tình yêu là bản chất của muôn loài

“Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16). Tình yêu là bản tính của Thiên Chúa. Không một tôn giáo nào định nghĩa thần linh của mình như thế. Bản chất của tình yêu là hướng về đối tượng ở ngoài mình để chia sẻ những gì mình có cho đối tượng đó. Vì Thiên Chúa có đầy đủ mọi sự nên tình yêu của Ngài luôn mang tính trao hiến (amor benevolentiae) cách quảng đại, vô vị lợi, chứ không mang tính chiếm hữu (amor concupiscentiae), tìm vui thoả cho mình (amor complacentiae). Ta cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa tràn ngập khắp nơi qua từng cánh hoa, ngọn cỏ, gió mát, trăng thanh như Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, vì thật sự không có gì ngẫu nhiên mà có. Chính vì Ngài yêu thương mỗi người chúng ta cũng như muôn loài, nên từng giây phút sống ta đều nhận được ân huệ sự sống, tình yêu, tri thức, niềm vui, chân thiện mỹ và tất cả những giá trị hiện hữu khác.

Khi Thiên Chúa đặt tình yêu vào bản chất của vạn vật cũng như bản tính của con người, Ngài chia sẻ tình yêu là bản tính của Ngài cho muôn loài, nhờ đó ta thấy muôn loài yêu thương nhau. Nhìn những bông hoa rất đẹp quanh vườn, chúng đang toả hương, khoe sắc cho ta mà đâu có đòi ta 1 xu nào! Tình yêu của chúng rất quảng đại, trong sáng. Nhìn vạn vật trong trời đất cũng thế, không vật chất nào trong thế giới tự nhiên đứng một mình. Ví dụ: Nước. Nếu phân tích ra, chúng là Hydro và Oxy. Chúng yêu nhau nên gắn bó với nhau thành nước. Nước ấy cho chúng ta uống, cũng chả đòi hỏi ta cái gì. Trong bữa ăn hằng ngày, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của muôn thụ tạo hy sinh sự sống cho ta vì bản chất của chúng là tình yêu. Chúng ta được mời gọi để cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa trong vạn vật và bắt chước chúng để yêu cách trong sáng và quảng đại hơn.

Tuy nhiên, con người đã cắt đứt tình yêu Thiên Chúa kéo theo muôn loài thọ tạo lâm vào cảnh hư nát và ghét bỏ nhau. Kế hoạch tổng thể của tình yêu Thiên Chúa là cứu độ vũ trụ và cứu chuộc nhân loại nhờ Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 3,16; HTXHCG, số 19; Docat, 20).

2.2. Yêu theo tình yêu của Đức Giêsu

Khi nhà thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”, nghĩa là đạt được sự sống kỳ diệu, phi thường của Thiên Chúa, Chúa Giêsu nói: “Ông hãy giữ luật”. Nhà thông luật hiểu luật đó là “yêu Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lục, hết trí khôn và yêu tha nhân như chính mình”. Luật tình yêu không phải ở trên trời hay ở biển xa nào đó, nhưng được Thiên Chúa đặt trong chính lòng con người, ngay trên môi miệng con người (x. Đnl 30,10-14, HTXHCG, số 32, 32, 160, 196) cũng như trong bản chất của vạn vật, bởi vì Thiên Chúa là tình yêu. Yêu như vậy mới cảm nghiệm được sự sống kỳ diệu của Thiên Chúa, vì Ngài yêu thương muôn loài nên chia sẻ cho tất cả tình yêu của mình và đặt tình yêu vào trong bản tính của muôn loài (x. Lc 10,25-28).

Chúa Giêsu còn gợi ý cho ta đi xa hơn. Nếu ta muốn sống đời đời, muốn chia sẻ sự sống kỳ diệu, vĩnh hằng, phi thường của Thiên Chúa thì ta hãy yêu như Người vì Người là tình yêu cụ thể của Thiên Chúa[104]. Thiên Chúa là tinh thần, nên chúng ta không biết được tình yêu của Ngài cao cả, vô biên như thế nào. Nhưng khi Thiên Chúa cho Con của Ngài trở thành người, là Đức Giêsu Kitô, thì Ngài dạy cho chúng ta bài học tình yêu rất cụ thể. “Đây là Con ta yêu dấu, hãy vâng nghe Lời Người (Mc 9,7). Đức Giêsu dạy ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12, HTXHCG, số 54, 580). Chúng ta yêu như Người thì sẽ đạt được sự sống kỳ diệu ấy.

Đức Giêsu yêu cho đến nỗi chết trên thập giá, đổ máu đào cho mọi loài thọ tạo để hoà giải chúng với Chúa Cha. Nhờ sự hoà giải của Người, mọi người mọi vật đều là anh chị em của nhau, thành chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Người[105]. Vì thế, khi chúng ta yêu thương nhau một cách trọn vẹn như Người, ta sẽ cảm nghiệm được sự sống diệu kỳ viên mãn của Thiên Chúa (x. Cl 1,15-20).

Coi nhau như anh em một nhà để yêu thương quảng đại là ý nghĩa dụ ngôn Tin Mừng (x. Lc 10, 25-37). Một người Do Thái đi từ Giêrusalem xuống Giêricô bị rơi vào tay bọn cướp, bị chúng đánh nhừ tử rồi bỏ đó. Người tư tế đi ngang qua, trông thấy nạn nhân nhưng lại tránh sang một bên, có lẽ ông nghĩ mình còn nhiều việc phải làm để phụng thờ Thiên Chúa hơn là chuyện lo cho con người. Thầy Lêvi đi ngang qua đó, cũng bỏ đi vì thầy có nhiệm vụ giúp những thầy tư tế phục vụ Chúa, lo dọn của lễ… Chỉ có người Samari đi ngang qua, thấy người Do Thái nằm đó, dù người Do Thái thù ghét người Samari, nhưng người Samari lại coi người đó là anh em mình, nên đã săn sóc, trả tiền và giúp đỡ. Chúa Giêsu nói cho thầy thông luật và chúng ta: “Hãy đi và làm như vậy thì sẽ được sống đời đời”.

Vì thế, mức độ cao nhất là yêu theo tình yêu của Đức Giêsu. Khi chúng ta hiểu Đức Giêsu là tình yêu cụ thể của Thiên Chúa và Thiên Chúa tạo dựng nên con người theo hình ảnh mình, chia sẻ, cho con người bản chất tình yêu của Thiên Chúa, thì mỗi con người, dù tin hay không tin có Thiên Chúa, đều được mời gọi để yêu như Đức Giêsu. Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã xác định: “Tình yêu là ơn gọi căn bản và thuộc bản tính của mỗi con người”[106].

Tình yêu của Đức Giêsu là chính tình yêu sáng tạo của Chúa Cha, tình yêu cứu độ của Chúa Con là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người và tình yêu thần hoá của Chúa Thánh Thần[107]. Vì thế, tình yêu của người yêu theo tình yêu này luôn mang 3 đặc điểm sáng tạo, cứu độ, thần hoá. Sáng tạo, vì luôn có những sáng kiến mới mẻ để nối kết mình với đối tượng mình yêu, đồng thời phát sinh hiệu quả mới như đứa con của sự kết hợp. Cứu độ, vì đem lại niềm vui, bình an, hạnh phúc cho đối tượng mình yêu chứ không phải là lo âu, bất an và bất hạnh như trong nhiều cuộc tình của con người. Thần hoá, vì tình yêu này luôn nâng đối tượng mình yêu lên ngang hàng với mình, tôn trọng đối tượng như một hữu thể độc lập với mình chứ không chiếm hữu, hạ thấp, làm nhục đối tượng mình yêu như Đức Giêsu đã đặt con người là bạn hữu của Người (x. Ga 15,14 ).

Tình yêu này tuy ở trong con người để họ vẫn rung động theo cảm giác, cảm xúc, cảm tình của con người, nhưng lại đưa họ mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên, để không còn bị lệ thuộc vào đối tượng, vật chất, không gian và thời gian[108] . Đó là tình yêu của Đức Giêsu Phục Sinh khi Người sống lại từ cõi chết, hiện ra với các môn đệ dù cửa nhà họ đều đóng kín, hiện ra bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào[109].

Người theo tình yêu này không đóng kín vào một đối tượng nào, nhưng mở ra cho muôn loài, muôn vật. Họ yêu từng người bằng tình yêu trọn vẹn của mình, nhưng đồng thời yêu mọi người mà không loại trừ ai, cả người tốt lẫn xấu, người lành cũng như kẻ dữ, người xinh đẹp cũng như kẻ xấu xí, người thánh thiện cũng như kẻ tội lỗi… Tình yêu của họ tồn tại mãi theo năm tháng chứ không chỉ trăm năm, và nguyên vẹn dù ở bất cứ nơi nào chứ không phải xa mặt, cách lòng! Tình yêu của họ luôn phát triển vì Thiên Chúa vĩnh hằng cho họ được hoà nhập vào tình yêu của Ngài. Họ cũng không bao giờ tuyệt vọng về tình yêu đến nỗi tự tử như Trịnh công Sơn mô tả “Một dòng sông nước cuốn một cuộc tình không may” trong bài Tình sầu của mình. Dù có bị người tình phản bội, họ vẫn chung thuỷ cho đến chết vì hiểu rằng tình yêu của mình trường tồn mãi mãi với Thiên Chúa.

Như thế, những vấn nạn về tình yêu đã được giải đáp, bởi vì tình yêu là bản tính của Thiên Chúa được ban cho con người chứ không phải là những nhịp đập tự nhiên của trái tim con người. “Chúa Cha đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Thánh Thần Tình Yêu đã nối kết Ngôi Cha, Ngôi Con lại với nhau thì cũng nối kết chúng ta lại với Thiên Chúa. Nhờ đó, ta mới có thể yêu một cách trong sáng và quảng đại như Chúa Giêsu. Có những lúc vì muốn trung thành với tình yêu, ta sẽ gặp những thiệt thòi, mất mát, nhục nhã, thậm chí phải hy sinh mạng sống. Nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu, Ngài nhìn thấu tất cả, nên hành động tình yêu nào của ta cũng được Ngài ban thưởng. Mọi hành động về tình yêu sẽ tồn tại mãi với Thiên Chúa vì Ngài chính là tình yêu. Niềm xác tín này sẽ biến các tín hữu thành những nhà các mạng thế giới như ĐGH Phanxicô đã nhắc nhở: “Một Kitô hữu, nếu không phải là nhà cách mạng trong thời đại này, thì không phải là Kitô hữu”[110].

2.3. Tình yêu trong Học thuyết Xã hội Công Giáo

Học thuyết Xã hội Công Giáo xác định ngay từ đầu: “Học thuyết này có một mối thống nhất rất sâu xa, bắt nguồn từ niềm tin vào một ơn cứu độ toàn diện và trọn vẹn, từ niềm hy vọng vào sự sung mãn của công lý và từ tình yêu sẽ làm cho mọi người trở thành anh chị em với nhau trong Đức Kitô. Đó cũng chính là dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới, một thế giới đã được Ngài yêu thương tới mức “ban tặng cả Con Một của mình” (Ga 3,16). Luật yêu thương mới mẻ này bao trùm lên cả gia đình nhân loại và là luật không có giới hạn, vì ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện được công bố rộng rãi “tới tận cùng trái đất” (Cv 1,8)[111].

“Khi khám phá ra mình được Thiên Chúa yêu thương, người ta mới hiểu được phẩm giá siêu việt của mình, biết như thế không phải để mình hài lòng với mình mà còn để đến gặp người khác qua một mạng lưới quan hệ ngày càng nhân bản hơn. Những người này khi đã được tình yêu Thiên Chúa đổi mới, có thể thay đổi các luật lệ và chất lượng của các mối quan hệ, thậm chí làm chuyển biến cả các cấu trúc xã hội, khiến cho xã hội càng ngày càng ổn định, bình an và huynh đệ hơn”[112]. “Tình yêu Kitô giáo sẽ đưa chúng ta tới chỗ tố cáo, đề nghị và dấn thân vào những dự án văn hoá và xã hội. Tình yêu này thúc đẩy sự hoạt động tích cực để tất cả những ai thành thật coi trọng ích lợi của con người đều muốn góp phần của mình”[113].

Học thuyết Xã hội Công Giáo xác định như Công đồng Vaticanô II rằng: “Con đường tình yêu trổi vượt hơn cả (1Cr 12,31) vì tình yêu là tiêu chuẩn cao nhất và phổ quát nhất của toàn bộ nền đạo đức xã hội”[114]. Chính từ cội nguồn yêu thương sâu xa này mà các giá trị như sự thật, tự do và công lý đã khai sinh và phát triển[115].

Hơn nữa, “tình yêu không phải chỉ cảm xúc nhưng còn là một nhân đức, một năng lực được thủ đắc bằng huấn luyện” (Docat, câu 16). Người tín hữu Kitô đã từng có thời nghĩ rằng tình yêu hay đức ái là ân huệ cao quý của Thiên Chúa, mình chỉ cần cầu nguyện mà không cần đào tạo hay huấn luyện cho mình cũng như cho người khác. Học thuyết Xã hội nhắc nhở Kitô hữu phải tự đào tạo mình để tình yêu của họ mỗi ngày một trong sáng, quảng đại hơn trong mọi lĩnh vực và mọi quan hệ xã hội như chúng ta đã nói đến trong nền nhân bản Kitô.

“Người Kitô hữu phải trở nên ngày càng can đảm và mạnh dạn hơn, đồng thời thêm ngay chính và yêu thương hơn” (Docat, câu 16). Thánh Phaolô đã xác định những đặc tính phải luyện tập để tình yêu thật sự là một nhân đức riêng biệt của Kitô hữu: trong bài ca đức ái (x. 1Cr 13,1-13) “Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.

Điểm đặc biệt cuối cùng của Học thuyết Xã hội Công Giáo là đã đưa tình yêu vào lĩnh vực xã hội và chính trị như một đòi hỏi thiết yếu và tất nhiên cho mọi hoạt động của Kitô hữu. Do đó phát sinh một từ mới: “bác ái chính trị và xã hội”. Tình yêu được người tín hữu diễn tả trong những lĩnh vực xã hội và chính trị không còn là hành vi mang tính cá nhân, thực hiện trong quan hệ riêng tư, để đáp ứng nhu cầu nào đó “tại đây và lúc này” như việc bác ái từ thiện họ vẫn thường làm. Nhưng tình yêu đó phải đưa họ đi xa hơn, trải rộng hơn trên mọi quan hệ của con người trong cộng đồng chính trị và xã hội, đòi hỏi họ phải tổ chức và xây dựng các cơ cấu mới để thay đổi các trung gian xã hội hay xoá bỏ những nhân tố đã gây ra những cảnh túng thiếu, bất an trong xã hội. Thí dụ: họ phải liên kết để thiết lập những công ty, xí nghiệp mới sản xuất thuốc tốt hơn, không tàn phá môi trường, tham gia các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi người lao động, người nhập cư…[116].

3. Nền văn minh tình yêu

3.1. Giải thích từ ngữ

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều nền văn minh. Văn minh là trình độ đạt được trong sự phát triển văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của loài người qua từng giai đoạn lịch sử[117]. Văn minh là điểm sáng của vẻ đẹp, của giá trị, là đỉnh cao của văn hoá.

Người ta thường chia thành văn minh cổ đại và văn minh hiện đại. Văn minh cổ đại tiêu biểu là sự phát triển rực rỡ của các quốc gia cổ đại như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã hoặc Maya, Inca ở châu Mỹ, Hồ Sát ở châu Phi. Văn minh hiện đại được chia thành văn minh công nghiệp và văn minh tin học. Tuy nhiên, tất cả các nền văn minh ấy còn lại gì ngoài những đống gạch đá đổ nát ở khắp nơi và những tàn tích ghê rợn sau khi hai quả bom hạt nhân nổ ở Hiroshima và Nagasaki năm 1945 ở Nhật Bản!

Lịch sử loài người đã chứng minh rằng con người càng đặt nền văn minh dựa trên giá trị vật chất, gắn bó nhiều với sức mạnh của thiên nhiên, của chính con người hay của khoa học kỹ thuật, thì con người càng sống trong sự bất an và lo sợ vì những cuộc chiến tranh huỷ diệt tương tàn[118]. Vì thế, Giáo Hội Công Giáo cổ vũ cho một nền văn minh mới: văn minh tình yêu.

Cụm từ văn minh tình yêu được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói đến đầu tiên[119], rồi được Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc đến nhiều lần[120]. Kể từ đó, từ này càng ngày càng được phổ biến trong các văn kiện của Giáo Hội Công Giáo[121]. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng đã công bố đường hướng xây dựng nền văn minh này qua Đại hội dân Chúa năm 2010 trong Thư chung “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình yêu và nền văn hoá sự sống”.

3.2. Văn minh tình yêu

Khi cổ vũ cho nền văn minh lấy tình yêu là nền tảng để xây dựng mọi mối tương quan của con người, là tiêu chuẩn để phán đoán mọi hành động nhân linh và là cùng đích mọi hoạt động của con người hướng đến, Giáo Hội Công Giáo muốn xây dựng một nền nhân bản toàn diện và liên đới cho con người[122].

Tình yêu này không phải chỉ là những cảm giác, cảm xúc, cảm tình nơi con người dù mãnh liệt nhưng vẫn bị giới hạn bởi vật chất, không gian và thời gian. Nhưng đây là một thực thể siêu việt, vĩnh hằng, vô biên, vô tận, là chính tình yêu của Thiên Chúa. “Tình yêu siêu việt của Thiên Chúa là khởi đầu cho ‘một nền văn minh tình yêu’ theo lời dạy của Giáo hoàng Phaolô VI và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, tất cả mọi người đều có thể góp phần kiến tạo nền văn minh ấy”[123]. “Người Công Giáo có sứ mệnh biến đổi xã hội thành một nền văn minh tình yêu”[124].

Khi con người coi tình yêu là nguồn lực cho mọi hoạt động của mình, là phương tiện cần thiết dùng để hoàn thành các hành động ấy và là mục đích tối hậu cho mọi hoạt động của con người và xã hội nơi trần thế, chắc chắn nền văn minh tình yêu sẽ làm cho mỗi người hay cộng đồng xã hội ngày càng liên kết với nhau, cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống ở trần thế, nếm hưởng trước niềm vui và hạnh phúc của thiên đường.

Chúng ta biết rằng nền văn minh tình yêu này cần nhiều thời gian để thiết lập cho mọi con người, nhất là thuyết phục cả dân tộc đang chọn lựa thái độ duy vật, vô thần đón nhận tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi chúng ta hiểu tình yêu là bản chất tự nhiên đã được Thiên Chúa ban cho muôn loài, thì việc xây dựng nền văn minh tình yêu không còn phải là chuyện ảo tưởng hay mơ mộng hão huyền, mà là một thực tại có sẵn, chỉ cần con người chúng ta nhận thức và phát huy nó ra trong đời sống.

Khi ta hiểu được Đức Giêsu là tình yêu cụ thể, hữu hình của Thiên Chúa, thì việc xây dựng nền văn minh này chỉ còn là việc kêu gọi mọi người tin tưởng vào và gắn bó với Đức Giêsu. Chính Người sẽ chuyển thông cho ta tình yêu Thiên Chúa nhờ Thánh Thần Tình yêu Người ban cho mỗi người chúng ta khi ta thở được Thần Khí từ trời.

Tuy nhiên chúng ta cũng nên xác định thêm rằng, Thánh Thần Tình yêu này phải đi kèm với sự thật là chính Đức Giêsu Kitô, như ĐGH Bênêđictô XVI đã lưu ý trong Thông điệp Caritas in Veritate (Bác ái trong sự thật) của ngài. Thánh Thần Tình yêu sẽ giúp cho những ai xây dựng nền văn minh này hiểu được sự thật về vạn vật, về con người và về Thiên Chúa để nền văn minh này thật sự tốt đẹp và bền vững.

Lời kết

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Con người không thể sống thiếu tình yêu. Nếu tình yêu không được tỏ bày cho con người, nếu con người không tìm gặp tình yêu, nếu con người không thể cảm nghiệm và tiếp nhận tình yêu, nếu con người không tham dự mật thiết vào tình yêu, thì con người vẫn là một hữu thể không hiểu nổi chính mình”[125].

Chỉ khi nào nền văn minh tình yêu ngự trị thì nhân loại mới có thể hưởng một nền hoà bình chân chính và vững bền[126].

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ tình yêu là gì?

2. Bạn thử tự kiểm xem tình yêu của mình đang ở mức độ nào: cảm giác, cảm xúc, cảm tình thắm thiết và có trách nhiệm?

3. Tình yêu chân thật có những đặc tính nào?

4. Tình yêu trọn vẹn đưa con người tới đâu?

Bài 5: Những con người tự do

Lời mở

Tự do cho con người, cho dân tộc là từ được nhắc đến thường xuyên và có lẽ nhiều hơn cả trong mọi cuộc đấu tranh của con người, kể từ khi nổ ra phong trào giải phóng dân tộc từ đầu thế kỷ XX, các phong trào đòi nhân quyền với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1948, cho tới phong trào kết hôn đồng tính, và gần đây là kết hôn giữa những người chuyển giới.

Tất cả những xung đột, tranh cãi, thậm chí chiến tranh giữa con người với nhau bắt nguồn từ những quan niệm khác nhau về tự do. Chúng mời gọi ta đi tìm tự do thật sự của con cái Thiên Chúa, thứ tự do được tác động bởi Thần Khí Đức Giêsu Kitô sẽ đưa con người tự do mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên.

1. Những quan niệm khác nhau về tự do

1.1. Giải thích từ ngữ

Tự do, là từ được nhắc đến ở 93 số trong tổng 583 số của cuốn Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo. Trong cuốn Docat, nó được bàn đến 40 lần trong số 328 câu hỏi của toàn cuốn sách. Trong 16 văn kiện của Công đồng Vaticanô II, tự do được nhắc đến khá nhiều lần trong 10 văn kiện, đặc biệt trong Hiến chế Gaudium et Spes và tuyên ngôn Dignitatis Humanae về tự do tôn giáo. Những số thống kê này gợi ý cho ta về tầm quan trọng của tự do như là một giá trị căn bản của cá nhân con người cũng như của cộng đồng xã hội.

Theo định nghĩa: tự do là phạm trù triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình, trên cơ sở nhận thức được quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội (nghĩa I) – trạng thái của một dân tộc, một xã hội và các thành viên không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong các hoạt động xã hội chính trị (nghĩa II) – trạng thái không bị giam cầm hoặc không bị làm nô lệ (nghĩa III) – trạng thái không bị cấm đoán, hạn chế vô lý trong việc làm nào đó (nghĩa IV)[127].

Như thế, những quan niệm khác nhau về tự do tiến hoá theo từng giai đoạn lịch sử khi con người nhận thức được vị thế của mình trong thiên nhiên hay trong xã hội cũng như những trói buộc mình trong các mối tương quan với thần linh, với người khác, với vạn vật và với cả chính mình.

1.2. Con người tự do trước những ràng buộc trong xã hội

Sau khi con người được giải thoát khỏi sức mạnh của thiên nhiên và vạn vật nhờ đầu óc biết suy tư của mình, con người tập trung vào việc tổ chức xã hội mình sống cho tốt đẹp, văn minh. Nhiều thể chế chính quyền được thiết lập để lo cho dân giàu, nước mạnh. Hầu hết các dân tộc theo chính thể quân chủ và tin tưởng vua là “con trời”, là thiên tử, thay trời hành đạo, có toàn quyền sinh sát trong tay. Khi quyền lực tập trung vào một con người hay vào một dòng họ dù tài giỏi nhưng kém đạo đức, quyền lực đó trở thành một phương tiện áp chế những người khác, những dòng họ, những dân tộc yếu thế hơn, tạo nên những đế quốc và những quốc gia bị nô thuộc. Rất nhiều người không còn được sống xứng đáng với phẩm giá con người. Nhiều quyền lợi của họ bị tước đoạt. Vì thế, phát sinh phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Từ đầu thế kỷ XX, các đế quốc cũ như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan bắt đầu kiệt quệ và suy yếu vì hai cuộc thế chiến Thứ nhất (1914-1918) và Thứ hai (1939-1945), đành phải từ bỏ các thuộc địa của mình trước phong trào đấu tranh đòi quyền độc lập dân tộc của các nước ở châu Á, châu Phi: Ai Cập năm 1918, Trung Quốc năm 1919, Mông Cổ năm 1921, Thổ Nhĩ Kỳ năm 1922. Sau năm 1945, phong trào này còn mạnh mẽ hơn nữa, nhất là sau chiến thắng ở Điện Biên Phủ của Việt Nam năm 1954. Hệ thống các nước thuộc địa tan rã nhanh chóng ở các nước Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hơn nữa, phong trào này còn nhận được sự hỗ trợ về mặt tư tưởng và cả nhân sự của Đệ tam Quốc tế Cộng sản, đứng đầu là Liên Xô. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng là một nhân tố tích cực của phong trào đòi các quyền tự do cơ bản của con người qua việc thông qua Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ngày 10/12/1948 ở Paris, Pháp.

Từ cuối thế kỷ XX đến thế kỷ XXI, đa số các nước trên thế giới đã giành được độc lập. Tuy nhiên, tình trạng lệ thuộc của các nước nghèo vào các nước giàu cũng như các nước giàu tiếp tục can thiệp vào chính trị của nước nghèo vẫn còn phổ biến. Thế giới trước đây bị phân cực từ hai phe Tư bản và Cộng sản, cổ vũ cho hai loại tự do cá nhân và tập thể, thì hiện nay phân thành đa cực, xoay quanh các nước mạnh trên thế giới theo nền kinh tế thị trường như Hoa Kỳ, châu Âu, Nga, Trung Quốc. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và chủ nghĩa thực dân mới của các cường quốc áp đặt lên các nước châu Phi và một số nước châu Á đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Vì thế, HTXHCG muốn trình bày về ý nghĩa tự do trong lĩnh vực kinh tế và sự tự do của các dân tộc[128], thị trường và tự do (số 350-352), tự do cá nhân và hành động của chính quyền (số 354), toàn cầu hoá và tự do thương mại (số 366).

1.3. Con người tự do muốn cởi trói chính mình

Khi con người càng khám phá thấy mình có nhiều tài năng tinh thần như ý chí, lý trí, tình cảm thì càng muốn được tự do để thoả mãn mọi nhu cầu của con người. Trong hàng chục thế kỷ, con người bỏ mặc chính mình, quy hướng mọi sự về thần linh, về Thiên Chúa vì nghĩ rằng chỉ có thần linh mới tồn tại mãi mãi và có giá trị. Nhưng rồi con người khám phá ra rằng đó là những suy tư triết học bị ảnh hưởng các tôn giáo làm cho sai lầm, quá trừu tượng, tách biệt với những trải nghiệm cụ thể thường ngày của con người. Con người muốn được tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc của tôn giáo nhiều khi làm tha hoá con người. Con người không còn chỉ là một chủ thể biết suy tư với đủ loại tiêu chuẩn theo hướng duy lý, duy tâm, mà là một con người cụ thể, một cá nhân với các đặc điểm riêng tư, muốn hành động, cảm nghiệm và sống như một người tự do, không bị hạn chế vô lý trong bất cứ chọn lựa nào của mình.

Đây là hướng đi chung của một nhóm triết gia xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gọi là Chủ nghĩa Hiện sinh. Những khuôn mặt tiêu biểu là Soren Kierkegaard, Jean Paul Sartre, Fyodor Dostoevsky, Friedrick Nietzche, Gabriel Marcel. Các nhà tư tưởng này nhìn nhận giá trị hàng đầu của con người là “tự do” và tiêu chuẩn đạo đức hàng đầu là “sự chân thực”. J.P. Sartre đã minh chứng cho hành động tự do chọn lựa và lòng chân thực khi từ chối giải thưởng Nobel Văn chương năm 1964 do Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển trao cho[129].

Trong góc nhìn của các nhà hiện sinh, tình trạng mất định hướng, bối rối, kinh sợ khi đối mặt với một thế giới có vẻ như vô nghĩa, phi lý là tình trạng của rất nhiều người trẻ cũng như già trong một thế giới nặng về hưởng thụ vật chất và hỗn độn với đủ loại thông tin như hiện nay. Chủ nghĩa hiện sinh trở nên phổ biến vào những năm sau thế chiến II, vì con người thật sự khủng hoảng khi thấy bao nhiêu triệu nhà cửa, ruộng vườn, cơ nghiệp xây dựng cả đời người bị bom đạn tàn phá trong chớp mắt, hàng chục triệu người chết vì những viên đạn vô tình sau cả một đời cố gắng học hành, làm việc. Tất cả những cố gắng của con người và loài người như thế đều phi lý. Vậy thì hãy hưởng thụ hạnh phúc, hãy sống trọn vẹn lúc này (hiện sinh) bằng một sự chọn lựa không bị ràng buộc bởi bất cứ một luật lệ nào.

J. P. Sartre đã diễn tả cái phi lý của cuộc sống qua tác phẩm tiêu biểu La nausée (Nausea) (Buồn nôn) xuất bản năm 1938[130]. Trong đó, qua nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là Roquentin, ông nhìn sự hiện hữu mang tính lầm lì, ngẫu nhiên, xám xịt, không thể hiểu được. Nó khiến cho người ta buồn nôn giống như những chiếc rễ cây trồi lên mặt đất trong công viên, làm cho người ta liên tưởng đến các bãi phân chó khô. Chủ nghĩa này càng phổ biến hơn khi gợi ý cho các nhà văn, nghệ thuật, kịch nghệ, tâm lý học, phân tâm học và cả những thần học có những sáng tác nói lên thực trạng bi quan của đời sống con người.

Những khám phá mới về tâm lý học, phân tâm học gần đây lại càng thúc đẩy con người đưa tự do của mình đến mức độ hầu như tuyệt đối “xem tự do như là quyền làm bất cứ điều gì mình thích, kể cả điều xấu”[131], thoả mãn mọi bản năng dục vọng đã bị tội lỗi làm tổn thương, thậm chí làm chủ cả sự sống và cái chết của mình, như là một hành động hiện sinh cuối cùng trong sự phi lý của cuộc đời.

Vì chỉ thấy sự phi lý nên mọi mối tương quan của con người không còn tốt đẹp và cởi mở trong đời sống xã hội. Con người sử dụng vạn vật hoàn toàn theo quyết định tự do của mình một cách vô độ và nguy hiểm cho sự sống, dẫn đến những thói nghiện ngập. Con người chối bỏ mối tương quan với Thiên Chúa vì cho rằng Thiên Chúa ngăn cản tự do của con người, khiến cho con người không thoải mái để làm theo ý mình.

Riêng ở Việt Nam, rất nhiều người vẫn nhớ thuộc lòng câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[132]. Câu này khi nằm trong bối cảnh của phong trào đấu tranh đòi tự do cho dân tộc thì đúng, nhưng khi áp dụng trong đời sống thường ngày của từng cá nhân để đòi hỏi quyền tự do muốn làm tất cả theo ý mình thì nhiều khi lại không đúng. Hơn nữa, còn những giá trị khác quý hơn độc lập, tự do như: sự sống, tình yêu, hạnh phúc, sự thật…

Chính vì những quan niệm khác nhau về tự do đối với cá nhân và tập thể mà Học thuyết Xã hội Công Giáo mời gọi người tín hữu tìm hiểu tự do thật sự của con cái Thiên Chúa là gì và bao gồm những nội dung nào.

2. Tự do thật sự của con cái Thiên Chúa

Công đồng Vaticanô II đã nhìn nhận rằng: “Tự do là điều con người đương thời đánh giá cao và hăm hở theo đuổi, và họ có lý khi làm như thế. Tuy nhiên, lắm lúc họ cổ vũ cho tự do một cách lệch lạc, xem tự do như là quyền làm bất cứ điều gì mình thích, kể cả điều xấu. Nhưng tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người. Thật vậy, Thiên Chúa đã muốn để cho con người tự định liệu (x. Hc 15,14), tự quyết định đi tìm Đấng Tạo Hoá và nhờ kết hợp với Ngài cách tự do, con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc” (x. GS, số 17).

2.1. Tự do thật sự

Ngay trong lời mở đầu của cuốn Tóm lược HTXHCG, Giáo Hội Công Giáo xác định: “Vào lúc khai nguyên Thiên niên kỷ III, Giáo Hội không mệt mỏi để công bố Tin Mừng mang ơn cứu độ và sự tự do đích thực đến cho các thực tại trần thế” (HTXHCG, số 2).

Trước hết, vì con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài, nên con người có tự do. “Giống với Thiên Chúa”, có nghĩa là bản chất và hiện hữu của con người có liên quan đến Thiên Chúa một cách hết sức sâu xa[133]. Tự do con người là thứ tự do được ban tặng[134], chứ không phải là thứ tự do tuyệt đối của Thiên Chúa. Không có sự xung đột nào giữa Thiên Chúa và con người, trái lại, càng gắn kết với Thiên Chúa, tự do con người càng phát triển, muôn vật xuất phát từ Thiên Chúa và tiến về Thiên Chúa (HTXHCG, số 46).

Con người hiện diện với tất cả các thụ tạo khác, được hưởng dùng chúng, nhưng việc chế ngự thế giới vật chất đòi hỏi họ phải thi hành trách nhiệm, chứ không được tự do khai thác cách tuỳ tiện và ích kỷ theo lòng tham của mình[135].

Con người cũng quan hệ với chính mình và có khả năng suy tư về chính mình nhờ “tâm hồn”. Tâm hồn biểu lộ những khả năng riêng của con người, đó là những đặc ân con người nhận được khi được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa: lý trí, sự phân biệt tốt xấu và ý muốn tự do[136].

Con người có tương quan liên vị với mọi người khác vì họ cũng là hình ảnh Thiên Chúa giống như mình[137].

“Tự do của con người đã bị tội lỗi làm tổn thương”[138]. Tội chính là việc con người lạm dụng tự do của mình (HTXHCG, số 116). Tội là hành vi tự do của một cá nhân chứ không phải là của tập thể hay cộng đồng đúng nghĩa, nhưng có những hậu quả trên xã hội (HTXHCG, số 117).

Tóm lại, ta có thể định nghĩa: Tự do là khả năng bắt nguồn từ lý trí và ý chí để hành động hay không hành động, làm việc này hoặc việc nọ, nhờ đó, con người có thể thực hiện những hành vi có ý thức và trách nhiệm”[139].

2.2. “Tự do, vinh quang của con cái Thiên Chúa” (Rm 8,21)

Cuốn Tóm lược HTXHCG trình bày tự do như giá trị căn bản và là một trong những dấu hiệu cao quý nhất cho biết con người giống Thiên Chúa: “Thế nên, chính phẩm giá con người buộc con người phải hành động phù hợp với sự lựa chọn có hiểu biết và tự do, nghĩa là được thúc đẩy và hướng dẫn một cách rất riêng tư từ bên trong, chứ không do sự thôi thúc của bản năng mù quáng hay bởi áp lực hoàn toàn bên ngoài. Nhờ được tự do thật sự, con người mới tổ chức và hướng dẫn đời sống cá nhân và xã hội của mình theo sáng kiến riêng, đồng thời dám chịu trách nhiệm về việc đó. Có như thế xã hội con người mới thật sự phát triển theo đường hướng tốt đẹp”[140].

Tự do con người không phải là vô hạn. Tự do này, dù rằng rất lớn, “vì con người được phép ăn bất cứ cây nào trong vườn Eden, nhưng vẫn phải dừng lại trước cây biết lành biết dữ (x. St 2,16-17) vì con người được kêu gọi để biết chấp nhận luật luân lý do Thiên Chúa ban ra[141].

“Muốn thực hành đúng đắn sự tự do cá nhân, con người cần có những điều kiện đặc biệt liên quan đến trật tự kinh tế, xã hội, pháp lý, chính trị và văn hoá là những điều kiện rất hay bị coi thường hoặc vi phạm”. Cha ông ta vẫn thường nói: “Đói ăn vụng, túng làm càn!”. Nhiều người do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, mức độ hiểu biết chỉ bằng trẻ học các lớp tiểu học, nên không có tự do khi hành động và chịu trách nhiệm về hành động của họ (HTXHCG, số 137).

Tự do phải liên kết với sự thật và luật tự nhiên[142]. “Sự thật liên quan đến điều tốt và điều xấu được nhìn nhận một cách thực tiễn và cụ thể, dựa vào phán đoán của lương tâm. Sự thật này đưa con người tới chỗ sẵn sàng chịu trách nhiệm về điều tốt đã làm và điều xấu đã phạm”. “Khi hành xử tự do là chúng ta gián tiếp liên hệ đến một luật luân lý tự nhiên, có tính phổ quát, đi trước và liên kết hết mọi quyền lợi và nghĩa vụ của con người”. Trong tình trạng có nhiều nền văn hoá khác nhau như hiện nay, luật tự nhiên chính là điểm liên kết mọi dân tộc, thống nhất các nguyên tắc chung. Dù khi áp dụng các luật ấy, chúng ta cần phải thích nghi cho phù hợp với các điều kiện sống khác nhau theo nơi chốn, thời gian và hoàn cảnh”[143].

3. Mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên

3.1. Tự do tôn giáo như một điều kiện để giải phóng con người

Học thuyết Xã hội Công Giáo đòi quyền tự do tôn giáo cho con người không phải vì những thiệt thòi, bách hại mà tín hữu Kitô đang phải chịu ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng vì tự do của con người chỉ thật sự và trọn vẹn khi con người được tự do mở ra với Đấng Siêu Việt và hướng tới vô biên[144]. Trong nhiều nước theo hệ tư tưởng duy vật biện chứng, người ta đánh giá rất thấp tôn giáo. Còn trong hầu hết các nước theo Hồi giáo, người ta có ác cảm, thậm chí thù hận với Kitô giáo. Kinh nghiệm của nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và của chính nước Nga, sau khi khối Liên Xô tan rã, đã mời gọi con người nhận ra tôn giáo như một hình thức tối thượng của văn hoá, thúc đẩy và giáo dục con người đi tìm chân thiện mỹ và giữ cho nền đạo đức xã hội được ổn định và phát triển[145].

3.2. Các cuộc giải phóng của Thiên Chúa trong lịch sử

Mời gọi con người gắn bó với Thiên Chúa qua tôn giáo, nhất là Kitô giáo mà Giáo Hội Công Giáo đang loan báo, không phải là muốn con người làm nô lệ cho thần linh, nhưng là dẫn con người đến một cuộc giải phóng trọn vẹn để con người được tự do hoàn toàn giống như Thiên Chúa.

Trong dòng lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã cứu dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ người Ai Cập và dẫn họ vào Đất Hứa[146], ký kết với họ một giao ước là tuân giữ Mười Điều Răn (số 22). Đây không phải là một hình thức nô lệ mới, nhưng Mười Điều Răn là luật luân lý tự nhiên để người Do Thái không bị nô lệ bởi tội lỗi, trung thành với một Thiên Chúa chân thật duy nhất và có những mối quan hệ tốt đẹp với nhau (số 23). Lịch sử dân tộc Do Thái loan báo một Đấng Thiên Sai mới sẽ đưa dân tộc và toàn thể nhân loại vào miền đất mới với giao ước mới mang tính quyết định.

Đó là Đức Giêsu Kitô, người Nazareth, Đấng hoàn thành kế hoạch giải phóng trọn vẹn con người và vũ trụ mà Thiên Chúa đã lập vì tình yêu vô biên và đầy trách nhiệm của Ngài. Đức Giêsu chính là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Người công bố kế hoạch giải phóng đó như sau:

“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù sáng mắt, giải phóng những ai bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19; x. Is 61,1-2; HTXHCG, số 28).

Đức Giêsu đã giải phóng con người khỏi mọi sự lệ thuộc bằng các hành động cụ thể nhờ kết hợp với Chúa Cha[147].

– Giải thoát khỏi sức mạnh của tự nhiên và vật chất: đi trên mặt biển, hoá bánh, rượu, cá ra nhiều…

– Giải thoát khỏi mọi áp chế của con người: vạch trần những âm mưu con người, vượt qua các luật lệ lỗi thời của tôn giáo.

– Giải thoát khỏi sức mạnh của chính mình: vượt qua các cơn cám dỗ, nỗi sợ cái chết, sống lại.

Như thế, sự cứu độ của Kitô giáo là một sự giải phóng dành cho hết mọi người và cho con người toàn diện[148].

3.3. Tự do mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên

HTXHCG giới thiệu “Đức Maria là hình ảnh trọn vẹn nhất của một nhân loại và vũ trụ được tự do và được giải thoát”[149], vì Mẹ Maria đã mở lòng cho Chúa Thánh Thần, Đấng như “ngọn gió muốn thổi đâu thì thổi, người ta nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng như vậy” (Ga 3,8). Tự do vừa là một ân huệ của Chúa Thánh Thần và phải được thực hiện theo sự hướng dẫn của lương tâm, tình yêu và của Chúa Thánh Thần “bởi vì Thần Khí của Chúa ở đâu, thì ở đấy có tự do” (2Cr 3,17).

Nhờ tác động của Thần Khí Thiên Chúa, “con người mở ra với Đấng Vô Biên cũng như với mọi loài thụ tạo, mở ra với sự hiện hữu sung mãn, với chân trời vô biên của hiện hữu”[150]. Đây là điểm mới mẻ và đặc biệt của HTXHCG mà trước đây ít văn kiện nào của Giáo Hội nói đến. “Nhờ trí khôn và ý chí, con người có thể nâng mình lên trên mọi thụ tạo và cả chính mình, độc lập với thụ tạo, tự do trong quan hệ với thụ tạo, vươn tới sự thật toàn diện và sự thiện tuyệt đối.

Nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, con người vượt qua sự phi lý của thuyết hiện sinh để nhận ra sự thật giải phóng con người, đưa con người vào trong không gian mầu nhiệm của tình yêu. Con người sẽ khám phá ra cái rễ cây đen đủi làm cho người ta ghê tởm kia là một thực tại chứ không phải là bãi phân chó tưởng tượng. Chúng đang cắm sâu vào lòng đất hút chất bổ để thành dòng nhựa cho lá tạo khí cho con người, cho hoa toả hương thơm, cho cây kết trái. Con người tự do không phải là bị kết án mà là được ban tặng để sống trong kế hoạch nhiệm mầu của tình yêu Thiên Chúa.

Con người bước ra khỏi chính mình để bước vào một quan hệ đối thoại và hoà nhập với Thiên Chúa, Đấng Siêu Việt, với các thiên thần, với các người đã khuất gồm các thần thánh và cả những người trong tình trạng luyện ngục trong khi vẫn cẩn thận đề phòng những cám dỗ của quỷ dữ và các tà ma nguy hiểm[151].

Đây sẽ là lời giải thích cho một số thắc mắc của con người về tình trạng sống của con người sau khi chết, đồng thời cho ta hiểu tự do của con cái Thiên Chúa có thể vươn cao và vươn xa tới đâu. Đây không phải là những điều mê tín, dị đoan nhưng chỉ diễn tả sự giải phóng toàn diện của Đấng Phục Sinh là Đức Giêsu đã đem lại những gì cho tự do của con người.

Lời kết

Trong suốt dòng lịch sử nhân loại, con người đã, đang và sẽ còn mong ước tự do thật sự, tự do mở ra cho những gì cao cả và đạt được chúng. Đức Giêsu đã thực hiện điều này cho mình và cho tất cả những ai tin vào Người. Người nói: “Nếu Người Con có giải phóng anh em thì anh em mới thật sự là những người tự do” (Ga 8,36). Bạn đã cảm nhận được tự do thật sự của Người chưa?

Câu hỏi

1. Bạn quan niệm tự do là gì? (tự do cho cá nhân và cho dân tộc).

2. Bạn có thấy điều gì phi lý không? Bạn có tìm cách giải trừ điều phi lý nào trong đời sống của mình?

3. Tự do thật sự là thứ tự do nào? Có những hạn chế nào?

5. Đức Giêsu đã mang lại cho bạn thứ tự do nào? Bạn đã cảm nhận được nó chưa?

6. Bạn có thể làm gì để có thể chia sẻ tự do thật sự của Chúa Giêsu cho người khác?

Bài 6: Giá trị của công bằng

Lời mở

Ý niệm về công bằng xuất hiện muộn màng trong lịch sử con người. Cho đến hôm nay, nhiều dân tộc vẫn chưa được hưởng sự công bằng. Do bản năng sinh tồn, nhiều loài động vật phải giết nhau, ăn thịt nhau để sống. Mạnh được yếu thua là lẽ sống còn của mọi loài. Câu chuyện chia phần của vua sư tử cho ta thấy công lý của kẻ mạnh. Người ta đối xử bất công với nhau trong mọi lĩnh vực: đối với con người cũng như vạn vật và đối với chính Thiên Chúa! Nhưng nhiều khi người ta lại tưởng rằng mình đang giữ được công bằng. Hậu quả là con người không cảm nhận được bình an và các dân tôc chưa được hưởng hoà bình vì “công lý và hoà bình luôn đi chung với nhau”. Chính vì thế “công lý” hay “công bằng” là giá trị cần được chúng ta tìm hiểu và thể hiện trong đời sống.

1. Công bằng trong các lĩnh vực và mọi mối tương quan

1.1. Giải thích từ ngữ

Từ Justitia theo nghĩa Latinh, (Anh ngữ: Justice), được dịch là “công lý”, “công bằng”, “công chính”.

Từ điển Công Giáo Việt Nam, trong bản in năm 2019, dùng từ “công bình” (từ cũ) thay cho “công bằng”, “công chính”, không dùng từ “công lý” (Bản in năm 2016 lại dùng từ ‘công lý” thay cho “công bình”. Công bằng là việc mỗi người tôn trọng quyền lợi của mình và của tha nhân theo quy định của pháp luật hoặc của quy tắc xã hội. Công chính: không thiên vị, ngay thẳng (x. tr 170-171).

Từ điển Tiếng Việt 2013 dùng từ “công lý”: lẽ phù hợp với đạo lý và ích lợi chung của xã hội; “công bằng”: theo đúng lẽ phải, không thiên vị; “công chính”: ngành chuyên môn về quản lý và xây dựng các công trình công cộng như đường xá, cầu cống…. (x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt 2013, NXB Đà Nẵng, tr. 282). Nhưng ta đừng hiểu Thánh Giuse là Đấng Công chính theo nghĩa này!

Từ điển Bách khoa Việt Nam nói nhiều đến công bằng: công bằng xã hội, công bằng phân phối. Đó là khái niệm đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản chất và quyền con người.

– Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo dùng từ “công bằng” trong 131/583 số. Docat dùng từ này trong 66/328 câu. Điều đó chứng tỏ đây là một giá trị nền tảng trong đời sống con người.

– Ý kiến hiện nay: ta nên phân biệt từ: “công bằng”: theo đúng lẽ phải, không thiên vị (justitia, aequitas) – công lý( justitia): lẽ phù hợp với đạo lý và lợi ích chung của xã hội.

1.2. Công lý, công bằng trong lịch sử và đời sống

Dù con người biết suy tư xuất hiện cách đây khoảng 200.000 năm, ý niệm về công bằng cũng mới chỉ được xã hội biết đến một vài ngàn năm trước công nguyên, khi con người nhận ra giá trị cao quý của mình so với vạn vật.

Người Hy Lạp và sau đó là người Roma đã dùng sức mạnh để chiếm đóng và bắt các dân tộc khác phải phục quyền. Họ xây dựng được ý niệm công bằng và công lý với bộ luật dân sự, nhưng chúng chỉ được áp dụng cho dân tộc cai trị chứ không cho những dân tộc bị đô hộ.

Người Do Thái là một dân tộc đặc biệt nhất, khi họ ấn định Mười điều răn như luật công bằng trong mọi lĩnh vực (x. Đnl 5, 1-21; Xh 20,1-17 ), luật “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân” (Đnl 19,20), “không được áp bức người cùng khổ, mồ côi, goá bụa” “không được xét xử bất công, thiên vị giữa người giàu và người nghèo, giữa người Do Thái và người ngoại bang”… như luật công bằng xã hội cho dân tộc mình.

Nhìn vào dòng lịch sử dân tộc Việt Nam, giá trị công bằng ít khi thấy thể hiện trong đời sống. Trong hơn 10 thế kỷ sống dưới ách nô lệ của người Trung Quốc (111 TCN-938) , người Việt bị bóc lột nhiều khi đến tận xương tuỷ, nên không được hưởng sự công bằng trong mọi lĩnh vực: buôn bán sản xuất thì chịu sưu cao, thuế nặng; học hành, làm việc thì bị phân biệt đối xử giữa người cai trị và kẻ bị trị, nơi toà án xét xử thì chịu bao nỗi bất công vì không có công bằng pháp lý. Do đó, người Việt có tâm lý phản kháng, chống đối.

Tâm thức coi nhẹ giá trị công bằng đã chuyển hoá thành một bản sắc của người Việt ngay cả khi sống trong thời quân chủ độc lập (938-1945) vì nạn cường hào ác bá, quan lại tham nhũng, vua chúa độc tài, chuyên chế, xung đột với nhau khiến cho “công lý hầu như chỉ nằm trong tay của kẻ mạnh”. Người Việt dễ ăn cắp của công vì nghĩ rằng của công cũng là do tay mình làm ra nên chúng thuộc về mình. Họ thường trốn thuế vì coi thuế là công cụ bóc lột của chính quyền. Họ ra vẻ chăm chỉ làm việc trước mặt người chủ, nhưng khi chủ vừa quay lưng đi là ngồi chơi hay làm việc riêng của mình, đi làm trễ về sớm vì không quan tâm đến công bằng theo đồng lương đã nhận… Đó chỉ là thái độ phản kháng chống lại kẻ mạnh bất công với mình, nhưng họ lại không nghĩ rằng mình cũng đang bất công với người khác.

Kể từ năm 1945 đến nay, tâm thức coi nhẹ công bằng, xem thường công lý này đạt tới đỉnh điểm khi người ta hô hào, cổ vũ cho hệ tư tưởng vô thần, chết là hết, phá đổ niềm tin ngàn đời của dân tộc: “Trời cao có mắt”, “Thiên bất dung gian”. Khi chối bỏ Trời như Đấng Tối Cao, nhìn thấu tất cả và xét xử muôn loài theo lẽ công bằng, nhiều người Việt không ngại ngùng sử dụng mọi thủ đoạn để buôn gian bán dối, dù biết rằng những hàng độc hại, giả tạo đó đang giết chết đồng bào mình. Nạn tham nhũng trong chính quyền lan rộng đến mọi cấp bậc khiến cho nền luân lý đảo điên, suy đồi. Người Việt chúng ta cần phải học lại ý nghĩa của công bằng nếu muốn cho dân tộc được trường tồn và hoà nhập với cộng đồng thế giới.

1.3. Công bằng trong các lĩnh vực và mọi mối tương quan theo Học thuyết Xã hội Công Giáo

Chúng ta đã biết rằng con người trải rộng sinh hoạt của mình trong mọi lĩnh vực và mọi mối tương quan nên giá trị công bằng cũng phải trải rộng như thế.

Trong các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật…mỗi cá nhân, từng chính quyền hay tổ chức xã hội đều phải giữ và làm đúng những điều đã quy định trong luật pháp, trong hợp đồng đã được ký kết để bảo đảm công lý và công bằng cho mọi người dân và các thành phần của xã hội. Vì thế, người ta phân biệt công bằng giao hoán, phân phối, pháp lý, xã hội, kính tế, tham gia…

Trong các mối tương quan với Thiên Chúa, với con người, với vạn vật và với chính mình, Học thuyết xã hội Công Giáo đã định nghĩa “công bằng là có ước muốn kiên định và vững chắc trả lại những gì mình mắc nợ với Chúa và tha nhân” (x. HTXHCG, số 201, GLHTCG, số 1807).

Công bằng đối với Thiên Chúa là trả cho Ngài sự tôn kính trọn vẹn và biết ơn: đó là đức thờ phượng (số 17, 23, 63, 66, 67) vì Ngài không mắc nợ ai cả trong khi tất cả những gì ta có đều do Ngài ban tặng cho ta. Đức Giêsu cũng xác nhận: “Của Caesar trả về Caesar, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21).

Như thế, “Phải yêu Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn” (x. Mt 22,37) cũng chỉ là luật công bằng trong mối tương quan với Chúa. Còn “Phải yêu người thân cận như chính mình” (x. Mt 22,39) cũng chỉ là luật công bằng trong mối tuơng quan với tha nhân vì người khác là anh chị em của ta trong đại gia đình Thiên Chúa.

Trong tương quan với con người, ta phải giữ công bằng giữa các cá nhân với nhau (số 462, 474); giữa các quốc gia (số 453, 497; Docat, câu 185-207). giữa chính quyền và công dân (số 527, 565). Những nông sản, hải sản không an toàn vì những hoá chất độc hại, những viên thuốc chữa bệnh không đủ liếu lượng hay giả tạo như những viên thuốc chữa ung thư giả của Công ty VN Pharma… là những vi phạm về công bằng trong phạm vi cá nhân. Những chiến tranh thương mại giữa các nước vì dầu hoả, vì đất hiếm, vì những tài nguyên thiên nhiên… cũng vi phạm công bằng trong phạm vi quốc gia. Những cuộc bầu cử gian lận, những cuộc đấu thầu không công khai cho những dự án lớn… cũng vi phạm công bằng giữa chính quyền và công dân.

Trong tương quan với vạn vật, chúng ta cũng phải giữ công bằng để không khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, như tránh đánh bắt cá trong mùa đẻ trứng hay dùng lưới quyét bắt mọi thứ hải sản lớn nhỏ. Trong tương quan với chính mình, ta phải giữ công bằng để không làm việc đến kiệt sức, dành thời giờ nghỉ ngơi, ăn uống bồi dưỡng để phục hồi sức khoẻ.

1.4. Phân biệt vài dạng công bằng

+ Công bằng giao hoán: quy định sự phân phối hàng hoá khắp thị trường trên thế giới. Nó điều tiết việc trao đổi của cải và dịch vụ theo quy tắc tương xứng về giá trị giữa các cá nhân hay nhóm (số 201, 203; Docat, câu 107).

+ Công bằng phân phối: quy định việc cộng đồng phải thực hiện cho mỗi thành viên của cộng đồng phần xứng hợp với sự đóng góp và nhu cầu của họ (số 201; Docat, câu 206).

+ Công bằng pháp lý: quy định những bổn phận của mỗi thành viên phải đóng góp cho cộng đồng phần thích hợp của mình (thuế) (số 396; Docat, câu 109).

+ Công bằng xã hội: bao gồm các lĩnh vực liên quan tới xã hội, chính trị, kinh tế: phân phối của cải, trả lương lao động… (số 81, 82, 99, 167, 171, 201, 203, 340, 449; GLHTCG, số 1928-1942; Docat, câu 30, 40, 43, 65, 142). Sự chênh lệch giàu nghèo đòi hỏi phải tổ chức lại theo những chuẩn mực về công bằng xã hội (số 167, 171). Món nợ trả theo lẽ công lý xã hội cho người nghèo (số 184) và chính quyền phải can thiệp để thiết lập lại công lý (số 187).

+ Công bằng kinh tế: quy định những hoạt động kinh tế cần phải tôn trọng phẩm giá con người và sự thịnh vượng của toàn xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, một số điều kiện như bệnh hoạn, tật nguyền, nỗi đau khổ, không thể tính theo công lý kinh tế, nhưng được hỗ trợ riêng. Sự phát triển trong công lý đòi nhiều hơn sự tăng trưởng kinh tế: tôn trọng nền văn hoá, quyền sở hữu cá nhân và doanh nghiệp, tôn trọng thị trường tự do khi nó phục vụ toàn thể cộng đồng (số 332; Docat, câu 157-183).

Hầu như mại nước trên thế giới đang tham gia và quan tâm tới các loại Hiệp định Thương mại Tự do (FTA: Free Trade Agrements). Hiện có khoảng hơn 200 hiệp định có hiệu lực. Nổi tiếng là các hiệp định với liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (PTPP). Trong các hiệp định này, các thành viên quan tâm tới sự công bằng và bình đẳng để tất cả các bên cùng có lợi.

Tuy nhiên, các thành viên cũng không được làm thiệt thòi cho những nước ở ngoài hiệp định. Lý do là “ngay trong lĩnh vực kinh tế và xã hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và thịnh vượng của toàn thể xã hội cần phải được tôn trọng và thăng tiến. Vì con người là nguồn gốc, trung tâm và mục đích cuối cùng của tất cả đời sống kinh tế và xã hội” (x. CĐ.Vat II, GS, số 63; Docat, câu 158).

+ Công bằng tham gia: quy định các cá nhân phải tham gia vào đời sống của cộng đồng như quyền bỏ phiếu bầu cử, tham gia vào sinh hoạt của mọi thứ cộng đồng như giáo xứ, đảng phái chính trị: tất cả mọi người đều có quyền tham gia, không được loại trừ ai (Docat, câu 100-101).

2. Can đảm dấn thân hành động cho công bằng xã hội

“Tin Mừng dứt khoát dẫn người ta đến chỗ phải dấn thân cho tình yêu, công lý, tự do và hoà bình. Khi Đức Giêsu tuyên bố Nước Trời đã đến, Người không chỉ chữa lành và cứu mạng một số cá nhân, mà hơn thế nữa, Người thiết lập một hình thức mới của cộng đồng – một vương quốc của hoà bình và công lý” (TLHTXHCG, số 63, 260; Docat, câu 28).

“Bắt chước Đức Giêsu, mỗi tín hữu tiếp tục công trình cứu độ của Người, nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần: để trả lại công bằng cho người nghèo, giải thoát người bị áp bức, an ủi người phiền muộn, tích cực đi tìm một trật tự xã hội mới, trong đó có những giải pháp thích đáng để giải quyết sự nghèo nàn về vật chất” (x. HTXHCG, số 325).

Tín hữu phải biết hợp tác với mọi người để bảo vệ công bằng (số 448) trong mọi lĩnh vực như giáo dục (số 332), truyền thông (số 562), kinh tế (số 564), chính trị (565).

Vấn đề không phải là đi tìm những công thức mới, kế hoạch mới, nhưng Giáo Hội giới thiệu “Đức Giêsu Kitô như là tâm điểm cho mọi hoạt động xã hội của chúng ta để Người được nhận biết, yêu thương, bắt chước” (HTXHCG, số 577).

3. Tình yêu hoàn thiện những công trình của công bằng

“Chỉ có tình yêu mới có khả năng thay đổi tận gốc những mối quan hệ con người đang có với nhau. Đây chính là viễn cảnh giúp mọi người thiện chí thấy được những chân trời công lý rộng mở, và con người phát triển trong sự thật và sự thiện hảo” (HTXHCG, số 4).

“Tự một mình, có công bằng thôi chưa đủ. Thật vậy, công bằng có thể phản bội chính mình, trừ khi nó biết mở ra cho một sức mạnh sâu xa hơn, là bác ái”). Học thuyết xã hội của Giáo Hội đặt giá trị của công bằng song song với giá trị liên đới, coi đó là con đường đặc biệt dẫn tới hoà bình (HTXHCG, số 325).

Tình yêu vừa giả thiết có công bằng, vừa vượt lên trên công bằng. “Công bằng phải được hoàn tất trong bác ái”. Nếu công bằng “tự nó thích hợp cho chúng ta dựa vào mà phân xử giữa con người với nhau, mỗi khi đụng chạm đến việc phân phối các thiện ích khách quan sao cho công bằng, thì tình yêu và chỉ có tình yêu (bao gồm cả tình yêu nhân hậu mà Chúa Giêsu quen gọi là lòng thương xót) mới có khả năng khôi phục con người trở lại với chính mình (HTXHCG, số 206, 582, 583; ĐTC Gioan Phaolô II, TĐ Ngày Thế giới Hoà bình năm 2004, số 10).

Kết luận

“Lý lẽ của quà tặng không loại trừ công bằng nhưng vì Thiên Chúa là tình yêu, nên sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, nếu muốn thật sự là nhân bản, cần phải dành chỗ cho nguyên tắc cho không như một biểu hiện của tình huynh đệ” (Docat, tr.300; ĐGH Bênêđictô XVI, TĐ. Caritas in Veritate, số 34).

Câu hỏi

1. Con người ngày nay đang quan tâm nhất tới loại công bằng nào?

2. Khi người chủ trả lương không công bằng cho người làm công cho mình, người làm công sẽ hành động thế nào để đòi được công bằng cho mình?

3. Bạn có bao giờ áp dụng nguyên tắc cho không và lý lẽ quà tặng trong đời sống xã hội của bạn? Bạn áp dụng như thế nào?

4. Bạn nghĩ sao về những “tác quyền” đang được bảo vệ kỹ lưỡng và rất cao giá trong một số lĩnh vực như công ty tin học, các nhà xuất bản, các cơ quan truyền thông…?

5. Bạn nghĩ sao về tác quyền của những nhà xuất bản Công Giáo ở nước ta khi đòi phải trả phí khá cao cho những bản dịch Thánh Kinh, các bản văn Phụng vụ, các sách tu đức, văn học Công Giáo khiến cho người tín hữu Công Giáo ít có khả năng tiếp cận với các loại sách Công Giáo…?

6. Tại sao không có một hệ thống phân phối văn hoá Công Giáo qua các giáo phận, giáo xứ, dòng tu để bớt trung gian và hạ giá sách xuống? Tại sao ít người Công Giáo tặng sách theo kểu “ấn tống” như các anh em Phật giáo, Tin Lành để phổ biến văn hoá Công Giáo mà chỉ tập trung cho việc xây cất những cơ sở vật chất?

Bài 7 : Vươn tới sự sống dồi dào và sung mãn

Lời mở

“Sự sống, đời sống, những điều kiện sống” là những từ được Học thuyết Xã hội Công Giáo nhắc tới 271 lần trong 583 số của cuốn Tóm lược và là từ thứ ba được dùng nhiều nhất sau từ con người (639 lần) và Thiên Chúa (325 lần). Tất cả 16 văn kiện của Công đồng Vaticanô II đều nhắc đến từ này hàng trăm lần để cho chúng ta thấy trọng tâm của Học thuyết Xã hội cũng như Giáo huấn Giáo Hội là giúp cho con người sống dồi dào, bình an và hạnh phúc như Đức Giêsu đã xác định: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. Tôi chính là mục tử nhân lành” (Ga 10,10-11).

Tuy nhiên, có nhiều người dù đang sống, mà không biết sống là gì và sống để làm gì? Họ sống đau khổ, tủi nhục, thấp hèn, sống mà không bằng chết, khiến nhà ái quốc Phan Bội Châu (1867-1940) phải nhắn nhủ: “Sống mà như thế đừng nên sống. Sống tủi làm chi đứng chật trời!”. Thật ra, ai cũng muốn sống hạnh phúc, cao thượng và phát huy những phẩm chất đặc biệt của con người, nhưng làm sao để sống được như thế mới là điều đáng chúng ta quan tâm.

1. Những thách đố và xung đột trong đời sống con người và xã hội hiện nay

1.1. Sống là gì?

Dù sự sống đã có mặt trên trái đất này cách đây một tỉ năm, khởi đầu từ những đơn bào, đa bào, đến thực vật, động vật và con người biết suy tư với hộp sọ phát triển có thể tích 1200-2000cm3, nhiều người vẫn chưa hiểu sống là gì[152]. Người ta thường nghĩ theo giả thuyết tiến hoá của Darwin (1809-1882): sự sống ngẫu nhiên mà có chứ không bắt nguồn đâu cả, dù khoa học luôn quả quyết có hậu quả thì phải có nguyên nhân!

Tìm trong bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam (TĐBKVN), bộ từ điển có giá trị nhất hiện nay, chúng ta không tìm được định nghĩa của từ “sống”[153]. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “sống là tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh sản, lớn lên và chết”[154]. Những lời giải thích này chỉ mô tả một số chức năng chung của các vật thể sống chứ không định nghĩa được sự sống.

Thật ra, sự sống là một cái gì hiển nhiên, không cần minh chứng vì nó đang ở trong ta, trong muôn loài sống động quanh ta. Nó lạ lùng, quý báu, thiêng liêng nhưng lại có vẻ mong manh, tạm thời, phi lý và dễ dàng biến mất nếu người ta không tìm về được nguồn của sự sống. Vì thế, sự sống là một mầu nhiệm cần khám phá không ngừng[155].

1.2. Những thách đố và xung đột trong đời sống

Chính vì không biết sống là gì nên người ta có những thái độ sống rất khác nhau. Có người thấy sự sống có vẻ như rất mong manh, tạm thời và phi lý. Chỉ cần một cơn gió nóng thổi qua, bông hoa xinh đẹp kia cũng héo tàn. Chỉ cần một hành động như thải nước độc ra đại dương của Nhà máy Formosa ở Hà Tĩnh năm 2016, hàng triệu tôm cá bị giết chết. Chỉ cần một vài thay đổi trong cơ thể, con người trẻ trung, tài giỏi, xinh đẹp kia cũng biến mất sau một cơn nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não. Đó là mặt tối của sự sống nên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tự hỏi: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi?”[156].

Vì không nhận ra được những giá trị tích cực của sự sống, nên người ta hững hờ với nó, chẳng lo cho mình, chẳng giúp cho đời. Họ phung phí những năm tháng sống để thoả mãn các đòi hỏi của bản năng và dục vọng trong những cuộc vui thâu đêm. Họ tàn phá sự sống của mình bằng đủ thứ nghiện ngập và của người bằng những hành động ác đức như tham nhũng, bất công; buôn bán hàng độc hại; nói lời bất hoà, chia rẽ; bạo hành, gây chiến, phá thai… Họ nghĩ rằng chẳng ai nhìn thấy những tội ác xúc phạm đến sự sống của mình. Nhưng thật ra sự sống nào cũng mang tính vĩnh hằng, nên bất cứ hành động nào, dù tốt hay xấu, cũng đều ghi lại những dấu ấn trong sáng hay bẩn thỉu của nó trên bản chất của con người, khiến họ phải tẩy xoá sạch mọi vết bẩn nếu muốn hạnh phúc trọn vẹn trong cõi vĩnh hằng.

Trái lại, không ít người nhận thức được sự sống lạ lùng, quý báu, thiêng liêng. Dù chỉ là một ngọn cỏ, một con bướm, nhưng cấu trúc kỳ diệu của hàng tỉ tế bào chuyển động không ngừng trong chúng đã làm kinh ngạc bao nhà bác học. Dù chỉ cần thêm một vài giây phút sống, nhưng người ta vẫn sẵn sàng đánh đổi mọi thứ cho người thân được sống, để nghe được lời tha thứ yêu thương, xem được nụ cười mãn nguyện của người thân. Một nụ cười trong sáng kéo dài chỉ một vài giây, nhưng cũng có sức lan toả từ người này sang người khác và tồn tại lâu dài trong suốt dòng lịch sử con người. Một câu nói yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi. Vì thế, ta được mời gọi sống đẹp từng giây phút trong đời!

Sự sống thiêng liêng vì nó được nối kết với giá trị tinh thần mà không máy móc khoa học kỹ thuật nào có thể cân đo đong đếm được. Một nụ hôn đầu đời khiến người ta nhớ mãi về tình yêu. Một dấu bước chân của Neil Amstrong đặt lên mặt trăng ngày 20/7/1969 ghi nhớ mãi sự tiến bộ của loài người trong việc chinh phục không gian. Một nụ cười rạng rỡ ngày cưới làm cho lòng người chứa chan hạnh phúc. Tình yêu, tiến bộ, hạnh phúc là những thứ thuộc về tinh thần, không lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian, nên chúng tồn tại mãi mãi với sự sống. Đó là tính cách thiêng liêng, vĩnh hằng của sự sống mà nhiều khi ta không biết đến hay chẳng quan tâm.

HTXHCG khai triển giáo huấn đã được CĐ. Vat. II trình bày về những thách đố và xung đột trong đời sống con người hiện nay, đặc biệt trong Hiến chế Gaudium et Spes (số 4-11).

Ba thách đố lớn đặt ra cho con người hôm nay: trước hết, đó là sự thật toàn diện về con người: con người là gì, có thể làm được những gì và phải như thế nào. Tiếp theo: trước những tiến bộ và hiểu biết, con người hiện nay có nhiều cách suy nghĩ khác nhau, lựa chọn cách sống khác nhau về văn hoá, tôn giáo, xã hội, vậy làm sao hiểu được và hoà hợp được những khác biệt đó. Thách đố thứ ba là việc toàn cầu hoá: mọi dân tộc đang chịu ảnh hưởng lẫn nhau và đang muốn phát triển trọn vẹn, không phải chỉ về lĩnh vực kinh tế, vậy nhân loại sẽ phát triển theo hướng nào để đạt tới sự thăng hoa toàn diện, thay vì xung đột, chia rẽ dẫn đến sự tận diệt loài người[157].

2. Đường hướng giải quyết theo HTXHCG

2.1. Xét về lĩnh vực sự sống

Có thể nói muôn loài muôn vật đều liên kết và hiệp thông với nhau như các thành phần trong một thân thể nhiệm mầu.

Từng giây phút sống là ta nhận được khí Oxy từ những cây xanh toả ra, là ta ăn bát cơm, miếng thịt, cọng rau rút ra từ lòng đất nước. Vật chất cũng như nhiều loài thực vật, động vật trở thành máu xương của ta. Rồi khí Carbonic và cặn bã ta thải ra, qua sự chuyển hoá của vũ trụ, lại trở thành xương thịt cho muôn loài sống động quanh ta. Trong đời sống vài chục năm, ta thở hàng triệu lít Oxy và uống hàng trăm ngàn lít nước. Tất cả đều chuyển hoá và hoà trộn vào muôn vật muôn loài.

Vì thế, chúng ta đều là anh chị em ruột thịt của nhau xét về phương diện khoa học, chưa cần nói đến khía cạnh tôn giáo tâm linh. Nếu phân tích các gen trong nhiễm sắc thể, ta là con của ông bà này hay ông bà kia để đối xử với nhau theo huyết thống. Nhưng phân tích sâu xa hơn theo khía cạnh sự sống, ta là anh em ruột của mọi người và muôn loài trong vũ trụ này.

Vì thế, ta phải cảm thấy tự hào và hạnh phúc vì trong thân thể mỗi người đang có những nguyên tử, phân tử Carbon, Hydro, Oxy, Nitơ, Sắt, Đồng, Chì, Kẽm… đã từng ở trong thân thể của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, nên chúng ta là anh chị em ruột của nhau về mặt tâm linh. Đó cũng là ý nghĩa cần hiểu khi Giáo Hội Công Giáo luôn dùng từ anh chị em ruột để nói về những người thân của Chúa Giêsu, trong đó có chúng ta[158], để chào nhau trong thánh lễ.

Hơn nữa, nếu ta không hiểu sự sống con người là gì, ta cũng không thể nào biết khát vọng sống của mình có thể vươn cao và bay xa đến đâu.

2.2. Đường hướng sự sống

Ngay trong số đầu tiên của cuốn LTHTXHCG, Giáo Hội đã xác định Đấng có thể giải quyết mọi thách đố và xung đột trong đời sống là “Đức Giêsu Kitô, vì Người là Vị Cứu Tinh duy nhất và cũng là mục tiêu duy nhất của lịch sử. Người chính là đường, là sự thật và là sự sống (Ga 11,6). Chính Người đã phải trả “một giá đắt” (1Cr 6,20) bằng cái chết và sự sống lại của mình để đem đến cho mọi người sự sống mới: đó là ơn cứu độ”.

Sự cứu độ ấy đang thâm nhập vào thế giới này qua các thực tại của kinh tế và lao động, công nghệ và truyền thông, xã hội và chính trị, cộng đồng quốc tế và các mối quan hệ giữa các nền văn hoá và giữa các dân tộc. “Đức Giêsu đến để mang ơn cứu độ toàn diện, một sự cứu độ bao trùm lên mỗi con người và toàn thể nhân loại, đồng thời mở ra một triển vọng rất kỳ diệu, là mọi người được nhận làm con Thiên Chúa”[159].

HTXHCG đã nhờ Đức Giêsu Kitô giải đáp cho con người những vấn đề mà các nền văn hoá, văn minh đã phải đối mặt về nguồn gốc của con người và vũ trụ, về mầu nhiệm hiện hữu, về đau khổ, sự dữ và sự chết, về tương lai của con người[160]. Đồng thời cũng giới thiệu cho con người con đường hướng tới sự sung mãn cho cuộc sống mà con người đang mơ ước để mời gọi con người dấn thân[161].

Chính các môn đệ của Đức Giêsu trong Giáo Hội Công Giáo cũng cùng với mọi người dấn thân vào con đường đi tìm sự thật giải phóng và sự sống thần hoá. Họ đã và đang làm chứng rằng “Thiên Chúa đã tặng ban Con Một của Ngài là Đức Giêsu để giải thoát con người khỏi tội lỗi và chỉ cho mọi người con đường mình phải đi và đích điểm mình phải phấn đấu đạt tới”[162].

Khi gắn bó mật thiết với Đức Giêsu Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua, người môn đệ Đức Giêsu chết đi cho con người cũ của mình cùng với những khuynh hướng xấu, để trở thành thụ tạo mới, được ân sủng tăng sức để có thể “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). Vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ai ai cũng được mời gọi hưởng chung một định mệnh duy nhất – một định mệnh thần thánh – nên chúng ta phải tin rằng Thánh Thần sẽ ban cho mọi người khả năng trở thành những người tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, bằng cách nào chỉ có Chúa biết mà thôi[163].

Sự biến đổi nội tâm con người làm cho chúng ta dần dần trở nên giống Đức Kitô, chính là điều kiện tiên quyết cần thiết để các mối quan hệ của ta đối với người khác được biến đổi thật sự. Việc biến đổi này sẽ thúc đẩy ta đổi mới những khả năng tâm linh, đời sống luân lý của mình, đồng thời tìm ra những phương dược thích hợp để sửa chữa các tổ chức và điều kiện sống có nguy cơ dẫn đến tội lỗi và sự dữ, phù hợp với những chuẩn mực của công lý, sự thật, bình an và tình yêu[164].

“Người môn đệ của Đức Giêsu sẽ kính trọng và yêu thương mọi người, thật sự chịu trách nhiệm về mọi người, dù họ suy nghĩ và hành động khác với chúng ta về các vấn đề xã hội, chính trị và tôn giáo. Chúng ta có thể thực hiện được điều này nhờ ơn Chúa ban, để vượt qua mọi thứ dối trá và bạo động, với một tinh thần luôn mới mẻ và sẵn sàng, trong một mạng lưới quan hệ trung thực và đúng đắn với anh chị em đồng loại của mình”[165].

Trong mối quan hệ với vũ trụ được tạo dựng, người môn đệ Đức Giêsu có khả năng và bổn phận yêu thương mọi loài, tiếp nhận chúng từ Thiên Chúa, ngắm nhìn và tôn trọng chúng, sử dụng và thụ hưởng chúng trong tinh thần nghèo khó và tự do. Bằng cách đó, con người thật sự làm chủ thế giới như thể không có gì hết; nhưng lại có tất cả: “Mọi sự là của anh em, nhưng anh em thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa” (HTXHCG, số 44; 1Cr 3,22-23).

Đức Giêsu là con Thiên Chúa làm người, trong Người và nhờ Người, thế giới và con người đạt tới được sự thật đích thực và trọn vẹn của mình: đó là được chia sẻ đời sống làm con cùng với Đức Kitô, nhờ cuộc nhập thể và nhờ quà tặng của Thánh Thần trong mầu nhiệm Vượt Qua (HTXHCG, số 45).

Cuộc sống lại của Chúa Giêsu không phải giống như cuộc hồi sinh của con gái ông Giairô (x. Mc 5,22-43), con trai bà goá thành Naim (x. Lc 7,11-17), Ladarô (x. Ga 11,1-41), Euticô (x. Cv 20,9-12), Tabitha (x. Cv 9,36-41). Chúa Giêsu không phải chỉ trở lại cuộc sống bình thường trong không gian và thời gian với các điều kiện vật chất như mọi người mà Người sống một cách thức mới trong chiều hướng của Thiên Chúa hằng sống.

Chúa Giêsu sống lại là Người giới thiệu cho con người chúng ta một sự sống mới, một sự hiện hữu mới để chúng ta thông phần vào sự sống kỳ diệu của Thiên Chúa, một Thiên Chúa ở khắp mọi nơi và hiện diện trong mọi thời. Do đó, dù cửa nhà các môn đệ đóng kín, Chúa Giêsu vẫn hiện ra đứng giữa mọi người. Người ăn uống với họ để họ thấy vật chất được thâu nhận và biến đổi trong đời sống mới này. Người cho các ông xem tay và cạnh sườn bị đâm thủng của Người và yêu cầu Tôma kiểm chứng để thấy Người chính là con người trước đây đã bị đóng đinh, bị chết nay sống lại.

Đó cũng là sự sống mới mẻ khởi đầu từ một cuộc sáng tạo mới: Chúa Giêsu thổi hơi trên các môn đệ và ban Thánh Thần của Người cho họ. Trong cuộc tạo dựng đầu tiên, Chúa dựng nên con người từ bùn đất, khi Chúa thổi hơi vào thì trở thành con người sống động. Bây giờ, Ngôi Lời Thiên Chúa là Chúa Giêsu sống lại cũng thổi hơi trên các môn đệ để tạo dựng nên những con người mới, những con người được chia sẻ sự sống vĩnh hằng, kỳ diệu của Đấng Phục Sinh nhờ Thần Khí của Người. Thánh Phaolô sẽ khai triển nhiều về đề tài này trong các thư của ngài khi xác tín Đức Giêsu là một Ađam mới ngay trong cái chết của Người khi “Người gục đầu xuống và trao ban Thần Khí” (Ga 19,30).

3. Sống đẹp và yêu đến cùng như Đức Giêsu Kitô

3.1. Sự sống tinh thần

Con người chỉ được nâng lên một bậc sống mới nhờ “tinh thần” khi con người biết vượt qua chính mình, vượt qua vật chất, không gian và thời gian để đưa những suy tư và cảm xúc tự nhiên của mình vào một tầng cao mới, một thế giới mới: thế giới của tinh thần với các giá trị phi thường, siêu việt.

Nhờ khả năng biết suy tư, con người nhận biết có một sự sống mới mà mình có thể tham dự: sự sống tinh thần. Sự sống này bao gồm những giá trị tích cực mà con người có thể cảm nhận được ngay trong đời sống tạm bợ, nhất thời, phi lý của mình: đó là giá trị của tình yêu, tự do, niềm vui, hạnh phúc, hoà bình, cái đúng, cái tốt, cái đẹp… Con người muốn sống mãi, trẻ mãi, đẹp mãi, tốt mãi, vui sướng trọn vẹn, hạnh phúc sung mãn, tự do hoàn toàn, hoàn thiện vô biên. Khát vọng này đưa con người vượt ra ngoài vũ trụ vật chất, đang bị lệ thuộc vào thời gian và không gian ba chiều, để bước vào thế giới linh thiêng chỉ dành cho loài có tinh thần. Đó cũng là khát vọng trở thành thần linh, kết hợp với Thiên Chúa mà tôn giáo gọi là “được giải thoát”, “cứu độ”, được “vào thiên đàng”, “vào Niết Bàn”, …

Trong suốt dòng lịch sử, con người đã thể hiện khát vọng kéo dài sự sống bằng cách tìm ăn các củ nhân sâm ngàn năm, tạo ra các mỹ phẩm để làm cho mình đẹp hơn, trẻ hơn, thay đổi gen để kéo dài tuổi thọ… Thất vọng về các giải pháp vật chất, con người tìm đến tôn giáo vì hy vọng tìm ra các giải pháp tinh thần thoả mãn được khát vọng của mình. Quả thật, một số người đã tiếp xúc được với thần linh, đã tham dự vào đời sống tinh thần và chứng minh cho những người khác thực tại của đời sống này. Vì thế, hầu hết 7 tỉ con người đang sống trên trái đất đang theo một tôn giáo nào đó. Đây chỉ là một dấu hiệu nhắc nhở ta quan tâm đến sự sống tinh thần.

Như thế, tôn giáo không phải là thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng như người Cộng sản lên án, cũng chẳng phải là thứ thuốc mê làm tha hoá con người như người Hiện sinh Vô thần đã nêu ra. Tôn giáo là một trong những phương tiện đưa con người vào đời sống tinh thần, khi cổ vũ nền văn hoá sự sống, mà chỉ con người mới có thể xây dựng để vũ trụ đạt tới cùng đích của nó trên con đường tiến hoá. Vì thế phải trân trọng tôn giáo vì đó là hình thái cao nhất của nền văn hoá sự sống khi cổ vũ một sự sống tinh thần hoàn hảo và vô biên. Tôn giáo sẽ giúp con người được tự do hoàn toàn và phát triển trọn vẹn khả năng tinh thần của mình. Lúc đó ta mới thật sự là người có thể xác và tinh thần, được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng là Cội Nguồn Sự Sống, với tinh thần luôn mở ra cho siêu việt và hướng tới vô biên[166].

3.2. Sự sống thần hoá của Đức Giêsu

Đức Giêsu không dài lời giải thích về sự sống bằng những ý niệm trừu tượng, nhưng Người dạy ta tôn trọng và bảo vệ sự sống của muôn loài quanh ta vì tất cả đều là con cái của Thiên Chúa hằng sống.

Người mời gọi ta hãy nhìn xem vạn vật như hoa huệ ngoài đồng, những chú chim sẻ ríu rít quanh ta để nhận ra quyền năng và tình yêu của Cha Trên Trời đối với tất cả (x. Mt 6,26-32). Người yêu cầu ta thu nhặt từng mẩu bánh nhỏ, dù phép lạ Người làm cho mọi người no nê, để tiết kiệm, dành dụm cho những bữa sau (x. Ga 6,12).

Người quý trọng sự sống thể lý của con người nên đã chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền (x. Mc 1,32-33; 3,10-12; 6,55-56; Mt 8,16; Lc 4,40…). Người cổ vũ sự sống tâm lý khi nhắc nhở con người giữ tinh thần cho trong sáng, quảng đại vì không phải những đồ ăn đưa vào bụng con người làm cho họ ra nhơ uế, nhưng những gì là tham lam, ghen tuông, giận dữ, dối trá… từ lòng con người xuất ra mới làm cho họ bẩn thỉu, nhuốc nhơ (x. Mt 14,10-20; Mc 7,14-23). Người đề cao sự sống tâm linh khi nhắc nhở con người “không phải chỉ sống bằng cơm bánh mà còn sống bằng những lời từ miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4). Người chia sẻ sự sống của Thiên Chúa cho tất cả những ai tin vào Người (x. Ga 1,4; 3,16; 3,36; 5,24.26; 6,47; 10,10; 11,25; 17,3…).

Người xua đuổi ma quỷ vì đó là những thụ tạo gây hại cho đời sống con người “cả thể xác lẫn tinh thần” nên khi xua đuổi ma quỷ khỏi người câm điếc, thì họ nói được, nghe được, thấy được (x. Mc 1,21-28; 5,1-20; 7,24-30; 9,14-29; Mt 9,32-34; Lc 4,31-37).

Người đã làm nhiều phép lạ cho người chết sống lại để chứng tỏ rằng sự sống ở đời này chỉ là một giai đoạn vô cùng ngắn ngủi so với đời sống vĩnh hằng. Người cho con trai bà goá thành Naim (x. Lc 7,11-17), con gái ông Giairô (x. Mc 5,21-43) và Lazarô chết 4 ngày sống lại (x. Ga 11,1-44) để chứng tỏ Người là chủ sự sống, Người là Sự Sống toàn diện, siêu việt, hoàn hảo “Tôi là Sự Sống…” (x. Ga 14,6): Người ban sự sống đó cho tất cả những ai tin vào Người “Ai tin vào tôi sẽ được sống đời đời” (Ga 11,25-26).

Cuối cùng, chính Người đã chết và sống lại để chứng tỏ con người có thể tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. Người đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, cùng ăn uống với họ để chứng tỏ Người đang sống và chia sẻ sự sống của chính Thiên Chúa cho họ. Thân thể phục sinh của Đức Giêsu có thể hiện ra ở trong phòng đóng kín cửa (x. Ga 20,19) ở bất cứ nơi nào (bên ngôi mộ, nơi phòng Tiệc Ly), bất cứ lúc nào (trên đường Emmaus (x. Lc 24,13-25). Đó là cuộc sáng tạo mới của Thiên Chúa.

3.3. Con đường thần hoá

Người còn cho các tông đồ được chia sẻ quyền năng của Người để làm các phép lạ minh chứng con đường sự sống kỳ diệu đó: (x. Mt 10,1-6; Mc 3,13-19; 6,7-13; Lc 9,6). Phêrô chữa người què (x. Cv 3,1-10) hoặc bị tê bại tên Ênê (x. Cv 9,32-35), cho chị Tabitha sống lại (x. Cv 9,36-42). Phaolô chữa lành người bại chân ở Lystra (x. Cv 14,8-18), trừ khử ma quỷ (x. Cv 19,11-20), cho cậu bé Eutichô sống lại (x. Cv 20,7-12). Điều này chứng tỏ con người đã được thần hoá chứ không phải “những vị thần mặc lốt người phàm đã xuống với chúng ta” (Cv 14,11).

Chúng ta có nhiều thí dụ trong Thánh Kinh cũng như trong đời sống của các thánh nhân về những đặc tính của đời sống mới. Chẳng hạn trong sách Công vụ Tông đồ, thánh Philipphê đang giảng dạy ở miền Samari, Thánh Thần bốc ngài đi gặp viên hoạn quan đang đi trên đường từ Giêrusalem về Gaza để nói cho ông về Chúa Giêsu, rồi sau khi rửa tội cho ông, Thánh Thần lại cất ông đi ngay trước mắt viên quan ấy và đặt ông xuống miền Asđôt, cách xa hàng trăm cây số (x. Cv 8,4-40). Hoặc thánh Martinô Pores sống ở Nam Mỹ nhưng được Chúa cho vượt Đại Tây Dương trong nháy mắt, đưa vào ngục tù để chữa cho một tù nhân ở châu Âu. Khi ngài dẫn đoàn học sinh đi chơi, thầy trò vui vẻ đến quên giờ về đọc kinh chiều trong khi đường còn rất xa, thánh nhân xin tất cả nhắm mắt lại cầu nguyện, mở mắt ra đã thấy mình ở trước cổng tu viện. Những thí dụ đó cho ta hiểu về sự sống mới mà Đấng Phục Sinh có thể chia sẻ cho các môn đệ của Người.

Khi gắn bó với Đấng Phục Sinh, Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ cho chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh và quyền năng kỳ diệu của Người để chúng ta hiểu rằng Người đang hiện diện sống động bên ta, chia sẻ sự sống kỳ diệu cho ta để ta không còn lệ thuộc vào vật chất, vào không gian, thời gian và định luật của thể xác, để tâm hồn chúng ta mở rộng ra cho mọi người, mọi vật quanh mình[167].

Như thế, con đường Giêsu dẫn loài người và vạn vật đến một điểm xa nhất và cũng cao nhất, đó là được thần hoá để chia sẻ chính sự sống của Thiên Chúa, trở thành Thiên Chúa nhờ công trình cứu độ của Đức Giêsu Kitô trong tác động thánh hoá của Chúa Thánh Thần. Ước mơ của con người đã biến thành sự thật!

Kết luận

Con đường sự sống của Đức Giêsu mở ra đến vô tận. Nó giúp ta từ nay nhìn ra muôn loài ẩn chứa một sự sống lạ lùng của Thiên Chúa để ta tôn trọng và yêu quý tất cả. Nó cũng giúp ta luôn sống trong niềm vui và hy vọng vì cánh cửa tử sinh chỉ còn là một bước ngắn ngủi phải qua để đi vào cuộc thần hoá diệu kỳ.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn đang cảm nghiệm gì về cuộc sống của mình: chán chường, mệt mỏi, vô nghĩa, có ích, trân trọng, hối hả, lo sợ, tin tưởng, thích thú?

2. Bạn có coi thường và đánh giá thấp đời sống thể lý với các hoạt động như ăn uống điều độ, ngủ nghỉ, giải trí, vui chơi, thể dục thể thao? Hoặc bạn quá chú tâm đến chúng?

3. Bạn có kinh nghiệm gì về một phép lạ của Chúa, một sự can thiệp lạ lùng của Chúa trong đời bạn? Bạn nghĩ mình có thể làm phép lạ không?

Bài 8 Các nguyên tắc căn bản hướng dẫn hành động xã hội

Lời mở

Khi cổ vũ nền văn hoá nhân bản tâm linh, Học thuyết Xã hội Công Giáo (HTXHCG) để cao những giá trị căn bản là sự thật, tình yêu, tự do, công bằng và sự sống. Chúng được xem như những viên gạch để xây dựng nền văn minh tình yêu. Nhưng để làm thành được toà nhà văn minh tình yêu, ta cần những người thợ biết xây dựng theo đúng sơ đồ kiến trúc và những nguyên lý xây dựng cơ bản.

Chính vì thế, HTXHCG giới thiệu 4 nguyên tắc căn bản để hướng dẫn mọi hành động xã hội của con người. Đó nguyên tắc nhân vị, công ích, bổ trợ và liên đới. Chúng ta sẽ tìm hiểu tại sao lại có những nguyên tắc ấy, nội dung của chúng là gì và chúng có liên hệ với nhau như thế nào.

1. Phân biệt từ ngữ

Trong phạm vi bài này, ta nên hiểu rõ và phân biệt:

1.1. Hành động, hay hành vi,

Tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác rất phong phú. Cùng một từ act, action của tiếng Anh, hay acte, action của tiếng Pháp, actus của tiếng Latinh, tiếng Việt có thể dịch thành: hành vi, hành động, tác động, việc làm và nhiều ý nghĩa khác.

– Hành động: là việc làm cụ thể của con người nhằm một mục đích nhất định[168]. Thí dụ: ăn một bữa cơm; uống một ly nước; nói chuyện với bạn bè, mua một đồ vật…

– Hành vi: toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể. Thí dụ: hành vi ăn: từ cách gắp thức ăn, nhai nuốt, bộ mặt biểu lộ cảm xúc khi ăn, đến cách ngồi ở bàn ăn trong một nhà hàng sang trọng…

Trong thực tế, nhiều người cũng như nhiều từ điển dùng lẫn lộn từ “hành động” với “hành vi”.

1.2. Phân biệt hành vi nhân sinh và hành vi nhân linh theo luân lý

Hành vi nhân sinh là hành vi của con người, nhưng không do lý trí con người điều khiển, cũng không được ý chí con người kiểm soát. Thí dụ: nói mê, nói sảng, té ngã[169].

Hành vi nhân linh là việc làm đã được lựa chọn cách có ý thức và tự do theo phán đoán của lương tâm nên mang tính trách nhiệm luân lý[170].

Tính cách luân lý của các hành vi nhân linh tuỳ thuộc vào 3 yếu tố sau đây: trước hết, đối tượng được chọn lựa là điều thiện chủ ý nhắm tới; tiếp theo là ý hướng hay mục đích mà chủ thể hành động muốn thể hiện; thứ ba là các hoàn cảnh của hành động, bao gồm cả những hậu quả. Thí dụ: hành động cho tiền một người nghèo, nhưng làm với ý hướng khoe khoang để mua chuộc lòng tin của người khác và lừa bịp họ vào trong những hành động xấu xa khác[171].

Như thế, một hành vi tốt về mặt luân lý đồng thời giả thiết phải có cả 3 yếu tố đều tốt. Mục đích không biện minh cho các phương tiện. Thí dụ: không thể lấy lý do giúp người nghèo để cướp đất, cướp của người khác. Không được phép làm điều xấu để từ đó đạt được điều tốt. Thí dụ: thúc đẩy kế hoạch giảm gia tăng dân số và phát triển kinh tế bằng cách buộc phá thai. Không thể ngoại tình để an ủi một người bạn đang đau khổ tuyệt vọng (số 1756-1761)[172].

1.3. Phân biệt các hành vi theo quan điểm xã hội

Người ta phân biệt thành hành động trí óc, hành động (vi) ý chí, hành động (vi) xã hội, hành vi bản năng, hành vi hành chính, hành vi pháp luật và trái pháp luật. Đây là những mục từ theo Từ điển bách khoa Việt Nam [173]:

+ Hành động trí óc: hành động chỉ thực hiện trong tâm trí (bộ não) con người dành cho việc suy tư, nhận thức, ước muốn, cảm xúc, nhớ nhung… nhưng không dựa vào một phương tiện bên ngoài nào như tay chân, máy tính, ngôn ngữ, chữ viết. Thí dụ: Nhớ về một kỷ niệm trong quá khứ, nghĩ về một khó khăn đang gặp phải.

+ Hành động ý chí ( tương đương với “hành vi nhân linh”): là hành động đặc thù của con người, có mục đích đề ra từ trước một cách có ý thức, có lựa chọn phương tiện, biện pháp để thể hiện mục đích, có theo dõi kiểm tra, điều khiển, nỗ lực khắc phục khó khăn trong quá trình thực hiện mục đích.

+ Hành động (vi) xã hội: là hoạt động của con người trong xã hội, có quan hệ đến người khác, đến một tổ chức, một tập thể trong xã hội. Hoạt động này hướng tới các giá trị, do cá nhân, hoặc do các nhóm, các tổ chức gây ra, nó là sự thể hiện một hệ thống xã hội và nói lên thực chất của hệ thống xã hội đó. Khi hành động nói lên phản ứng một xung đột bên ngoài hay bên trong của hệ thống thì hoạt động xã hội này là dấu hiệu nói lên một mâu thuẫn hay một chỗ nứt rạn của hệ thống. Thí dụ: vụ buôn bán thuốc ung thư giả H-Capita của Công ty VN Pharma cho thấy việc quản lý giá thuốc, chất lượng thuốc tại Việt Nam của Bộ Y tế Việt Nam có nhiều thiếu sót[174].

+ Hành vi bản năng: là các hành vi bẩm sinh, giống như ở tất cả các cá thể cùng loại, bảo đảm những chức năng cơ bản nhất cho sự sinh tồn của cá thể và phát triển của giống loài như bản năng ăn uống, tự vệ, tính dục, bầy đàn, di cư… Nơi con người, những bản năng không còn y nguyên như lúc mới sinh, mà phần lớn đều ghi dấu ấn của văn hoá xã hội, nghĩa là bản năng được ý thức hoá.

+ Hành vi hành chính: toàn bộ những hoạt động nhằm phục vụ công dân thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình, thông qua sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước.

+ Hành vi pháp luật: những hành vi do pháp luật quy định, xuất phát từ pháp luật. Thí dụ: khai báo tài sản các viên chức; xin phép nhận khẩu hàng tiêu dùng nước ngoài. Việc xem phim đồi truỵ là một hành động luân lý xấu nhưng không phải bị pháp luật quy định và lên án, nhưng sản xuất phim đồi truỵ là hành vi trái pháp luật.

2. Hành động con người trong xã hội

Mỗi ngày, con người chúng ta sống và bày tỏ chính mình qua những hành động, hành vi thuộc đủ loại khác nhau. Một số hành động được làm theo bản năng sinh tồn mà nhiều khi ta không ý thức việc mình làm và cũng không chủ ý làm, trái lại một số hành động được làm với ý thức và ý chí rõ rệt. Thí dụ như có người ăn uống, ngủ nghỉ, học hành, làm việc, vui chơi, giải trí theo thói quen, theo bản năng… nhưng cũng có người làm những hành động đó vì biết chúng có ích, làm vì tình yêu Chúa và tha nhân thúc đẩy….

Có những hành động chỉ diễn ra trong tâm trí con người, như suy nghĩ, ước mơ, tưởng tượng… Chúng không trực tiếp tác động đến người nào hay vật nào, nhưng chúng vẫn là những hành động đặc thù của con người, nên chúng cũng có tính cách và giá trị luân lý. Vì thế, con người không được có những tư tưởng tiêu cực, những nhận thức sai trái, những ước muốn xấu xa, dâm đãng, những tưởng tượng điên rồ… Khi con người cố ý có những hành động như thế là đi ngược hay hạ thấp phẩm giá cao quý của mình, vì con người là con cái Thiên Chúa, Đấng dựng nên con người theo hình ảnh của mình và ban cho con người những giá trị tích cực vô biên[175].

Tuy nhiên, vì con người được ban tặng tự do để vâng phục Thiên Chúa và yêu thương, nên con người cũng có thể chống lại Thiên Chúa, không vâng phục Ngài và từ chối yêu thương. Con người đã chiều theo tên cám dỗ[176] cắt đứt mối hiệp thông với Thiên Chúa là nguồn sự sống và giá trị, phá vỡ giới hạn thụ tạo của mình. Tội nguyên tổ của Adam và Eva đã ảnh hưởng tới bản tính nhân loại, làm cho mọi người mất đi sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ[177]. Từ đó mọi hành động của con người cũng bị ảnh hưởng.

Khi xa rời Chúa là nguồn của chân thiện mỹ, con người đưa vào tâm trí mình những điều sai lầm, ác đức, xấu xa. “Khi xa rời Chúa, con người cũng xa rời chính mình (để làm những điều mình không muốn và không làm được những điều mình muốn), xa rời với người khác (coi họ chỉ là vật dụng để khai thác, không còn là cùng con cái với cha trên trời, là xương thịt của nhau), xa rời với thế giới chung quanh (khai thác vạn vật như một ông chủ ích kỷ)”[178].

Hành động của con người từ đó mang chiều kích hai mặt: vừa thể hiện những gì của cá nhân người hành động, nhưng cũng thể hiện mối quan hệ với người thân cận. Thật ra, bất cứ một hành động nào của con người dù ở trong trí óc, ý chí của một cá nhân, đều có thể tác động ít nhiều đến xã hội hay cộng đồng mình sống. Thí dụ: ta đến ăn tại một nhà hàng, ngủ trên một chiếc giường. Những hành động này dù rất riêng tư, nhưng vẫn có thể tạo nên một số hậu quả như: việc ăn uống hay ngủ nghỉ tác động đến người phục vụ, người cung cấp các món hàng, người thuê cửa hàng…

Vì thế, khi một hành động bị coi là đi ngược với luân lý, bị coi là tội, thì “tội nào cũng là một tội cá nhân, xét về một phương diện nào đó, nhưng xét về một phương diện khác, tội nào cũng là tội xã hội trong mức độ nó cũng gây ra những hậu quả trong xã hội”[179]. Như thế, những hành vi nhân linh đều là những hành vi xã hội. Tuy nhiên, chúng ta muốn xác định ở đây hành động xã hội là làm những việc cụ thể nào đó, có ít nhiều quan trọng, một cách có ý thức, có mục đích rõ rệt và tạo nên mối liên kết với một người hay nhiều người trong cộng đồng xã hội[180].

Muốn cho những hành động thực sự tạo nên những giá trị tích cực, ta phải theo những nguyên tắc căn bản được HTXHCG giới thiệu sau đây. Tuy nhiên, trước khi trình bày những nguyên tắc đó, ta nên tìm hiểu những hoàn cảnh, nguyên nhân hình thành nên chúng trong lịch sử nhận thức của con người.

3. Lịch sử hình thành nhận thức về hành động xã hội

Dù con người biết suy tư (homo sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 200.000 năm, nhưng việc con người nhận thức được hành động của mình, phân biệt các loại hành động, nêu được giá trị luân lý của hành động chỉ mới bắt đầu từ vài ngàn năm nay, khởi đầu với nền văn minh của Hy Lạp, của La Mã và nhận thức của một số tôn giáo như Do Thái giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo…

3.1. Trước hết, con người hành động theo bản năng sinh tồn giống như những loài vật khác. Nhiều loài vật giết hại loài khác để sống, thậm chí sát hại cả chủng loại của mình để bảo đảm sự sống còn, như loài chim đại bàng.

Giai đoạn hành động theo bản năng kéo dài vì tâm trí con người chưa được mở mang, sống theo bầy đàn và hành động theo bầy đàn.

Khi con người vượt qua tâm thức bái vật, khám phá ra các thần linh cao quý và bất tử, con người lại dồn mọi hoạt động để phục vụ thần linh, thậm chí hiến dâng cả mạng sống con người làm lễ vật cúng thần như ta thấy trong rất nhiều tôn giáo nguyên thuỷ cách đây vài ngàn năm như tôn giáo thờ cúng của bộ lạc, tôn giáo bái vật nơi người Inca… Chỉ từ khi Do Thái giáo xuất hiện, cách đây khoảng 3000 năm, việc hiến tế người sống cho thần linh mới bị ngăn cấm và con người mới nhận ra giá trị cao cả của mình để tôn trọng sự sống của đồng loại. Nguyên tắc tôn trọng nhân vị, có thể nói, đã bắt đầu từ đó.

Khi con người vượt qua giai đoạn thị tộc để bước vào giai đoạn dân tộc, quốc gia, người ta hành động với ý hướng để phục vụ lợi ích chung của dân tộc, quốc gia và sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng tư. Những chủ nghĩa ái quốc cực đoan còn hô hào đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết và làm bất cứ hành động nào, dù bất công, bất chính, để phục vụ dân tộc. Chẳng hạn như ăn cắp thông tin, bí mật quân sự, kinh tế, khoa học của người khác, của nước khác để phục vụ đất nước. Thí dụ điển hình như việc Trung Quốc dùng những đoàn thuyền đánh cá dân sự đông đảo để xâm phạm lãnh hải của nước khác. Người ta còn nhân danh cả tôn giáo quốc gia để bắt các dân tộc khác phải tôn thờ những thần linh của mình, như vua Antiochus bắt dân Do Thái và các dân tộc thờ lạy các thần linh Hy Lạp (x. 1Mac 1,1-62). Vấn đề đặt ra ở đây là nguyên tắc công ích: đó là ích lợi chung của phe nhóm, đảng phái, dân tộc hay toàn thể nhân loại được xác định như thế nào?

Trong dòng lịch sử nhân loại, khi người ta đồng hoá ích lợi chung của một quốc gia, dân tộc với quyền lợi của người nắm quyền điều hành quốc gia đó, thì rất nhiều khi những hành động con người bị chuyển hướng, không còn thật sự phục vụ công ích mà chỉ phục vụ theo ý muốn độc tài của một con người, một dòng họ hay một tập thể nào đó. Chúng ta thấy điều này thường xuyên xảy ra trong các nước theo chế độ quân chủ chuyên chế thời xưa cũng như thời nay. Quyền lực hành động của cá nhân hay tập thể có khi còn được củng cố bởi thần quyền của tôn giáo. Thí dụ: vua là thiên tử, là con Trời, thay Trời hành đạo, có toàn quyền sinh sát trong tay, vua bắt thần dân chết mà thần dân không chết là thần dân đó bất trung. Vì thế, trong nguyên tắc công ích người ta phải xác định công ích thật sự là gì, bao gồm những phạm vi nào, nó được mở rộng đến quốc gia hay cho toàn thể nhân loại và vũ trụ.

Một vấn đề liên quan đến công ích là những của cải vật chất và tài nguyên thiên nhiên. Trước đây chúng là nguyên nhân chính cho những can thiệp của người cầm quyền với dân chúng cũng như gây nên những cuộc xung đột và chiến tranh giữa các dân tộc. Lòng tham của con người hầu như vô đáy nên ai cũng muốn có thật nhiều của cải và tìm mọi cách chiếm đoạt cho mình. Vì thế, mục tiêu phổ quát của của cải và quyền tư hữu được đặt ra để xác định công ích có những giới hạn nào[181].

Khi hành động, con người thường muốn thấy ngay hiệu quả của công việc, không muốn bị trì trệ, bị thiếu sót, hư hỏng các phương tiện, nên thường tự mình muốn hành động và thậm chí làm thay cả những người khác vì thấy họ yếu kém về năng lực hơn mình. Điều này xảy ra trong các chế độ bao cấp thuộc đủ loại lĩnh vực khác nhau, dẫn đến các hình thức trung ương tập quyền, quan liêu giấy tờ trong việc cứu trợ an sinh và sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trong lĩnh vực an ninh trật tự công cộng. Tình trạng này đã xảy ra trên đất nước chúng ta trong nhiều năm sống dưới chế độ quân chủ chuyên chế (938-1945) với tổ chức các làng nghề chặt chẽ hay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với những hợp tác xã nông nghiệp, chế độ tem phiếu hàng hoá, nhu yếu phẩm (1954-1986). Vì thế, nguyên tắc bổ trợ thúc đẩy và để cho các cá nhân tập thể ở trật tự thấp hơn được tự do hành động với sự trợ giúp ở cấp cao hơn.

Bắt đầu từ thế kỷ XIX, hình thành một phong trào chính trị rộng lớn, gọi là chủ nghĩa Cộng sản, nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Tư bản để xây dựng một xã hội không giai cấp, không có sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Trong xã hội này mọi người đều bình đẳng, không có hiện tượng người bóc lột người và tiến tới xoá bỏ chính quyền, nhà nước trong một thế giới đại đồng không có biên giới quốc gia khi người với người đều là bạn, thương yêu lẫn nhau. Trong xã hội Cộng sản này mỗi cá nhân được tự do phát huy mọi khả năng của mình, năng suất lao động tăng lên rất cao và của cải làm ra dồi dào.

Lý tưởng Cộng sản này đã được K. Marx và Engel cùng nhiều người đã tích cực xây dựng, cổ vũ và cuốn hút được khá nhiều người theo đuổi các phong trào Cộng sản quốc tế, nhất là tại các nước kém phát triển và đang phát triển của thế giới thứ ba. Nhưng chủ nghĩa Cộng sản này đã suy thoái vào cuối thế kỷ XX, nhất là sau khi khối Liên Xô tan rã và bức tường Berlin ở Đức sụp đổ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của chủ nghĩa Cộng sản[182]. Tuy nhiên, cuộc xung đột giữa hai chủ nghĩa Tư bản và Cộng sản lại dẫn con người đến một nguyên tắc mới trong hành động. Đó là nguyên tắc liên đới.

Một hành động của con người hay của một tập thể có thể tạo ra những hậu quả vô cùng khủng khiếp, tác động đến nhiều người, nhiều dân tộc. Thí dụ: những trận cháy rừng ở vùng Amazone vào tháng 9/2019 vừa qua ảnh hưởng đến lượng khí Oxy của toàn trái đất; một vụ buôn bán công thức chế tạo bom nguyên tử, bom khinh khí của tổ chức thù địch có thể ảnh hưởng toàn cầu. Sự liên đới này thúc đẩy con người phải cẩn trọng và khôn ngoan hơn để tránh những thiệt hại do sự bất cẩn, để khắc phục những cấu trúc tội lỗi như những tổ chức buôn bán vũ khí, buôn bán ma tuý, buôn người, sự lũng đoạn về kinh tế, chính trị, luân lý xã hội của các tập đoàn đa quốc gia. Chính nhờ ý thức về sự liên đới này, các dân tộc mới củng cố và tạo điều kiện cho các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Toà án Quốc tế, Tổ chức Thương mại Quốc tế… tác động vào những hoạt động của cá nhân và tập thể để giúp họ vươn tới công ích toàn cầu.

Khi bàn đến hành động của con người và mối liên đới, ta không thể không nhắc đến quan niệm của Phật giáo về hành động theo luật nhân quả: hành động của kiếp này là hậu quả của kiếp trước và trở thành nguyên nhân cho kiếp sau. Nếu kiếp này làm người có những hành động sai trái, kiếp sau có thể phải làm trâu bò, chó ngựa. Nếu kiếp trâu ngựa ấy làm tốt, thì sau đó lại có thể trở về kiếp người. Điều này khiến cho người ta hiểu rằng Phật giáo quan niệm những con vật khi hành động đều có ý thức và ý chí tự do của mình thì chúng mới chịu trách nhiệm luân lý cho các hành động của chúng. Theo giáo huấn của HTXHCG, chỉ có con người mới chịu trách nhiệm luân lý về các hành động của mình, nhờ ý chí và tự do được Thiên Chúa ban cho khi dựng nên con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Như thế, nguyên tắc liên đới cũng gắn kết chặt chẽ với nguyên tắc nhân vị.

Thật ra, cả 4 nguyên tắc: nhân vị – công ích – bổ trợ – liên đới gắn bó chặt chẽ với nhau và hình thành nên một thể thống nhất qua các mối quan hệ và liên kết mạch lạc của chúng[183]. Một hành động nhân linh của con người tác động đến xã hội phải theo các nguyên tắc sau:

– Nguyên tắc nhân vị nhắm đến chủ thể hành động và đối tượng nhận hành động đều là những con người thật sự, có nhân vị cao quý chứ không phải là những sinh vật hay đồ vật bị khai thác và sử dụng.

– Nguyên tắc công ích nhắm đến đối tượng là việc làm được chủ thể hướng tới. Việc làm đó phải là mang lại ích lợi tốt đẹp không phải chỉ dành cho một cá nhân, tập thể, dân tộc mà còn phải là ích lợi chung cho tất cả mọi người và vạn vật có liên quan.

– Nguyên tắc bổ trợ nhắc nhở chủ thể hành động không được trực tiếp làm thay cho cấp dưới mà chỉ hỗ trợ sự giúp đỡ cần thiết để cấp dưới có thể tự làm.

– Nguyên tắc liên đới đòi hỏi công ích mà hành động nhắm tới phải là dịp để chủ thể hành động nói lên sự gắn kết sâu rộng của mình với mọi người, mọi vật quanh mình.

Những nguyên tắc hướng dẫn hành động này thật khá mới mẻ và còn xa lạ với nhiều tín hữu Kitô vì nhiều người chưa biết đến chúng và chưa biết áp dụng chúng vào đời sống thường ngày của mình như thế nào.

4. Bốn nguyên tắc căn bản để xây dựng xã hội

Các nhà xã hội, các nhà quản lý kinh tế, ngay cả các tôn giáo, đã đề ra một số những nguyên tắc sống và hành động. Thí dụ: “12 nguyên tắc sống bạn bên đọc ít là một lần trong đời”[184]; “20 nguyên tắc sống bạn cần nhớ để sống một đời không hối tiếc”[185]; “13 nguyên tắc của cuộc sống”[186]; “12 quy tắc quan trọng để sống như thiền sư”[187]; “12 quy tắc căn bản để sống an lạc như một thiền sư”[188]… Rất nhiều bài viết tương tự như thế để hướng dẫn con người làm chủ hành động của mình nhằm phát triển cộng đồng xã hội và giúp cho con người được bình an, hạnh phúc. Tuy nhiên, chưa có tôn giáo nào, hay khoa học quản lý nhân sự nào dạy về 4 nguyên tắc căn bản của HTXHCG. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chúng với những thí dụ cụ thể để minh hoạ cho dễ tiếp thu.

4.1. Nguyên tắc nhân vị[189]

Nguyên tắc này là “nền tảng của tất cả các nguyên tắc khác, đồng thời cũng là nội dung của HTXHCG”[190]. Trong mọi hành động, “con người, nam cũng như nữ, là hình ảnh sống động của Thiên Chúa. Hình ảnh này mỗi ngày được triển khai thêm một cách trọn vẹn và sâu sắc hơn, nơi mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa, Đấng duy nhất đã mạc khải Thiên Chúa cho con người và mạc khải con người cho chính con người”[191]. Vì thế, mọi chủ thể hành động được mời gọi nhìn nhận mỗi người, như đối tượng của hành động, dù gần hay xa, quen hay lạ, nhất là những người nghèo và đau khổ, là anh chị em của mình, những người “mà Đức Giêsu Kitô đã chết cho họ”[192].

Nguyên tắc nhân vị này đòi hỏi chúng ta nhận ra Thiên Chúa là nguồn mọi hiện hữu của con người, để con người gắn bó với chính Thiên Chúa như một quan hệ “tự thân”[193], cũng như diễn tả sự gắn bó trong các mối quan hệ với người khác và vũ trụ vạn vật. Vì được gắn bó mật thiết với Thiên Chúa, nên con người không thể cho phép mình có những hành động bất xứng với Thiên Chúa, Đấng đang ở trong họ, như suy nghĩ những điều dâm đãng, có những ước muốn dâm đãng, tham lam, xấu xa, những cảm xúc, cảm tình tiêu cực… dù đó chỉ là hành động trong tâm trí chứ chưa thể hiện ra bên ngoài.

Do đó, chúng ta hiểu Đức Giêsu yêu cầu sự trong sạch cả trong tâm trí khi dạy: “Anh em đã nghe luật dạy rằng: chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27-28). Con người cũng không thể nhân danh bản năng để thực hiện những hành động gây thiệt hại cho mình hay cho người khác. Thí dụ: thủ dâm để tự thoả mãn những dồn nén sinh lý, uống bia rượu quá mức, sử dụng ma tuý và các chất kích thích khác, xem những phim ảnh đồi truỵ… vì những bản năng này của con người phải được điều khiển bởi lý trí và ý chí con người qua lương tâm mách bảo và cả ơn Chúa giúp đỡ[194]. Vì thế, con người không thể biện minh cho những hành động chiều theo bản năng của mình.

Vì mối quan hệt thân tình với người khác như anh chị em ruột có chung một người Cha Trên Trời, nên con người phải tôn trọng người khác: sự sống, danh dự và mọi thứ thuộc quyền sở hữu của họ[195], nhất là “mạng sống con người là linh thiêng và bất khả xâm phạm” vì chỉ Thiên Chúa mới là chủ tể sự sống và sự chết[196]. Do đó, con người không phải chỉ không được giết người (x. Xh 20,13; Đnl 5,17) nhưng còn phải yêu thương người thân cận như chính mình (Lv 19,18) và Đức Giêsu còn đòi buộc phải chăm lo các nhu cầu của người khác (x. Mt 22,37-40; Mc 12,29-31; Lc 10,27-28) vì khi làm những hành động tốt đẹp cho những người hèn kém nhất là ta làm cho chính Đức Kitô (x. Mt 25,40).

Trong mối quan hệ với vũ trụ vạn vật như một nhân vị, con người cũng thấy mình hiện diện với tất cả các thụ tạo khác được Chúa giao phó cho con người. Con người được quyền hưởng dùng chúng nhưng không được tuỳ tiện khai thác thế giới cách ích kỷ[197].

Thí dụ cụ thể về nguyên tắc nhân vị: một người bán dưa muối ở một chợ hiểu rằng họ phải muối dưa bằng cách nào đó cho an toàn. Một người đánh cá không được phép dùng những hoá chất độc hại ướp vào cá hoặc một nhà chăn nuôi không được dùng các hoá chất tăng trưởng độc hại. Nếu họ biết hàng hoá mình không an toàn mà vẫn cứ bán ra thị trường là họ đã phạm tội nặng nề với Chúa, với anh em, với vạn vật, dù pháp luật chưa hay không biết để truy tố họ. Những nhà sản xuất các phim ảnh đồi truỵ, những người thông tin sai lạc cũng vi phạm nguyên tắc nhân vị khi làm thiệt hại tinh thần của con người. Mức độ tội lỗi nặng nề hơn khi có nhiều người bị ảnh hưởng bởi hành động của họ.

4.2. Nguyên tắc công ích[198]

Nguyên tắc này liên quan đến mục đích hay ý hướng của chủ thể nhắm đến khi thực hiện một hành động xã hội. Thí dụ: việc bán dưa muối nhắm mục đích kiếm tiền lời để nuôi sống bản thân, phục vụ những người thích ăn món dưa muối, tạo nên sự ngon miệng và sức khoẻ thể lý cho người tiêu dùng; việc Nhà nước xuất khẩu gạo sang nước khác để tạo công ăn việc làm cho nông dân, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp, giao hảo với dân tộc mua gạo…

Như thế, một hành động có thể có nhiều ý hướng và mục đích. Ý hướng càng rộng, mục đích càng cao, thì hành động xã hội càng có giá trị, và ngược lại. Thí dụ: một người bán dưa muối chỉ để kiếm tiền nuôi sống, không cần biết đến những điều gì khác do tầm nhận thức của họ hẹp hòi. Vì thế cần phải giáo dục, tuyên truyền sao cho người dân mở mang tâm trí thì họ mới những hành động tốt đẹp, liêm chính nhắm tới ích lợi chung, hay công ích.

Vậy công ích là gì?

Công ích là toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép con người, tập thể hay cá nhân, đạt tới sự phát triển của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn[199]. Con người không thể tìm được sự phát triển mỹ mãn nơi chính bản thân mình, nếu con người không nhận ra mình hiện hữu “với” người khác và “vì” người khác. Sự thật này thúc đẩy con người đi tìm, không phải chỉ trong ý tưởng mà còn trong thực tế của đời sống, điều tốt hay ích lợi cho chính mình hay cho tổ chức xã hội, từ cấp địa phương đến cấp quốc gia và quốc tế[200].

Những yêu cầu của công ích tuỳ thuộc vào điều kiện xã hội của mỗi giai đoạn lịch sử và liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng và thăng tiến con người toàn diện cũng như các quyền căn bản của con người[201]. Thí dụ: dấn thân xây dựng hoà bình, tổ chức các cơ quan quyền lực quốc gia, xây dựng hệ thống tư pháp lành mạnh, bảo vệ môi trường sống cho trong sạch, cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho con người: lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục, văn hoá, nhân quyền, sức khoẻ, tự do tôn giáo… Nếu một hành động nhằm đạt nhiều yêu cầu của công ích thì hành động đó càng có giá trị. Thí dụ: sáng tác một tiểu thuyết cổ vũ hoà bình, bình đẳng giới, xây dựng hạnh phúc gia đình, chống lại các bất công trong xã hội…

Tuy nhiên, người ta không thể nhân danh một số công ích này để loại bỏ một số công ích khác, ủng hộ lợi ích của một số người giàu và chối bỏ lợi ích của đa số người nghèo (như chủ trương hành động của một số đảng phái trong các nước dân chủ hiện nay). Nhiều người đồng hoá ích lợi riêng tư của phe nhóm, đảng phái hay của chính quốc gia mình với công ích.

Công ích của xã hội không phải là một mục tiêu tự thân. Nó chỉ có giá trị khi có liên quan tới việc thực hiện các mục tiêu tối hậu của con người và ích lợi chung của toàn thể thụ tạo – Thiên Chúa là mục tiêu tối hậu của các thụ tạo do Ngài dựng nên. Vì thế, không thể vì bất cứ lý do gì mà công ích mất đi chiều hướng siêu việt, tức là chiều hướng vừa vượt lên trên lịch sử vừa hoàn thành lịch sử của mình[202]. Lịch sử của chúng ta, nghĩa là mọi nỗ lực hành động của cá nhân và tập thể để nâng cao thân phận con người đều bắt đầu và kết thúc với Đức Giêsu Kitô. Chính nhờ Người, chúng ta đạt tới sự thiện tối thượng, tới mức thành toàn của công ích là trở thành con cái Thiên Chúa, thành Thiên Chúa giống như Người. Vì thế không thể nhân danh những công ích mà chối bỏ Thiên Chúa, chối bỏ quyền tự do tôn giáo của con người.

Trong cuộc chạy đua đi tìm công ích, nhiều thể xã hội, nhiều quốc gia hay những tập đoàn đa quốc gia đang cố chiếm giữ cho mình thật nhiều của cải vật chất, những tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ, đất hiếm), mở rộng lãnh thổ (trên biển, trên các vùng Bắc cực, Nam cực và cả trong không gian với các vũ khí bắn hạ các vệ tinh…). Những tham vọng này, tuy nhân danh công ích của quốc gia hay toàn cầu, nhưng chỉ đem lại những hứa hẹn hão huyền, thúc đẩy và cám dỗ nhiều người đi vào con đường lầm lạc, đánh mất sự phát triển toàn diện cũng như dẫn nhiều dân tộc đến các xung đột và chiến tranh..

Vì thế, HTXHCG giới thiệu nguyên tắc mục tiêu phổ quát của của cải và sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo[203]. Lý do là vì Thiên Chúa đã dựng nên trái đất và tất cả những gì trái đất chứa đựng để ban chung cho mọi người và mọi dân tộc chứ không ban riêng cho ai. Vì thế, nguồn lợi của trái đất phải được chia sẻ cách tương xứng cho hết mọi người và được điều tiết bởi bác ái[204]. Do đó, nếu một số người có nhiều hơn mức tài sản cần để sinh sống trong khi những người khác thiếu cả những thứ cơ bản để duy trì sự sống, thì những người có của không phải chỉ tỏ lòng bác ái mà buộc phải giúp đỡ những người nghèo theo lẽ công bằng[205].

4.3. Nguyên tắc bổ trợ[206]

Bổ trợ là một trong những nguyên tắc bền vững và đặc thù nhất của HTXHCG và đã có mặt ngay từ trong văn kiện xã hội đầu tiên[207] và được hình thành trong thông điệp Quadragesimo Anno của ĐGH Piô XI. Nhờ có sáng kiến và sự chuyện cần, các cá nhân đã kết hợp thành những tập thể dân sự như gia đình, đoàn thể, hiệp hội thuộc đủ mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, nghề nghiệp, xã hội, văn hoá, thể thao, giải trí để giúp họ thực hiện việc tăng trưởng xã hội. Tuy nhiên, một số chính quyền đã muốn tập trung quyền hành về trung ương và làm thay tất cả những công việc mà những cá nhân và tổ chức xã hội cấp nhỏ hơn có thể làm được.

Trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, dịch vụ, nhờ có số vốn lớn, nhờ có nhiều tư liệu sản xuất, nhờ quảng cáo rộng rãi và có khi nhờ liên kết với các thế lực và cả chính quyền, nhiều tập đoàn càng ngày càng mạnh, thâu tóm các thị trường khiến cho các công ty và những nhà sản xuất nhỏ không thể cạnh tranh. Các tập đoàn nàytrở thành các tập đoàn độc quyền dẫn đến sự thao túng về giá cả, làm thiệt hại cho người tiêu dùng.

Vì thế HTXHCG nêu lên nguyên tắc bổ trợ sau đây: mọi xã hội thuộc trật tự cao hơn phải có thái độ trân trọng giúp đỡ – tức là hỗ trợ, đẩy mạnh, phát triển – các xã hội thuộc trật tự thấp hơn. Nhờ nguyên tắc này, dân chúng có thể được bảo vệ khỏi sự lạm quyền của chính quyền cấp cao hơn, chủ động tham gia vào mọi lĩnh vực một cách sáng tạo và thích ứng với những đòi hỏi của hoàn cảnh địa phương. Muốn cho có sự tham gia tích cực của tư nhân, cần phải gây ý thức, khuyến khích các sáng kiến, cổ vũ các tổ chức tư nhân phục vụ công ích, bảo vệ nhân quyền và quyền lợi của các nhóm thiểu số, dẹp bỏ tình trạng trung ương tập quyền về hành chính và bàn giấy, tạo thế cân bằng giữa khu vực công cộng và khu vực tư nhân.

4.4. Nguyên tắc liên đới[208]

Nhờ các phương tiện truyền thông xã hội và các mạng xã hội toàn cầu, con người ngày nay càng ngày càng ý thức mình liên đới với mọi người, bình đẳng với mọi người về phẩm giá và quyền lợi, cùng đi chung với nhau trên con đường ý thức về sự phát triển bền vững và hạnh phúc viên mãn. Thí dụ: một trận bóng đá cúp thế giới có hàng tỉ người cùng xem. Một sự kiện như 39 người Việt chết trong thùng container được tìm thấy ở Gray, hạt Essex, Anh quốc, ngày 23/10/2019 làm rúng động thế giới. Sự liên kết này làm nổi bật bản tính xã hội nội tại của con người.

Tuy nhiên, trước hiện tượng lệ thuộc vào nhau và bành trướng các phương tiện truyền thông, khắp nơi trên thế giới người ta vẫn còn thấy sự bất bình đẳng sâu sắc giữa các nước đã phát triển và các nước đang phát triển, những hình thức bất công, bóc lột, tham nhũng, đàn áp của những tập đoàn đa quốc gia, những tổ chức xã hội đen chuyên buôn người, buôn bán ma tuý, buôn bán nội tạng. Ngoài ra, các tổ chức khủng bố tôn giáo cực đoan, những hành động của vài nước cậy mạnh đàn áp công khai các nước yếu kém, mà các nước khác vì quyền lợi ăn chia, chỉ phản đối bằng những lời nói suông bên ngoài, chứ không thể hiện thật sự tình liên đới bằng những hành động cụ thể, vẫn còn diễn ra hằng ngày.

Vì thế, sự liên đới cần phải trở thành một thực tế trong lĩnh vực đời sống cộng đồng như một nguyên tắc xã hội phải tuân theo, mà hơn thế nữa còn là nhân đức luân lý thật sự chi phối đời sống con người.

Liên đới là nguyên tắc xã hội[209]. Nó không phải là một cảm xúc mơ hồ hay đau buồn hời hợt trước nỗi bất hạnh mà một số người gần xa phải chịu, nhưng là một quyết tâm chắc chắn và kiên định muốn dấn thân lo cho công ích, nghĩa là lo cho ích lợi của mọi người và mỗi người, vì tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi người[210].

Liên đới còn là một đức tính luân lý nằm trong phạm vi công bằng vì thúc đẩy con người phải dấn thân lo cho ích lợi của người thân cận tới mức sẵn sàng liều mất bản thân mình như Đức Giêsu Kitô, thay vì khai thác, áp bức người khác vì ích lợi riêng[211]. Đây là điểm tột cùng của tình yêu và tình liên đới để có thể xây dựng được nền văn minh tình yêu. Sự hy sinh của ta được Thiên Chúa là nguồn sống nhìn thấu để ban cho ta sự sống kỳ diệu của Ngài.

Lời kết

Bốn nguyên tắc căn bản hướng dẫn hành động không phải là những quy tắc ứng xử để chúng ta thỉnh thoảng lôi ra ôn lại và áp dụng trong đời sống khi cần giải quyết một vài trường hợp khó khăn điển hình nào đó. Nhưng đây là những nguyên tắc sống áp dụng hằng ngày cho bất cứ hành vi nào của con người. Càng áp dụng nhuần nhuyễn, chúng ta càng biết rõ mình đang hành động theo đúng lương tâm ngay chính, phù hợp với chân thiện mỹ và xây dựng được một xã hội công bằng, tốt đẹp, yêu thương và hạnh phúc.

Câu hỏi

1. Bạn đã phân biệt những loại hành động, hành vi nào khiến con người phải chịu trách nhiệm luân lý?

2. Trong 4 nguyên tắc hướng dẫn hành động, bạn nghĩ người Việt Nam ít quan tâm đến nguyên tắc nào? Tại sao?

3. Liên đới là một nhân đức xã hội cần phải luyện tập để có được nó, nhưng bạn đã luyện tập như thế nào?

4. Tại sao ta lại phải hy sinh mạng sống cho một người không quen biết như thánh Maximilianô Kolbe?

PHẦN II: CUỘC HỘI NHẬP VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI Công Giáo VIỆT NAM

Bài 9: Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Lời mở

Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.

Từ trước đến nay, chưa có nhiều người tìm hiểu về những giá trị của các nền văn hoá khác nhau đã hội nhập và kết tinh thành nền văn hoá Việt Nam hiện nay như thế nào. Vì thế, qua bài này, chúng ta muốn tìm hiểu cách khái quát cuộc hội nhập của văn hoá trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam để có thể xây dựng những giá trị mới và đẩy lùi những nét tiêu cực có thể có trong cuộc hội nhập này khi so sánh với nền văn hoá toàn diện và liên đới của đạo Công Giáo mà chúng ta tìm hiểu ở bài trước. Chúng ta tạm chia lịch sử văn hoá dân tộc Việt Nam thành 4 thời kỳ.

1. Thời kỳ đầu tiên từ đời vua Hùng đến năm 111 TCN

1.1. Văn hoá thị tộc

Trên đất nước Việt Nam hiện nay, các nhà khảo cổ học phát hiện những di tích và hoá thạch người “Homo erectus” khoảng 500.000 năm thuộc thời Đồ Đá Cũ[212]. Người Hiện đại “Homo sapiens” biết suy tư xuất hiện cách đây khoảng 195.000 năm rồi rời khởi Đông Phi cách đây khoảng 50.000-80.000 năm để di chuyển dọc theo bờ Ấn Độ Dương đến Indonesia và cả Australia[213]. Cách đây khoảng 4.000 năm đến 5.000 năm, các lớp cư dân nguyên thuỷ từ miền đồi núi tiến xuống khai phá các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển, phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn hoá bộ tộc thiểu số trải dài trên những núi đồi chuyển thành nền văn hoá làng xã với những ruộng vườn cố định.

Thời kỳ Hồng Bàng, theo truyền thuyết và dã sử, bắt đầu từ năm 2879 TCN cho đến năm 258 TCN với 18 đời Vua Hùng[214]. Từ đầu thiên niên kỷ II TCN, Việt Nam bước vào thời đại kim khí, từ đồ đồng đến đồ sắt. Đời sống hoang dã, săn bắt, ở trong hang núi hay trong các nhà sàn, sống theo gia tộc được thay thế bằng đời sống ổn định, canh tác ruộng vườn, chăn nuôi gia súc, với những quy luật của làng xã. Các quận lớn hình thành nên các trung tâm văn hoá, có chính quyền trung ương là Nhà nước Quân chủ với các vua Hùng ở miền Bắc trong thời đại Hồng Bàng. Đó là văn hoá Đông Sơn với nhà nước Văn Lang-Âu Lạc, văn hoá Sa Huỳnh với nhà nước Champa ở miền Trung và văn hoá Óc Eo với nhà nước Phù Nam ở miền Nam. Ba dòng văn hoá này đã dần dần giao lưu và hội nhập vào nhau tạo thành văn hoá nguyên thuỷ của Việt Nam.

Năm 258 TCN, Thục Phán, thủ lĩnh của người Âu Việt, ở phía Bắc nước Văn Lang, hợp nhất với nước Văn Lang của người Lạc Việt, xưng là An Dương Vương, đặt quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa, nay là Đông Anh, Hà Nội. Năm 218 TCN, Tần Thuỷ Hoàng huy động 50 vạn quân, sai danh tướng là Đỗ Thư đi chinh phục Bách Việt. Các lạc tướng của người Việt, do Thục Phán lãnh đạo, sau 10 năm bền bỉ kháng chiến theo kiểu chiến tranh du kích, đã bắn chết tướng Đỗ Thư và chiến thắng quân Tần. Sau đó An Dương Vương xây thành Cổ Loa.

Văn hoá thị tộc là nền văn hoá cơ sở của xã hội nguyên thuỷ, bao gồm nhiều gia đình lớn, có cùng một tổ tiên và có nền kinh tế chung: có chung tư liệu sản xuất, lao động tập thể và hưởng chung thành quả lao động. Các thị tộc của người Bách Việt sống theo tổ chức xã hội này. Hạt nhân của chế độ công xã nguyên thuỷ này là thị tộc mẫu quyền, được gặp thấy trong cả 3 nền văn hoá Bắc Trung Nam, cho đến khi người Việt sống dưới chế độ Bắc thuộc mới đổi sang chế độ phụ quyền. Nền văn hoá thị tộc ngoài việc đề cao sức mạnh cơ bắp để lao động kiếm ăn, còn mang đặc tính đề cao sự sinh sản để bảo tồn thị tộc, do đó ta thấy người Việt cả 3 miền đều có tín ngưỡng phồn thực, thờ sinh thực khí (linga và yoni) và thờ hành vi giao phối[215].

Văn hoá thị tộc theo mẫu quyền còn nổi bật với tín ngưỡng thờ thần Mẫu. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới. Đạo Mẫu này càng phát triển hơn trong nền văn hoá nông nghiệp (các bà thần Mây, Mưa, Sấm chớp), sau này hoà nhập cả với đạo Lão và đạo Phật du nhập từ Trung Hoa (với Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Các vị thần Mẫu được nhiều nơi tôn kính: Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải ở miền Bắc; Tứ Vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành, Thiên Y A Na ở miền Trung; Bà Chúa Động, Bà Chúa Xứ, Bà Đen ở miền Nam. Ngày 1/12/2016, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể, đại diện của nhân loại[216].

1.2. Nền văn hoá Nông nghiệp

Trong khi những bộ tộc người Việt ở vùng núi còn giữ nét văn hoá thị tộc thì những người Việt ở vùng đồng bằng hình thành nên nền văn hoá nông nghiệp với một số giá trị mới. Nền văn hoá này tồn tại hầu như trong suốt dòng lịch sử dân tộc bao lâu đa số dân tộc Việt còn theo nghề nông. Tuy nhiên, nó đã được chuyển hoá và biến đổi sâu sắc từ năm 1945, khi làn sóng đô thị hoá và những ý thức hệ mới tràn vào nước ta.

Có nhiều học giả nghiên cứu về nền văn hoá nông nghiệp lúa nước vùng Đông Nam Á ở phương Đông đã so sánh với nền văn hoá du mục của các nước Âu Mỹ ở phương Tây và trình bày tính đối cực giữa hai nền văn hoá[217]. Thật ra, sự so sánh này mang tính chất gò ép, thiếu tự nhiên. Lý do là những nhà nghiên cứu này bỏ qua giai đoạn văn hoá thị tộc nguyên thuỷ, khi con người còn mông muội, tôn thờ các thế lực thiên nhiên và theo chế độ mẫu hệ. Hơn nữa, kể từ khi con người thuần hoá được các giống lúa mì và lúa gạo, vào khoảng 3500-3000 năm TCN, thì cả phương Tây lẫn phương Đông đều sống theo văn hoá nông nghiệp. Cuối cùng, nếu có dịp sang các nước phương Tây, ta sẽ thấy vùng đất dành cho việc chăn nuôi với những đồng cỏ chỉ chiếm phần diện tích rất nhỏ so với các vùng trồng lúa mì và các nông sản khác.

Những giá trị của nền văn hoá nông nghiệp:

– Trọng tĩnh: nghề trồng trọt buộc con người sống định cư, chờ một thời gian lâu để cây trồng sinh hoa, kết trái và thu hoạch, nên con người trọng đời sống an tĩnh (an cư lạc nghiệp), nhà cửa ổn định, không thích di chuyển.

– Hoà hợp với thiên nhiên: nghề trồng trọt phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào thiên nhiên (mưa thuận, gió hoà, mưa nắng nhờ Trời) nên con người tôn thờ các sức mạnh thiên nhiên, rút ra nhiều kinh nghiệm từ thiên nhiên (được mùa lúa, úa mùa cau; nhiều nắng tốt dưa, nhiều mưa tốt lúa)…

– Trọng đức, trọng tình, trọng nghĩa, trọng văn: do sống chung với nhau thành từng làng, trong một không gian tương đối hẹp, có luỹ tre bao bọc cũng như cùng làm việc chung với nhau, đổi công cho nhau, nên cộng đồng trọng những người có đức hạnh, có tình nghĩa để bảo đảm cho đời sống chung được tốt đẹp. Nhờ sống gần nhau, dễ dàng bảo vệ lẫn nhau nên người ta trọng những nét đẹp của văn hoá hơn võ thuật, tài trí. So với những dân tộc sống theo kiểu du mục: từng gia đình sống riêng rẽ, để đưa đoàn gia súc của mình đi từ đồng cỏ này sang đồi núi khác, hằng ngày phải đối mặt với thú dữ, bất kể thời tiết nắng mưa, sống thế nào cũng không bị ai kết án nên người dân du mục trọng võ, trọng tài, trọng lý, trọng vật.

Thật ra, những giá trị của văn võ, tài đức, lý tình, nghĩa vật đều lệ thuộc vào nhận thức của con người về giá trị của chúng. Khi có một nhận thức đầy đủ và toàn diện về nền văn hoá, người ta sẽ thấy cần phải văn võ song toàn, tài đức trổi vượt, tình lý trọn vẹn, nghĩa vật cân bằng.

– Ứng xử linh hoạt và khoan dung: do không thể chống lại thiên nhiên và cộng đồng bằng sức mạnh cá nhân và tài trí, nên người theo văn hoá nông nghiệp thường ứng xử linh hoạt (ở bầu thì tròn, ở ống thì dài), dễ bị hùa theo đám đông (xấu đều hơn tốt lỏi), âm thầm chịu đựng những chướng ngại vật trên đời (tránh voi chẳng xấu mặt nào), nhẫn nại làm việc và hy vọng sẽ qua được cơn hoạn nạn, thiên tai (ngày mai trời lại sáng).

– Văn hoá nông nghiệp dễ tiếp nhận sự khác biệt của các ý thức hệ, các tôn giáo như đã quen chịu đựng nắng mưa, bão lụt của trời đất. Nhưng thái độ linh hoạt này lại có thể dẫn đến thái độ ứng xử ba phải (cái gì cũng đúng), thiếu chính xác trong giờ giấc vì đã quen hành động theo con nước hay theo mùa mỗi năm, đối xử với nhau theo tình cảm nên thiếu khách quan, thiếu nguyên tắc trong tổ chức, thiếu tôn trọng pháp luật (một bồ cái lý không bằng một tí cái tình; yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười; yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng).

2. Văn hoá thời kỳ Bắc thuộc (111 TCN-938)

2.1. Lịch sử

Năm 179 TCN, nước Âu Lạc do An Dương Vương lập nên bị Triệu Đà, vua nước Nam Việt xâm chiếm, rồi bị nhà Hán độ hộ từ năm 111 TCN cho đến khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 và lập chủ quyền cho đất nước.

Người Việt liên kết với nhau trong các cộng đồng làng xã, bảo tồn tiếng Việt và các phong tục trong cộng đồng (phép vua thua lệ làng), chống lại các chính sách đồng hoá của người Trung Quốc. Nhưng người Việt cũng biết mở lòng, mở trí đón nhận những giá trị mới mẻ của nền văn hoá phương Bắc để làm giàu nền văn hoá bản địa, tăng thêm tiềm lực cho đất nước và dự trữ sức mạnh cho những cuộc khởi nghĩa sau này.

Đó là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), Lý Bí (năm 542), Mai Thúc Loan (năm 720), Phùng Hưng (766-791) cuối thế kỷ VIII. Cuối thế kỷ II, nhân dân Chămpa cũng khởi nghĩa thành công lập nên vương quốc Chămpa độc lập. Đầu thế kỷ X, cuộc đấu tranh của người Việt dẫn đến việc thành lập chính quyền tự chủ của Khúc Thừa Dụ (905-930), Dương Diên Nghệ (931-937) và kết thúc bằng chiến thắng của Ngô Quyền mở ra thời kỳ độc lập, phục hưng dân tộc.

Chính quyền Trung Quốc đưa sang Việt Nam một số quan lại, đứng đầu là Thái thú do hoàng đế bổ nhiệm, mang theo gia đình đến sống ở Việt Nam và một số binh lính, đứng đầu là Đô uý, để ổn định trật tự xã hội. Thái thú và quan lại có nhiệm vụ thu thuế và thu nạp các cống phẩm của địa phương, thường là sản vật quý, để dâng nộp về triều đình trung ương theo các hạn định được giao. Các thương nhân người Trung Quốc đi theo đoàn quân để mua những sản vật quý hiếm và bán các sản phẩm của Trung Quốc, đặc biệt là tơ lụa, giấy mực, bàn tính, thuốc Bắc chữa bệnh và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho người giàu có ở Việt Nam. Nhiều nhà sư Trung quốc sang tìm những nơi an tĩnh để tu luyện và truyền đạo cho dân chúng.

Những người Trung Hoa này giới thiệu nền văn hoá Trung Quốc cho người Việt. Nhưng hầu như họ chỉ tiếp xúc được với những người giàu sang, quyền quý chứ ít ảnh hưởng được đến quần chúng nông thôn. Một số người Việt học chữ Hán để làm thông ngôn cho người Trung Hoa hoặc ra làm các nhân viên hành chính, thư lại trong tổ chức chính quyền, nhưng họ lại bị dân chúng khinh bỉ, cho là làm tay sai cho kẻ thù. Chính vì người Việt muốn bảo tồn nòi giống nên hầu như không lập gia đình với người Tàu.

2.2. Văn hoá nông nghiệp với tinh thần phản kháng

Người Việt giữ nguyên những nét căn bản của nền văn hoá nông nghiệp vì hầu hết vẫn sinh sống trong những làng xã và hành nghề nông với đời sống tự cung, tự cấp. Với ý thức phản kháng người Trung Quốc, người Việt vẫn giữ cách ăn mặc, nói năng của mình.

– Tổ chức gia đình và xã hội có sự thay đổi lớn: văn hoá dần dần nghiêng về chế độ phụ hệ, người cha là rường cột trong gia đình, gia đình trọng nam khinh nữ, xã hội theo chế độ đa thê cho phép người đàn ông có nhiều thê thiếp. Xã hội nông nghiệp cần nhiều nhân công để lao động, nên dễ dàng đón nhận các giá trị văn hoá mới này.

– Thái độ ứng xử cá nhân: chính quyền dùng chính sách chia để trị, nên gây chia rẽ giữa các địa phương, dòng họ, cá nhân với nhau khiến người Việt thường nghi ngờ, ngại ngùng với người lạ, không dám bày tỏ hay đóng góp ý kiến của mình, im lặng trước bất công khiến người khác tưởng lầm họ là kẻ đồng loã, thường tỏ thái độ bên ngoài hoà hoãn, chịu đựng, nhưng bên trong chỉ muốn ăn tươi, nuốt sống quân thù. Họ có thói quen giả vờ đồng thuận, không nói thật lòng mình, nói xấu kẻ thù vắng mặt, bao che cho đồng bào trước nỗi bất công, cùng giúp nhau lấy cắp của công vì tất cả tài sản công đều do chính tay họ làm ra. Họ thường tỏ vẻ chăm chỉ làm việc trước mắt kẻ xâm lược, nhưng khi kẻ thù quay lưng là họ ngưng làm hay chỉ làm việc cầm chừng vì không muốn làm lợi cho kẻ thù.

Nét văn hoá ứng xử này trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ đã tạo thành bản sắc của người Việt, nên khi không còn sống dưới ách kẻ xâm lăng, nhiều người Việt vẫn giữ bản sắc đó. Thái độ này cần được sửa sai bằng những nhận thức mới về giá trị con người, về công bằng xã hội, bằng những kỹ năng làm việc chung và hợp tác với nhau vì công ích, và bằng nhận thức về một Thiên Chúa, một ông Trời nhìn thấu mọi sự và xét xử công minh.

2.3. Đón nhận một số giá trị mới của văn hoá Trung Quốc

Qua việc tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với người Trung Quốc, người Việt nhận ra nhiều giá trị mới của văn hoá Trung Quốc.

Trước hết là sức mạnh quân sự với chiến lược, vũ khí, hoả pháo, chiến thuyền khiến người Trung Quốc thắng được Việt Nam. Tiếp theo là chữ viết và văn hoá Trung Quốc trổi vượt so với tiếng Việt còn non trẻ. Chữ Việt lúc đó có thể còn thô sơ như tài liệu các bộ chữ chữ Việt Mường còn chứng minh. Trước khi bị người Trung Quốc đô hộ, nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có chữ viết riêng, gọi là chữ Khoa Đẩu, giống hình con nòng nọc[218]. Nhưng sau khi các thái thú Tích Quang (khoảng năm 2-3), Nhâm Diên (khoảng năm 29) dạy văn hoá Khổng Mạnh, dạy dân làm ruộng thay vì săn bắn, dạy nghi lễ cưới gả Trung Hoa cho dân chúng, thì người dân bắt đầu theo văn hoá Trung Quốc. Nhất là sau khi thái thú Mã Viện tận thu các trống đồng (năm 43) thì chữ Việt Cổ hầu như biến mất trong cộng đồng người Việt.

Năm 187 Sĩ Nhiếp được cử giữ chức thái thú quận Giao Chỉ đưa hàng trăm trí thức người Hoa sang dạy chữ Hán cho người Việt[219]. Qua chữ Hán và văn học Trung Quốc, người Việt tiếp thu nhiều hệ thống giá trị mới, được gọi là Tam giáo Đông Phương: Nho, Phật, Lão. Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với quần chúng bình dân vì tôn giáo này phù hợp với hoàn cảnh bị áp bức của dân chúng, giải nghĩa được đau khổ qua định luật nhân quả, luân hồi, tiền kiếp. Nho giáo được phổ biến hạn hẹp hơn trong giới trí thức với Tứ thư Ngũ kinh về các mối tương quan xã hội như tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), ngũ luân (tam cương cộng thêm 2 mối tương quan mới: huynh đệ, bằng hữu), với ngũ thường (năm đức tính căn bản: nhân nghĩa lễ trí tín), về các cách sống để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Lão giáo chủ trương hoà nhập với thiên nhiên, giữ lòng thanh tịnh, không cần phải làm gì (vô vi), với những hình thức biến thể phù hợp với tín ngưỡng bản địa thờ thần Mẫu, thờ các vị thần trong thiên nhiên với các hình thức chầu đồng, thẻ xâm… nên cũng phổ biến trong dân chúng.

Tuy nhiên, các giá trị văn hoá mới này bị người Việt nghi ngờ, nhiều làng xã tẩy chay, vì người Việt vẫn ý thức về ý đồ bành trướng, đồng hoá của người Trung Quốc.

3. Văn hoá thời kỳ quân chủ độc lập (938-1945)

3.1. Lịch sử: thời kỳ này kéo dài 10 thế kỷ, từ thế kỷ X đến thế kỷ XX, với ba triều đại nhỏ: Ngô (939-965), Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009); 4 triều đại lớn: Lý (1009-1225), Trần (1226-1400), Lê (1428-1788), Nguyễn (1802-1945); xen kẽ với 3 triều đại nhỏ là Hồ (1400-1407), Hậu Trần (1407-1414), Tây Sơn (1788-1802).

Triều Lý dời đô về thành Đại La (Hà Nội) đổi tên là Thăng Long, đặt quốc hiệu là Đại Việt. Người Việt ra sức củng cố nền độc lập bằng việc xây dựng đất nước trên mọi lĩnh vực để trở thành một quốc gia cường thịnh. Người Việt nhiều lần chống lại các cuộc xâm chiếm của người Trung Quốc ở phía Bắc: 2 lần chiến thắng quân Tống (980-981; 1076-1077), 3 lần thắng quân Mông Nguyên (1258, 1285, 1287-1288). Lê Lợi thắng quân Minh sau 10 năm chiến đấu (1418-1427), Quang Trung Nguyễn Huệ đánh bại quân Xiêm (1784-1785) ở phía Nam và đập tan quân Thanh ở phía Bắc (1788-1789).

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, công cuộc phục hưng dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới với nền văn hoá mới mà trung tâm là Thăng Long, Hà Nội. Nhưng từ thế kỷ XVI, chế độ quân chủ tập quyền và quốc gia thống nhất bị khủng hoảng, đất nước bị phân hoá chia thành Nam – Bắc triều, Đàng Ngoài – Đàng Trong với cuộc nội chiến Lê – Mạc (1533-1592), Trịnh – Nguyễn (1627-1772). Tuy nhiên, nền kinh tế và văn hoá vẫn phát triển trong từng vùng, nhất là các cảng biển. Công cuộc mở rộng, khai phá đất nước về phía Nam cho tới đồng bằng sông Cửu Long vẫn được tiến hành.

Từ thế kỷ XVI, quan hệ giao thương với nước ngoài phát triển mạnh, dẫn đến sự phồn vinh của nhiều đô thị, cảng biển. Văn hoá dân tộc phát triển và giao lưu với các nước trong khu vực và một số nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Đây cũng là thời kỳ Thiên Chúa giáo bắt đầu được truyền bá tại Việt Nam. Các làng nghề thủ công phát triển ở miền Bắc với nghề ươm tơ tằm, dệt lụa và ở miền Trung, miền Nam với nghề làm đồ gốm. Đây là những sản phẩm để trao đổi với nước ngoài.

Triều đại Tây Sơn, với vua Quang Trung Nguyễn Huệ, có nhiều chính sách cải cách về ruộng đất và văn hoá (coi trọng chữ Nôm) có lợi cho người dân, nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Chúa Nguyễn Ánh, với sự giúp đỡ của người Pháp, đã đánh bại nhà Tây Sơn, mở đầu triều đại nhà Nguyễn khi lên ngôi vua năm 1802, đóng đô ở Phú Xuân, Huế, đặt quốc hiệu là Việt Nam. Trước sức mạnh quân sự, kỹ thuật vượt trội của phương Tây, triều Nguyễn không có những cải cách để khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước, dùng chính sách bế quan toả cảng và hệ tư tưởng Nho giáo chống lại hệ tư tưởng Thiên Chúa giáo nên dẫn đến cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1858-1884) và nước ta rơi vào vòng nô lệ phương Tây (1884-1945).

3.2. Văn hoá

Người Việt vẫn giữ được những nét tiêu biểu của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước: trọng tình nghĩa, trọng đức hạnh. Người Việt nhận ra giá trị cao cả, linh thiêng của đất nước vì đã phải trả giá đắt cho nền độc lập và tự do của dân tộc qua các cuộc chiến tranh nên rất có tinh thần ái quốc, chống lại mọi hình thức xâm lược của người Trung Quốc ở phía Bắc và những người Tây phương ở miền Nam. Do phải chịu những cuộc nội chiến từ thế kỷ XVI- XIX, phải đóng sưu cao thuế nặng cho các cuộc nội chiến này nên người Việt thấy đời sống có vẻ tạm bợ, nặng nề, cực khổ và thường có tâm trạng bi quan, thiếu vẻ dấn thân, yêu đời.

Phật giáo chiếm địa vị độc tôn về tín ngưỡng trong dân chúng, nhất là trong 2 triều Lý Trần, với những vị quốc sư như Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh… hoặc vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông cũng là những nhà Phật học lỗi lạc. Làng nào hầu như cũng có chùa. Chính quyền cũng xây dựng nhiều chùa và phổ biến tư tưởng Phật giáo cho quần chúng. Hoàn cảnh phân hoá và các cuộc nội chiến càng củng cố tư tưởng chủ đạo của Phật giáo cho đời là vô thường, là bể khổ và dạy con người ăn ngay ở lành để được đầu thai vào kiếp sau tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, vì được quần chúng tôn trọng, chính quyền ưu đãi, nên nhiều vị tu hành lại đánh mất tư cách đạo đức. Ca dao Việt Nam còn để lại nhiều lời chê trách các người tu sĩ ấy (Ba cô đội gạo lên Chùa…). Từ triều Lê trở đi, Phật giáo không còn chiếm địa vị độc tôn, dân chúng quay trở về với việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đạo Mẫu và thờ các vị Thành Hoàng.

Khổng giáo hay Nho giáo là hệ thống tư tưởng, đạo đức, chính trị do Đức Khổng Tử lập ra và được các đồ đệ khai triển nhằm tổ chức một xã hội ổn định, trật tự, kỷ cương ở trần thế, chứ không quan tâm đến những chuyện thần thánh ở thế giới mai sau, dù trong văn bản nền tảng là Tứ Thư, Ngũ Kinh có nói đến Trời, đến Thiên (thiên mệnh của nhà vua, vua là thiên tử có toàn quyền sinh sát: quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung). Nhà nước phong kiến đã sử dụng Khổng giáo làm công cụ để bảo đảm quyền lực nên đã chọn làm quốc giáo. Triều Lý đã lập Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử năm 1070, lập Quốc Tử Giám năm 1076 và tổ chức học hành, thi cử, đào tạo công chức làm việc cho chính quyền. Nho giáo chiếm lĩnh đời sống tinh thần qua những văn thơ, kinh sách được phổ biến trong dân chúng và dần dần chiếm thế độc tôn từ thế kỷ XV trở đi, nhất là trong thế kỷ XVIII-XIX. Làng nào cũng có người đi học, đi thi. Đình làng được sử dụng như một chỗ để hội họp cộng đồng nhưng cũng là nơi thể hiện các nghi thức tế tự của Khổng giáo. Hệ thống tư tưởng Nho giáo tuy giữ cho dân tộc ổn định trong thời đại nhiễu nhương nhiều thế kỷ, nhưng lại kìm hãm sự phát triển, đổi mới, mở ra cho khoa học tiến bộ của con người và dân tộc. Những nhà trí thức thường chỉ quanh quẩn với những vần thơ, bài phú ca tụng dòng họ, tìm danh lợi trong chốn quan trường.

Bắt đầu từ thế kỷ XVI, những giá trị mới của Kitô giáo bắt đầu được truyền bá ở Việt Nam tạo nên những xung đột dữ dội với hệ thống tư tưởng của Khổng giáo. Nhờ thông thạo tiếng Việt và sáng chế ra cách ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh thay cho chữ Nôm, các nhà truyền giáo dòng Tên từ năm 1615-1665 đã giới thiệu những giá trị nền tảng của Kitô giáo về nền dân chủ, về gia đình một vợ một chồng sống chung thuỷ với nhau suốt đời, về sự bình đẳng nam nữ vì đều có nhân phẩm như nhau, về những khoa học thường thức để giúp cho đời sống khoẻ mạnh và tươi đẹp nên được nhiều người Việt đón nhận.

Sau khi quân đội Pháp bắn thị uy vào cảng Đà Nẵng năm 1847 và nhanh chóng chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, cuộc bách hại người Công Giáo trở nên hết sức khốc liệt vì vua quan đổ tội cho người Công Giáo theo gót kẻ xâm lăng. Nhiều đám dân chúng cũng hùa theo quân lính triều đình cướp phá các làng trù phú của người Công Giáo với khẩu hiệu “bình Tây sát Tả”. Tuy nhiên nhiều nhà Nho nổi tiếng yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ ngoại hầu Cường Để, Lương Văn Can, qua các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, đã minh oan cho người Công Giáo và hô hào toàn dân hãy đón nhận những giá trị mới về dân chủ, bình đẳng nam nữ, hôn nhân một vợ một chồng, chữ Việt và tinh thần cởi mở với khoa học kỹ thuật của người Công Giáo[220]. Những giá trị của nền văn hoá Công Giáo đã được toàn dân Việt đón nhận để bước vào một giai đoạn mới của đất nước.

4. Văn hoá thời kỳ phát triển và hội nhập với thế giới (1945- nay)

4.1. Lịch sử. Từ năm 1930, Hồ Chí Minh và một số nhà ái quốc theo ý thức hệ Cộng sản để giải phóng đất nước. Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng, những người Cộng sản Việt Nam tiến hành cuộc Cách Mạng tháng Tám năm 1945. Ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Ngày 23/9/1945, quân đội thực dân Pháp tiến công Sài Gòn, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, qua Hiệp định Genève, quân Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Việt Nam được chia thành 2 miền theo hai ý thức hệ khác nhau: miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng sản với tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, miền Nam theo chủ nghĩa Tư bản với tên nước là Việt Nam Cộng Hoà. Hai miền lại bắt đầu chiến tranh khốc liệt cho đến ngày 30/4/1975, khi quân đội Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng vì chính quyền Hoa Kỳ tìm lợi ích kinh tế trước một nước Trung Quốc với hơn một tỷ người, không còn yểm trợ cho chính quyền của Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tranh bảo vệ tự do và giá trị con người, trong khi Liên Xô và Trung Cộng vẫn hỗ trợ chính quyền Cộng sản miền Bắc.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Đông Đức, Hungary, Bungary, Romania, Tiệp Khắc và nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, Đức, năm 1989, dẫn đến việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991. Kết quả là Nga và 14 quốc gia của khối Liên Xô tuyên bố độc lập. Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 tuy không thành công trong việc kích thích sự thay đổi chính trị lớn ở Trung Quốc, nhưng lại ảnh hưởng đến những phần khác của thế giới. Chế độ Xã hội Chủ nghĩa đã bị bãi bỏ ở các nước như Mông Cổ, Campuchia, Ethiopia và Nam Yemen. Theo xu hướng đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam buộc phải đổi mới để tồn tại. Cuộc hội nhập vào nền văn hoá thế giới của dân tộc Việt Nam bắt đầu từ 1986 khi Đảng Cộng Sản Việt Nam công bố thời kỳ đổi mới và kéo dài đến ngày nay.

Việt Nam gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) vào ngày 7-11-2006, và được công nhận là thành viên chính thức của tổ chức này vào ngày 11-1-2007. Việc gia nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho người Việt hoà nhập vào nền văn hoá thế giới với xu hướng đô thị hoá, hiện đại hoá nhờ khoa học kỹ thuật và mở ra với mọi nguồn văn hoá đại chúng nhờ sách báo, phim ảnh, truyền hình, internet và điện thoại thông minh.

4.2. Văn hoá

Những giá trị văn hoá được tạo nên trong thời kỳ xung đột mãnh liệt giữa các ý thức hệ khi hai miền Nam Bắc trở thành tiền đồn của hai thế giới Tư bản và Cộng sản, cũng như những giá trị văn hoá của các dân tộc phản ánh tâm tư của nhân loại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử, đều đáng trân trọng. Chúng giống như những chất liệu đường, chanh, muối, nước, tự bản thân và để riêng rẽ thì rất tốt, nhưng khi hoà trộn vào nhau mà không được điều chỉnh định lượng cho phù hợp thì không thể trở thành ly nước chanh ngon ngọt, bổ dưỡng, trái lại, còn làm nguy hại đến sức khoẻ con người. Đấy là trường hợp của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển với thế giới hiện nay khi có quá nhiều những giá trị đối chọi nhau.

Nhiều giá trị trong nền văn hoá truyền thống bị loại bỏ như niềm tin vào Trời, giá trị của các tôn giáo, vì một số người quá say mê cái mới, nhất là khi chính quyền công khai loại bỏ chúng ra khỏi chương trình giáo dục, đào tạo con người. Nhiều người trẻ choáng ngợp trước vẻ hào nhoáng của khoa học hiện đại nên bỏ hết những kinh nghiệm ngàn đời của tổ tiên. Người ta bị cuốn hút vào cơn lốc xoáy của việc hưởng thụ vật chất, đánh giá nhau theo những phương tiện, bằng cấp, tài sản bên ngoài, nên không còn trọng tình nghĩa, đức hạnh, từ đó gây nên sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình, suy thoái trầm trọng đạo đức xã hội[221]. Tội ác, tham nhũng, bất công và nhiều tệ nạn xã hội tràn lan khắp nơi. Vấn đề cần giải quyết là chính quyền cũng như mỗi người dân nhận thức được giá trị của việc hội nhập văn hoá và thực hiện việc hội nhập này như thế nào cho có kết quả tốt đẹp.

Lời kết

Vì thế, khi tìm hiểu về cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam và kết quả hiện nay của nền văn hoá dân tộc, mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm phân định những giá trị nào cần tiếp tục gìn giữ và phát huy, giá trị nào nên loại bỏ hoặc điều chỉnh mức độ hợp lý tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Dù đây là trách nhiệm nặng nề của chính quyền và những người lãnh đạo trong cộng đồng xã hội, nhưng cá nhân mỗi người, như một thực thể chịu ảnh hưởng của văn hoá, vẫn là chủ thể tác động vào nền văn hoá và thay đổi được những giá trị cho thế hệ tương lai. Như thế chúng ta vẫn có quyền sống trong niềm tin và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp cho từng người cũng như cho dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn đã thu nhận được những giá trị nào trong dòng lịch sử văn hoá của dân tộc?

2.Bạn hãy liệt kê những giá trị lỗi thời mà hiện nay người Việt đang nắm giữ và đề nghị sửa đổi bằng giá trị nào của nền văn hoá Công Giáo?

Bài 10 : Cấu trúc văn hoá-xã hội của người Việt và việc xây dựng nền văn hoá

Lời mở

Muốn cho việc hội nhập văn hoá của mỗi người hay của cả dân tộc có kết quả tốt đẹp, chúng ta cần phải hiểu rõ cấu trúc văn hoá của con người, môi trường xã hội của họ đang sống ra sao để tìm ra những điểm thuận lợi hay bất lợi cho công việc này. Vì thế, việc nghiên cứu cấu trúc văn hoá – xã hội của người Việt là một việc cần làm cho tất cả những ai muốn dấn thân xây dựng nền văn hoá cho chính mình cũng như cho dân tộc.

Chúng ta có thể nói rằng trong hầu hết các hoạt động xã hội ở nước ta, con người VN vừa là chủ thể và cũng là đối tượng của các hoạt động. Chính người VN nghiên cứu và hình thành các dự án xã hội, rồi cũng chính họ thực hiện, giám sát, quản lý dự án để phục vụ và làm cho đồng bào được ấm no, hạnh phúc và phát triển toàn diện con người. Tuy nhiên, nhiều dự án đã thất bại, nhiều công trình bị bỏ dở dang chỉ vì người ta không chú ý đến cấu trúc văn hoá – xã hội của người Việt.

Đứng trước thực tế đau xót của xã hội với nhiều vấn đề cấp thiết cần giải quyết cũng như trước tình trạng đạo đức suy đồi, chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao lại xảy ra như thế và phải làm gì để sửa đổi? Đã có rất nhiều bài nghiên cứu và ý kiến đề xuất hành động của cá nhân và tập thể trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá… Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng vấn đề cơ bản vẫn là đào tạo- giáo dục con người Việt Nam, nhưng muốn đào tạo-giáo dục cho có kết quả phải hiểu rõ con người và cấu trúc của nó.

1. Cấu trúc văn hoá xã hội của người Việt

1.1. Nhận định chung về con người Việt Nam

Xét về mặt văn hoá, con người VN bị tác động bởi những yếu tố địa lý, lịch sử đã kết thành một thực thể phức tạp với nhiều đức tính và khuyết điểm. Chúng tôi tin rằng, chỉ khi hiểu rõ thật sự con người, ta mới có thể giải quyết những vấn đề trong gia đình và xã hội vì “sự thật sẽ giải phóng chúng ta” (Ga 8,32) dù sự thật ấy có thể làm chúng ta buồn lòng.

Nói đến con người VN, chúng ta có thể nhắc đến nhiều điều kỳ diệu, và những đức tính tốt đẹp được nhiều người đã không ngớt lời ca tụng như Toan Ánh trong bộ Nếp Cũ – Con người VN; Sơn Nam trong Người Sài Gòn; Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa, nhất là Vũ Hạnh (A. Pazzi) trong Người Việt kỳ diệu… Những lời ca tụng đó có thể ru ta vào giấc mộng đẹp của quá khứ mà không dám nhìn thẳng vào thực tế để giải quyết những vấn đề hiện nay.

Chúng ta cần nhìn rõ con người VN để nhận ra cả hai mặt tốt, xấu, nhất là mặt xấu mà ít người dám nói vì sợ bị kết tội “vạch áo cho người xem lưng”. Nhà văn Bá Dương đã dám viết Người Trung Hoa xấu xí, được Nguyễn Hồi Thủ dịch sang tiếng Việt. Những bài viết này tác động mạnh đến dân tộc ông cũng như đóng góp nhiều cho công cuộc phát triển đất nước Trung Hoa. Chỉ trong vòng 50 năm qua, từ một dân tộc lạc hậu, chậm phát triển, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc, và nhiều lĩnh vực vượt cả các nước ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức và cả Hoa Kỳ. Dân tộc Việt Nam ta đâu có thua kém người bạn láng giềng!

Nhiều tổ chức quốc tế đã có những nghiên cứu lớn về con người VN, thí dụ như Viện Nghiên cứu Xã hội Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu rất đáng cho chúng ta lưu ý. Viện này đã đưa ra 10 đặc điểm của người VN như sau:

1- “Cần cù lao động, song để thoả mãn, nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.

2- Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tư duy dài hạn, chủ động.

3- Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm).

4- Vừa thực tế, vừa mở rộng, song lại không có ý thức nâng cao lên thành lý luận.

5- Ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh, song ít học từ đầu đến đuôi nên kiến thức không có hệ thống, mất căn bản. Ngoài ra, học tập không phải vì tự thân của mỗi người (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, vì đam mê).

6- Xởi lởi, chiều khách, song không bền.

7- Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời).

8- Có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, những trường hợp khó khăn, bần hàn; còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này ít xuất hiện.

9- Yêu hoà bình, nhẫn nhịn, nhưng nhiều khi lại hiếu chiến, hiếu thắng vì những lý do tự ái lặt vặt làm đánh mất đại cuộc.

10- Thích tự lập, nhưng lại thiếu tình liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng)”.

Những nhận định trên đây và những kết quả nghiên cứu khác có thể giúp ích nhiều cho chúng ta, nhưng tiếc là chúng chưa trình bày các lý do hình thành nên cấu trúc văn hoá xã hội của người Việt cũng như tìm ra được đường hướng sửa chữa những khuyết điểm trong cấu trúc. Điều này có lẽ cần đến sự nghiên cứu và làm việc lâu dài hơn của các nhà giáo dục, tâm lý, xã hội học.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi dùng phương pháp phân tích con người và hoàn cảnh văn hoá, xã hội để nêu lên một số điểm khái quát về con người VN thời xa xưa và hiện tại để giúp các nhà nghiên cứu tìm ra đường hướng đào tạo con người VN.

2. Về mặt địa lý

Nước VN là một dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía Đông bán đảo Đông Dương. Dù cùng một nguồn gốc, nhưng người VN lại rất khác với người Trung Hoa ở phía Bắc, với người Thái, người Lào và Campuchia ở phía Tây, vì những rặng núi hình rẻ quạt ở phía Bắc và dãy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây đã ngăn cách các dân tộc đó với người VN, ngăn cản phần nào sự hoà nhập của các nền văn hoá khác nhau. Phía Đông, Nam và Tây Nam của đất nước là Biển Đông và Ấn Độ Dương. Nền văn hoá dân tộc được xây dựng theo truyền thuyết những người con theo mẹ lên núi hái thuốc thành tiên và theo cha xuống biển vượt khó thành rồng. VN có 2.860 con sông có chiều dài từ 10km trở lên (x. Vũ Thế Bình, Non nước Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.9), trong đó có nhiều hệ thống sông lớn như sông Mêkông, sông Hồng.

Gắn bó với núi cao, biển rộng, sông dài nên người VN thường có nhiều tình cảm cao thượng, biết nhìn xa trông rộng và gần gũi với thiên nhiên. Những tâm tình tốt đẹp này hình như đang bị sói mòn và biến chất, đặc biệt với làn sóng đô thị hoá hiện nay, nơi những cư dân thành thị sống trong những toà nhà cao tầng, những căn phòng nhỏ hẹp che chắn tầm mắt con người.

Hướng tiến bị bên núi, bên biển ngăn cản buộc dân tộc phải hướng về phía Nam từ đồng bằng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc (rộng 15.000km2), vượt qua các đồng bằng nhỏ hẹp ở miền Trung để vào tới đồng bằng sông Cửu Long (rộng 40.000km2) ở miền Nam. Bước chân khai phá của người Việt chỉ dừng lại trước biển cả ở cực Nam đất nước, nhưng thiên nhiên vẫn ưu đãi cho dân Việt nên bờ cõi tiếp tục mở rộng về phương Nam vì hằng năm đồng bằng Nam Bộ vẫn trải rộng lấn về phía biển từ 60-80m, do phù sa của các con sông Cửu Long bồi đắp.

Người Việt, với tâm hồn của những người tiên phong khai hoang dựng nước, đã không sợ hiểm nguy, dám đối đầu với những thử thách, bất trắc của cuộc sống, đã viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Vì thế càng tiến vào niềm Nam, người Việt càng hành động phóng khoáng, cởi mở và liều lĩnh hơn.

Khí hậu cũng ảnh hưởng khá nhiều đến tâm tính con người, tình trạng gia đình và hoạt động xã hội. VN nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới của nửa cầu Bắc, nghiêng về chí tuyến hơn là xích đạo nên có nhiệt độ cao, trung bình từ 220C-270C. Hằng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 -2.000ml/cm2, độ ẩm khoảng 80%, số giờ nắng khoảng 1.500-2.000 giờ/năm.

Do ảnh hưởng của gió mùa và địa hình phức tạp, nên khí hậu VN luôn thay đổi trong năm, giữa năm này với năm khác, giữa nơi này với nơi kia (từ Bắc xuống Nam và từ thấp lên cao). Nhìn chung, VN có một mùa nóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh ít mưa. Nhưng khí hậu các tỉnh ở phía Bắc, từ đèo Hải Vân trở ra, thay đổi theo 4 mùa khá rõ rệt với Xuân, Hạ, Thu, Đông. Khí hậu này cũng tạo ra những bất lợi về thời tiết vì Việt Nam bị bão tố, lũ lụt, hạn hán thường xuyên đe doạ (x. Sđd, Non nước Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.11-12).

Do đó, tâm tính người VN có thể nói dễ thay đổi theo kiểu “sáng nắng chiều mưa” hơn những dân tộc sống trong các vùng khí hậu ổn định, ôn hoà. Gia đình từ đó cũng chịu những hậu quả của sự thay đổi thất thường này như: có nhiều cãi vã, xung đột, kém thuỷ chung hơn. Hoạt động kinh tế xã hội cũng chịu sự thay đổi thường xuyên do các quyết định bất nhất của người lãnh đạo. Nhận ra sự tác động của thời tiết, ta sẽ thấy người Việt cần tập tính kiên nhẫn, ôn hoà, ý chí vững mạnh thì mới có thể thực hiện những kế hoạch lâu dài.

3. Về mặt lịch sử

Tiếp đến, chúng ta chú ý hơn về con người VN qua các giai đoạn lịch sử hình thành dân tộc, tức là chú ý đến khía cạnh văn hoá xã hội của người Việt.

3.1. Giai đoạn tiền sử

Người VN có nguồn gốc dân tộc trong khối các chủng Đông Nam Á (Austro-asiatique) hình thành từ 2 đại chủng Á (Mongoloid) và chủng phương Nam (Australoid) vào khoảng 10.000-8.000 năm TCN. Sau đó từ 5.000 năm TCN, chủng Cổ Mã Lai (Indonesian) ở miền Đông Nam Á, phối hợp với các chủng Nam đảo, Nam Á để hình thành nên các nhóm Chàm – Môn Khmer – Việt Mường – Tày Thái – Mèo Dao – Tiền Thái – Tạng Miến – Hán: gồm 54 dân tộc Việt Nam (x. Lê Văn Chưởng, Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Trẻ, 1999, tr.24-27; Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999; Niên giám GHCGVN 2005, NXB Tôn giáo, tr.454-466). Không gian văn hoá gốc VN thời tiền sử là không gian của các dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước, văn minh đồ đồng và ngôn ngữ đơn lập. Sau đó đến những thế kỷ trước Công nguyên, không gian gốc này bị thu hẹp vì các dân tộc ở vùng Nam sông Dương Tử bị người Trung Hoa bành trướng và đồng hoá.

Người Việt có những nét đặc thù của nền văn hoá nông nghiệp: tôn trọng và hoà hợp với thiên nhiên, có lối sống định canh, định cư và nền kinh tế tự cung, tự cấp. Trong mối quan hệ với gia đình, người Việt trọng nữ và nhiều cộng đồng xã hội còn bị ảnh hưởng theo chế độ mẫu hệ. Đời sống nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với gia tộc và xóm làng, trọng tình hơn trọng lý, trọng đức hơn trọng tài, trọng văn hơn trọng võ. Lối nhận thức tư duy thiên về tổng hợp, mang tính chủ quan, theo cảm tính và kinh nghiệm hơn là mang tính phân tích khách quan và hợp lý theo một hệ thống suy tư rõ ràng.

Trong cách ứng xử với môi trường xã hội, người Việt dễ dung hợp trong tiếp nhận, ngay cả trong tín ngưỡng. Ngoài tín ngưỡng bái vật, đa thần, người Việt đón nhận tam giáo Đông Phương: Nho – Phật – Lão, và sau này cả Thiên Chúa giáo. Niềm tin vào một chủ thể tối cao, gọi là Trời mà sau này các tôn giáo khác có thể xác định rõ hơn là Thiên, Chúa Trời, Đức Thượng Đế, Đấng Cao Đài, Đức Allah, Thiên Chúa,.. lúc nào cũng bàng bạc trong tâm hồn người Việt để thúc đẩy họ tin tưởng và sống theo lương tâm ngay chính của mình. Chính niềm tin ấy giúp cho đời sống họ được an vui “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp…”, xã hội được ổn định vì “Trời cao có mắt”, ngăn ngừa những hành động ác đức “Thiên bất dung gian”…

3.2. Giai đoạn thống trị của các đế chế Trung Hoa

Giai đoạn này kéo dài trong 11 thế kỷ, ảnh hưởng không ít tới con người cũng như gia đình và xã hội VN. Năm 179 TCN, nước Âu Lạc do An Dương Vương Thục Phán (257-208 TCN) lập nên với thành Cổ Loa bị Triệu Đà, vua của nước Nam Việt chiếm. Năm 111 TCN, nước Nam Việt bị chuyển sang tay nhà Hán rồi trải qua nhiều đời vua Trung Hoa cho đến năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, trên sông Bạch Đằng, mới khôi phục được nền độc lập cho đất nước.

Dù sống dưới chế độ bóc lột hà khắc với chính sách “chia để trị” của ngoại xâm, người Việt vẫn kiên nhẫn chịu đựng gian khổ, biết chờ thời cơ trỗi dậy với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), Lý Bí (thế kỷ VI), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791). Tuy nhiên, vì sống quá lâu dưới ách thống trị, người Việt có đặc trưng thường nhút nhát, sợ sệt, không dám bày tỏ trực tiếp ý kiến của mình, nhất là trước mặt người lạ. Họ hay giấu diếm tình cảm của mình, chỉ thân thiện vồn vã bên ngoài để tránh cho quân thù khỏi chú ý, làm hại. Họ dễ nghi ngờ vì nghĩ rằng ai cũng có thể là kẻ thù, thiếu tin tưởng và ít cộng tác với người khác, ngay cả với người thân.

Những đặc tính này tạo ra nhiều điểm bất lợi cho đời sống gia đình vì gia đình là một cộng đồng đòi hỏi sự hiệp thông trọn vẹn, sự cởi mở chân thành, tin tưởng và lo lắng cho nhau giữa các thành viên. Nó cũng tác hại rất lớn đến xã hội vì xã hội là một cộng đồng lớn hơn đòi hỏi mọi thành viên phải tin tưởng để cùng hợp tác với nhau lo cho công ích.

Sự chia rẽ thiếu đoàn kết diễn ra khắp nơi, trong mọi ngành nghề, tổ chức của xã hội và cả trong các tổ chức tôn giáo. Dù thời Bắc thuộc đã qua nhưng những di chứng tiêu cực dường như vẫn còn ăn sâu trong tâm hồn người Việt.

Hầu hết người Việt yêu mến quê hương và chống lại kẻ ngoại xâm. Để biểu thị sự bất hợp tác, họ chỉ làm việc cầm chừng và ra vẻ chăm chỉ dưới ánh mắt theo dõi hay dưới làn roi hành hạ của quân thù. Do làm mãi dưới chế độ này người Việt dễ trở thành người làm việc nửa vời, chỉ cố gắng khi có sự quan sát hay theo dõi của người khác thay vì làm việc với sự đam mê hay ý thức trách nhiệm.

Ngoài ra, vì quan niệm tất cả những gì công cộng như vườn cây, đường xá, cầu cống… đều là của chung, do kẻ thù quản lý, nên họ chẳng thiết tha gìn giữ. Hơn nữa, những thứ chung đó cũng là do sưu cao thuế nặng của họ đóng cho Nhà nước đô hộ nên họ nghĩ có lấy cắp của công cũng chỉ là hoàn trả cho mình, thậm chí có người còn cho rằng: “Ăn cắp của công là không có tội”. Thái độ này dễ dẫn đến tệ nạn tham ô, lãng phí của công.

Về mặt gia đình và xã hội, Nhà nước đô hộ Trung Hoa thời đó chỉ nhằm khai thác kinh tế nên không chú ý mấy đến việc xây dựng và giáo hoá dân Việt. Bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá Trung Hoa, xã hội VN thời đó theo chế độ đa thê: người đàn ông có thể có nhiều vợ, nhiều tỳ thiếp, nhất là những người giàu. Nền kinh tế dựa trên nông nghiệp thô sơ, cần có nhiều lao động khoẻ, nên gia đình càng đông con nhiều cháu thì càng tốt, nhất là con trai để nối dõi tông đường. Tinh thần trọng nữ trước đây bị đả phá. Xã hội theo chế độ gia trưởng, mọi quyền hành đều tập trung vào người đàn ông, nên phụ nữ thường bị đối xử bất bình đẳng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Sống trong hoàn cảnh như thế, người phụ nữ phải âm thầm chịu đựng những thua thiệt và áp bức để thờ chồng, nuôi con.

Những người đàn ông làm việc quần quật suốt ngày ngoài đồng, chiều về họ thường tụ tập bên chén rượu để quên đi nỗi vất vả nhọc nhằn. Những chai rượu làm từ nông sản ấy tuy có giúp họ quên đi nỗi cơ cực, nhưng lại ảnh hưởng nặng nề tới sức khoẻ và hạnh phúc gia đình. Khi người đàn ông say khướt trở về nhà, họ trở thành người nóng tính, hay đánh đập vợ con. Rượu đã tàn phá sức khoẻ của họ và làm con cái họ kém thông minh, thân thể yếu ớt. Tình trạng say sưa rất phổ biến ở nông thôn thời trước , và ngay cả bây giờ đối với cư dân thành thị, nhưng chính quyền đô hộ vẫn cố tình làm ngơ, thậm chí ngầm khuyến khích, để giảm bớt sức đấu tranh của dân tộc Việt.

3.3. Giai đoạn độc lập và thống nhất đất nước dưới thời quân chủ

Bắt đầu từ thế kỷ X đến thế kỷ XX, trải qua ba triều đại nhỏ là Ngô (939-965), Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) và bốn triều đại lớn: Lý (1009-1225), Trần (1226-1400), Lê (1428-1788), Nguyễn (1802-1945), xen kẽ với ba triều đại nhỏ là: Hồ (1400-1407), Hậu Trần (1407-1414), Tây Sơn (1788-1802). Người Việt ra sức củng cố nền độc lập non trẻ bằng các cuộc chiến thắng ngoại xâm: Lê Hoàn thắng quân Tống năm 981 và Lý Thường Kiệt thắng quân Tống năm 1077, Trần Hưng Đạo thắng quân Nguyên Mông vào các năm 1258, 1285, 1288, Lê Lợi thắng quân Minh sau mười năm chiến đấu, vua Quang Trung Nguyễn Huệ chiến thắng quân Xiêm (1785) ở Rạch Gầm, Xoài Mút và đại phá quân Thanh vào năm 1789.

Tinh thần ái quốc dâng cao khiến người Việt sẵn sàng hy sinh tình riêng gia đình vì đại nghĩa của đất nước. Bài học của giai đoạn này như giới thiệu cho người Việt, nam cũng như nữ, là phải biết bảo tồn dòng họ của mình, khi mở rộng tình gia đình thành tình gia tộc. Từng cá nhân phải biết hy sinh quyền lợi cho dòng tộc.

Sự gắn bó với dòng tộc đôi khi quá mức khiến nhiều người lại khép kín với đồng bào, chỉ tin tưởng bao che cho những người thân thuộc, tạo nên sự bất công đối với người khác đến độ “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Gắn bó với những người đã khuất trong dòng tộc, người Việt chứng tỏ lòng thảo hiếu qua việc thờ cúng tổ tiên. Người Việt lập bàn thờ tại nhà với bài vị của những người đã khuất, cúng bái trong những ngày sóc, vọng, giỗ, Tết. Việc này tạo lại mối tương quan mật thiết với cả những người sống để xoá đi phần nào sự nghi ngại chia rẽ do thời đô hộ để lại.

Gắn bó với đời sống nông nghiệp, người Việt phát triển tình làng nghĩa xóm và các mối quan hệ đồng hương. Tuy nhiên, vì sống mãi trong luỹ tre làng, thiếu giao tiếp để mở rộng tầm nhìn nên người Việt dễ hướng tới óc cục bộ, hẹp hòi đánh mất tinh thần trọng tài đức, trọng tình nghĩa trước đây. Cộng thêm bản chất nghi kỵ người khác của thời bị đô hộ để lại, óc cục bộ này đã được Nhà nước quân chủ chuyên chế khai thác tối đa trong tổ chức hành chính làng xã, địa phương, dẫn đến việc người Việt khó chấp nhận sự điều khiển, lãnh đạo của người không đồng hương với mình, coi thường luật pháp quốc gia “phép vua thua lệ làng”, coi thường cả những giá trị nhân bản như cạo đầu, bôi vôi, bỏ trôi sông những phụ nữ lầm lỡ, chửa hoang. Óc cục bộ ấy vẫn còn mạnh mẽ trong thời đại ngày nay.

Trong thời kỳ này, chúng ta ghi nhận ảnh hưởng của Tam giáo Đông Phương, đặc biệt là Khổng giáo. Cả ba đều đến từ Trung Hoa, chỉ riêng Phật giáo lại chia làm hai ngả, theo con đường Đồng Cỏ vào miền Bắc VN và theo con đường Hồ Tiêu vào miền Nam VN (x. Nguyên Tạng, Niên Giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam 2005, tr.492-498).

Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến quần chúng bình dân, nhất là dưới thời Lý – Trần, với thuyết Luân Hồi, với Tứ Diệu Đế, với luật Nhân Quả để nuôi dưỡng lòng đạo đức, giải thích cho người dân hiểu về nguồn của bể khổ đời người là do lòng dục, vì thế muốn diệt khổ phải từ khước lòng dục của mình bằng cách theo Bát Chánh đạo.

Khổng giáo hay Nho giáo là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, chính trị do Khổng Tử lập ra nhằm duy trì trật tự của xã hội phong kiến nên ảnh hưởng nhiều đến vua quan và quần chúng trong cách tổ chức xã hội ở Trung Hoa và ảnh hưởng nhiều đến VN. Nho giáo khởi đầu với việc lập Văn Miếu (1070), Quốc Tử Giám và tổ chức thi cử (1076) và càng ngày càng chiếm ưu thế cho đến khi đạt được địa vị độc tôn vào thế kỷ XVIII-XIX. Người VN ứng xử trong các quan hệ cá nhân, gia đình, họ hàng, làng xóm, vua quan theo những chuẩn mực của lễ nghĩa Nho giáo như Tam cương – Ngũ thường, để có thể “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

Những chuẩn mực của Nho giáo có mặt tốt là giữ cho xã hội được trật tự ổn định, nhưng nhà nước quân chủ chuyên chế lại dùng chúng như một phương tiện áp chế con người, khi tôn vinh vua là “thiên tử” (con Trời) nắm trọn quyền sinh sát trong tay “quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung”. Những vị Nho gia ăn theo chế độ ít người dám nghĩ, dám làm với tầm nhìn xa trông rộng để “trị quốc, bình thiên hạ” mà chỉ trở thành những nhà trí thức luẩn quẩn với những bài phú, bài thơ ca tụng chế độ, suy tôn mù quáng một con người dù người đó bất tài, thất đức hoặc nhai đi nhai lại những câu trích dẫn thuộc lòng trong Tứ Thư Ngũ Kinh. Cách học từ chương và chế độ thi cử của Nho giáo này đã trói buộc những sáng kiến, suy tư của người Việt và còn ảnh hưởng đến ngày nay.

Chúng không những không cải tạo được tình trạng đa thê hay bất bình đẳng nam nữ, như ta từng thấy trong thời bị Trung Hoa đô hộ mà còn làm cho người phụ nữ càng bị lệ thuộc hơn vào người đàn ông “Trai thì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, lệ thuộc vào dòng họ của chồng “Lấy chồng thì phải theo chồng, lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng”. Người phụ nữ chỉ còn là cái bóng của người đàn ông vì họ được dạy phải có đủ tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, tứ đức “Công, dung, ngôn, hạnh” chứ không còn là một con người thật sự độc lập với tất cả giá trị làm người.

Sống trong nền quân chủ chuyên chế độc tài, người dân không được phép có nhiều phương tiện vật chất, nhiều nông nô vì chính quyền sợ bị phản loạn. Nhưng dù có nhiều tiền họ cũng không được phép tiêu xài, không được cất nhà theo ý mình, thậm chí không được ăn mặc theo ý thích. Họ cũng không được học rộng vì càng có nhiều tư tưởng mới lạ họ càng dễ ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền: chỉ cần một câu thơ không rõ ý cũng có thể bị kết tội phản nghịch và bị tru di tam tộc. Mỗi làng chỉ có một vài người được đi học còn tất cả nam cũng như nữ, già cũng như trẻ đều đầu tắt mặt tối với công việc đồng áng. Chính sách ngu dân này làm cho người Việt không phát triển óc suy tư, sáng tạo, càng làm cho cuộc sống của họ thêm cơ cực, nghèo túng.

Cuối cùng, Lão giáo du nhập vào VN đồng thời với Phật giáo và Nho giáo ngay từ thời Bắc thuộc, đến đời vua Đinh Tiên Hoàng (cuối thế kỷ X) đã khá phát triển ở nước ta. Lão giáo chủ trương vô vi (không làm), “nghĩa là chủ ý cốt theo cách tự nhiên thanh tĩnh không cần phải làm gì, nghĩa là muôn việc cứ phó mặc tự nhiên, không cần phải lo lắng, nghĩ ngợi mới hưởng sự khoái lạc phiêu diêu” (Toan Ánh, Nếp cũ – Tín ngưỡng VN, quyển Thượng, NXB TP.HCM, 1992, tr.221). Chủ trương này đúng ra là thái độ sống của những nhà trí thức Nho giáo. Dần dần đạo Lão đi vào các tầng lớp bình dân và biến thể thành những hình thức bí hiểm mê tín như phù phép, sấm ký, chầu đồng, thẻ xăm, bói toán, với các thần tiên ẩn thân trong vạn vật: “bếp có Ông Táo, đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Tuy nhiên, cái nhìn “linh hoá vạn vật” này lại giúp cho người VN vượt qua thái độ quá chuộng hình thức lễ nghĩa tỉ mỉ, vụn vặt của Nho giáo để đến gần với thiên nhiên và tìm được sự khoáng đạt cho tâm hồn.

Chúng ta không thể không nhắc đến ảnh hưởng của Kitô giáo trong thời kỳ này. Kitô giáo được truyền vào VN là đạo Công Giáo theo lễ nghi Rôma, qua các giáo sĩ dòng Đa Minh, dòng Phanxicô, dòng Augustinô người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào thế kỷ XVI, nhất là các giáo sĩ dòng Tên vào thế kỷ XVII. Các giáo sĩ này nói được tiếng Việt, sáng lập ra chữ quốc ngữ và đóng góp nhiều về khoa học, cũng như xã hội cho các vua chúa của cả hai miền Nam Bắc. Họ truyền bá một giáo thuyết khác với Tam giáo Đông Phương về nhiều điểm nên gặp sự chống đối mãnh liệt của vua quan, nhưng đó lại là những sự thật cơ bản. Sự thật đó là tất cả mọi người đều có giá trị cao quý như nhau vì đều là con cái Chúa, đều tự do và bình đẳng trước pháp luật chứ không phải vua có toàn quyền sinh sát trong tay, hôn nhân một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng và có giá trị như nhau…

Điều không may cho Công Giáo là vào thời điểm này, các đế quốc thực dân đi chiếm thuộc địa và các nhà truyền giáo lại theo chân họ vào VN gây nên nhiều hiểu lầm và cả những cuộc bách hại. Khi quân đội Pháp bắn thị uy vào cảng Đà Nẵng (1847) và nhanh chóng chiếm được các tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), rồi đặt nền đô hộ từ 1862-1945 thì người VN như bừng tỉnh trước sức mạnh trổi vượt về quân sự, khoa học, kỹ thuật của quân thù trước chính sách bế quan toả cảng của vua quan, dẫn đến ngu dốt, lạc hậu, yếu kém. Họ giống như người Trung Quốc bừng tỉnh sau cuộc Chiến tranh Nha phiến (1839-1842) và thấy rằng: “Cái học nhà Nho đã hỏng rồi!” (Trần Kế Xương). Họ muốn được như người Nhật cởi mở với nền văn minh kỹ thuật của phương Tây nên phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can… đã ra đời. Dân tộc VN bước vào một thời kỳ mới.

3.4. Thời kỳ dân chủ và thống nhất đất nước (1945-1975)

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ngay sau đó, thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương và nhân dân VN đã kháng chiến để bảo vệ nền độc lập. Thế giới vào thời điểm 1945-1975 chia thành 2 phe Tư bản và Cộng sản xung đột mãnh liệt với nhau. Do hoàn cảnh và vị trí đặc biệt, Việt Nam lại trở thành giới tuyến cho 2 phe phái trên đây. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), với hiệp định Genève, người Pháp rút khỏi miền Bắc VN, nước VN tạm thời bị chia làm 2 miền theo vĩ tuyến 17: miền Bắc là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo chế độ Cộng sản; miền Nam là nước Việt Nam Cộng hoà theo chế độ Tư bản. Từ năm 1964-1975, chính quyền Cộng sản ở miền Bắc lãnh đạo cuộc chiến tranh thống nhất đất nước. Ngày 30/4/1975, VN hoàn toàn thống nhất, lấy tên là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong cuộc chiến tranh, kẻ thù đã khai thác triệt để sự chia rẽ và phân hoá của người Việt có từ thế kỷ XVIII với Trịnh Nguyễn phân tranh, thế kỷ XIX-XX với ba miền Bắc – Trung – Nam của thực dân Pháp để “người Việt thù người Việt, người Việt giết người Việt”. Biết bao cuộc xung đột, giết hại nhau chỉ vì những sự khác biệt về tôn giáo, sắc tộc,… để lại những di chứng cho đến ngày nay khiến cho người Việt càng khó cộng tác và tin tưởng lẫn nhau.

Bỏ qua sự khác biệt về nhiều lĩnh vực, cả hai chế độ có nhiều điểm tích cực đó là đóng góp vào tâm tính người Việt: tinh thần yêu chuộng những điều mới mẻ dựa trên khoa học kỹ thuật để phát triển đời sống, vượt qua những mê tín dị đoan thời trước và sự cố gắng làm việc để có nhiều phương tiện vật chất làm cho đời sống được ấm no, hạnh phúc.

3.5. Thời kỳphát triển và hội nhập với thế giới

Từ năm 1975 đến nay, người Việt cố gắng xây dựng lại đất nước bằng cách du nhập các lối sống và khoa học kỹ thuật của các nước trong cộng đồng thế giới. Họ trở thành những con người hiểu biết nhờ trình độ văn hoá được nâng cao. Nếu như trước kia, cả làng chỉ có một hai người biết chữ để làm văn tự, sổ sách, thì giờ đây hầu như mọi người đều được khuyến khích đi học, mọi trẻ em bắt buộc phải đi học. Qua việc học hành và các phương tiện truyền thông như báo chí, sách vở, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, và cả mạng lưới thông tin toàn cầu (internet), người Việt càng ngày càng thông thạo khoa học, phát triển nền kinh tế, khai thác được các nguồn tài nguyên phong phú của đất nước.

Nếu như trước đây, người VN có niềm tin mạnh mẽ vào Trời – Phật độ trì, vào thiên mệnh của Nho giáo, vào Thiên Chúa của Kitô giáo, vào Ông bà Tổ tiên chứng giám thì giờ đây niềm tin ấy đã suy giảm nhiều. Nhưng một khi con người đánh mất ý nghĩa của đời sống tinh thần, chối bỏ sự hiện diện của chủ thể luân lý tối cao thì người ta dám làm bất cứ điều gì để chiều theo những tham vọng và dục vọng!

Luật pháp không có khả năng khám phá tất cả những hành động bí ẩn của con người bắt nguồn từ trong tâm trí. Vì thế, khi tin vào một chủ thể luân lý tối cao nhìn thấu lòng mình (Trời cao có mắt), con người mới ý thức và tự nguyện sống theo lương tâm ngay chính, vượt qua những quyến rũ của vật chất, đam mê để sống đạo đức. Từ căn bản đạo đức này, người Việt mới có thể vượt qua những tệ nạn như: dối trá, tham nhũng, quan liêu, lãng phí, phá thai… đang tràn lan trong xã hội hiện thời. Như thế, suy cho cùng thì sự có mặt của các tôn giáo rất cần thiết cho xã hội. Một số ít người đã nhận ra điều ấy và đang cổ vũ cho những lễ hội dân gian hoặc tham gia các lễ nghi tôn giáo. Nhưng nhiều người VN hiện nay chưa ý thức được điều này.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm sao xây dựng một nền đạo đức xã hội tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của mọi người thay vì mất nhiều sức lực cho những tranh cãi duy tâm- duy vật hoặc vô thần- hữu thần.

Công việc xây dựng và hoàn thiện giá trị con người VN thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang mời gọi mỗi người cố gắng ý thức và hoàn thiện chính mình, nghĩa là loại trừ những tật xấu và tập luyện những tính tốt nơi mình. Nhưng công việc của từng cá nhân này chỉ có thể thực hiện với sự giúp đỡ của tập thể và cộng đồng để giúp họ khám phá ra những đức tính xã hội căn bản và những tật xấu thường có nơi người Việt. Sau đó phải tìm được những biện pháp hay đường hướng thích hợp để hoàn thiện nhân cách theo từng độ tuổi hay môi trường sống. Những công việc này đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ của các nhà tâm lý, khoa học, giáo dục cũng như các văn nghệ sĩ, những nhà truyền thông xã hội…

Riêng đối với người tín hữu Công Giáo, chúng ta càng phải tích cực cũng như chủ động trong việc xây dựng và hoàn thiện giá trị con người VN theo Tin Mừng vì con người là đối tượng chính yếu trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa và là đích điểm cứu độ của Đức Giêsu Kitô. “Không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng người môn đệ Chúa Kitô” (Công đồng Vaticanô II, Gaudium et Spes, số 1).

Kết luận

Chúng ta vừa thử tìm hiểu cấu trúc tâm lý – văn hoá xã hội của con người Việt Nam và thấy nhiều tầng xấu tốt xen lẫn, chồng chất lên nhau giống như những lớp đất của các tầng địa chất. Để trồng được cây lành trái ngọt, ta phải biết rõ từng lớp đất, loại bỏ những lớp đất bạc màu trước khi “trồng người”. Hơn nữa, để xây dựng đuợc nền văn hoá nhân bản tâm linh cho người Việt Nam, chúng ta còn phải hướng dẫn cho đồng bào những nguyên tắc căn bản cho các hành động thường, cũng như khi hành động, họ phải luôn nhắm đến những giá trị tích cực như sự thật và sự sống. công lý, bình an và tình yêu. Chỉ như thế, dân tộc ta mới có thể hy vọng trường tồn giữa muôn biến động của thế giới hiện nay.

Bài 11: Cuộc hội nhập văn hoá của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

(1533-2019)

Nhập đề

Chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu khái quát về cuộc hội nhập văn hoá của dân tộc Việt Nam trong dòng lịch sử để nhận ra những giá trị nào đang tồn tại nơi dân tộc Việt Nam. Trong phạm vi bài này, chúng ta muốn nhìn rõ hơn cuộc hội nhập văn hoá của những tín hữu Công Giáo từ năm 1533 đến nay để thấy họ đã đem đến những giá trị nào cho dân tộc và nhận được những điểm tốt đẹp nào từ quê hương Việt Nam[222]. Tìm lại dòng lịch sử không phải là chúng ta muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn, những mối bất hoà, xung đột, nhưng là để giúp nhau nhận ra hồng ân Thiên Chúa trong mọi biến cố thăng trầm, tạo nên sự cảm thông giữa mọi thành phần dân tộc và xây dựng nền văn hoá Công Giáo Việt Nam (GHVN) theo đường hướng hiệp thông và đối thoại của Công Đồng (CĐ) Vaticanô II đã được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhiều lần nhắc đến.

1. Con đường Nhập Thể – Cứu Độ

Mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể đã dạy cho người tín hữu Việt Nam khám phá ra giá trị của bối cảnh lịch sử trong cuộc đời và sứ mạng của từng người cũng như của GHVN. Thật vậy, “nơi Đức Giêsu, người Nazareth, Thiên Chúa đã nhận lấy những yếu tố đặc thù của bản tính nhân loại, kể cả việc thuộc về một dân tộc nhất định và một xứ sở nhất định… Nét đặc thù vật lý của xứ sở và những yếu tố địa lý của miền đất ấy là điều không thể tách rời được với sự thật là Ngôi Lời đã nhận lấy thân xác con người”[223]. Trong tinh thần nhập thể và nhập thế đó, người tín hữu Việt Nam gắn bó với đất nước và dân tộc mình.

Đất nước thân yêu này là chốn nương thân của nhiều dân tộc với những nền văn hoá khác nhau trong suốt dòng lịch sử. Trong quá trình xây dựng đất nước, tất cả các dân tộc ấy đã đổ biết bao công sức, mồ hôi, nước mắt trên mảnh đất quê hương để khai hoang, phục hoá, phá rừng làm rẫy, đắp đê chống lũ, ngăn mặn lấn biển… Chúng ta phải thành thật nhìn nhận rằng các dân tộc đều nhân danh giang sơn gấm vóc để đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, hay nhân danh dân tộc mình để mở rộng biên cương. Cuối cùng, đất nước, núi sông vẫn còn đó, không phải dành riêng cho ai, nhưng cho tất cả mọi người.

Tất cả các dân tộc ấy tạo thành cộng đồng người Việt hiện nay với 54 thành phần dân tộc khác nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 85% dân số cả nước. Tuy nhiên, không giọt mồ hôi nào vì yêu thương đồng bào đổ xuống trên mặt đất này lại trở thành vô nghĩa, không giọt máu hồng nào vì chính nghĩa thấm vào lòng đất này lại không có giá trị vô song. Mọi sự đều được biến đổi trong Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể làm người. Người đã đưa thần tính vô hạn, vĩnh hằng của Thiên Chúa vào trong thế giới vật chất hữu hạn, nhất thời của con người để biến đổi và thăng hoa tất cả trong cuộc Phục Sinh của Người.

Tin vào Đức Giêsu Kitô, người dân Việt Nam sẽ nhìn đất nước mình bằng một ánh mắt mới. Người dân Việt hôm nay, dù là người Kinh hay dân tộc thiểu số, sẽ nhìn nhau với ánh mắt đầy tin tưởng và hy vọng, bao dung và nhân ái, vì sự sống bất diệt trong mình được khởi đầu từ chính đất nước này. Thật vậy, những cây lúa, ngọn rau rút tinh hoa từ lòng đất nước đã ngấm bao mồ hôi, xương máu của cả người Việt, người Hoa lẫn người Chăm, người Khơ Me,… trong suốt dòng lịch sử đang nuôi sống tất cả… Do đó, ta có thể nói rằng, tất cả đều cùng chung một huyết thống, đều là anh em ruột thịt của nhau. Sự sống tự nhiên này, nhờ lòng tin vào Đức Giêsu, sẽ biến đổi thành sự sống siêu nhiên.

Những nét khác biệt của mỗi dân tộc trong dòng lịch sử chỉ biểu lộ những giới hạn của vật chất và con người. Chính Đức Giêsu Cứu Thế sẽ quy tụ và biến đổi mọi người để không còn là Kinh hay Hoa, Chăm hay Thượng, “Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô” (x. Gl 3,28). Điều này Chúa Thánh Thần đã thực hiện trong ngày Ngài hiện xuống để quy tụ tất cả những con người thuộc các ngôn ngữ khác nhau làm thành Giáo Hội của Đức Giêsu (x. Cv 2,1-12).

“Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc, hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước… Quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ…”[224]. Người tín hữu Việt Nam luôn gắn bó với quê hương, dân tộc và liên kết sâu xa với Giáo hội Mẹ Việt Nam, vì chính người mẹ này đã sinh ra mình trong đức tin và biến đổi mình từ con người thành con Chúa.

Với tâm tình con cái, trong ít trang sau đây, chúng ta cùng ôn lại một vài đoạn đời của Mẹ từ lúc khai sinh, tăng trưởng, cho đến khi phát triển, trưởng thành. Nhiều người đã từng kể lại đời Mẹ, kẻ ít người nhiều, điều đúng điều sai. Nhưng nếu không nhìn dưới ánh sáng Tin Mừng, đời Mẹ vẫn chỉ là những biến cố rời rạc, những con số vô hồn, những năm tháng tủi nhục vô nghĩa, như nhìn những giọt nước rơi từ đôi mắt của một người xa lạ. Chỉ có những người con gần gũi thân thương mới hiểu được ý nghĩa và cảm nhận được niềm vui hay nỗi khổ từ những giọt nước mắt này. Trong tâm tình ấy, chúng tôi kể lại đời Mẹ, để mọi người cảm thông với chúng tôi và đồng cảm với Mẹ GHVN qua các thời kỳ:

– Khai sinh (1533 – 1659)

– Tăng trưởng (1659 – 1802)

– Phát triển (1802 – 1960)

– Trưởng thành (1960 đến nay)

Chúng tôi chọn cách phân chia các thời kỳ như trên dựa theo mốc thời gian với những biến cố quan trọng đánh dấu sự thay đổi lớn lao của cơ cấu GHVN.

2. Thời kỳ khai sinh (1533-1659)

2.1. Giai đoạn dò dẫm đầu tiên (1533-1615)

Từ cuối thế kỷ XVI, nhất là từ thế kỷ XVII, quan hệ thương mại của nước ta với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và cả Nhật Bản ở phương Đông phát triển. Các chúa Trịnh, Nguyễn muốn giao hảo với người nước ngoài để bán hàng hoá trong nước và nhất là để mua được nhiều súng đạn, tàu chiến. Trong khi đó, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) toàn cầu lại phát động công cuộc truyền giáo và gửi các nhà thừa sai đi khắp nơi, nhất là đến Ấn Độ và Trung Quốc như Thánh Phanxicô Xaviê (1541), cha Matteo Ricci. Nhiều vị thừa sai đi theo các đoàn tàu buôn đến truyền giáo tại các miền Á Châu và Viễn Đông, trong đó có Việt Nam.

Nhiều nhà sử học Công Giáo Việt Nam đã chọn năm 1533 như khởi đầu cho đạo tại Việt Nam vì trong bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục[225] có nói đến “tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên I-Nê-Khu, lén đến truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ” (thuộc tỉnh Nam Định, Gp. Bùi Chu hiện nay).

Năm 1550, linh mục Gaspar da Santa Cruz, O.P., đến giảng đạo tại Hà Tiên. Năm 1558, đời vua Lê Thế Tông, hai giáo sĩ Bồ Đào Nha là Alonso da Costa và Gonsalves đến giảng đạo ở vùng Vạn Lại, thủ đô của Nam Triều. Tiếp theo là các linh mục dòng Đa Minh người Bồ Đào Nha khác như: Luis da Fonseca, Grégoire de la Motte đến truyền giáo ở Đàng Trong (1580) và bị vua Chiêm Thành hãm hại tại Quảng Nam. Năm 1583, các linh mục dòng Phanxicô[226] từ Philippines đã đến truyền giáo như Diego Doropesa, Bartolomeo Ruiz, Pedro Ortiz, Francisco de Montilla tại An Quảng (Quảng Yên), Đàng Ngoài. Năm 1591 tại Thanh Hoá, linh mục Pedro Ordoñez de Cevallos, người Tây Ban Nha, bị bão, đã đến An Trường, kinh đô nhà Lê lúc bấy giờ và rửa tội cho công chúa Mai Hoa (Maria Flora) cùng khoảng 100 người khác. Công chúa là chị của vua Lê Thế Tông. Hiện nay, ở làng Vạn Lại vẫn còn nền nhà thờ và giếng Giatô của công chúa[227].

2.2. Giai đoạn mở đạo chính thức (1615-1659)

Giai đoạn này kéo dài từ năm 1615-1665 với các vị thừa sai Dòng Tên, ở cả hai miền Nam Bắc, lấy sông Gianh làm ranh giới. Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúa Nguyễn cai quản. Phía Bắc gọi là Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh nắm quyền. Nhờ kinh nghiệm hội nhập văn hoá của linh mục Matteo Ricci (1582) ở Trung Quốc và Valignano ở Nhật Bản, các thừa sai quan tâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục dân Việt và giảng đạo bằng tiếng Việt.

Công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong bắt đầu năm 1615 với linh mục Francesco Buzomi, Lm. Diego Carvalho và các trợ sĩ Dòng Tên ở Cửa Hàn, Đà Nẵng. Tiếp theo là các Lm. Francesco de Pina, Cristoforo Borri, nhất là Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ).

Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh Tráng đón tiếp giáo sĩ Giuliano Baldinotti, người Ý, nhưng việc truyền giảng Tin Mừng chỉ đạt được nhiều kết quả tốt đẹp sau khi hai cha Pedro Marquez (Bồ Đào Nha) và Đắc Lộ (người Pháp) cập bến Cửa Bạng, Thanh Hoá, ngày 19/3/1627. Các thừa sai biên soạn giáo lý, sáng tác kinh nguyện thơ văn bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ với sự trợ giúp của các thầy giảng có học thức như cụ Gioakim, sư cụ chùa Phao, sư cụ Manuel, cụ Nghè Giuse… Đáng kể nhất là các thừa sai Gaspar d’Amaral, António Barbosa, Girolamo Majorica (người Ý), đặc biệt là cha Đắc Lộ với những tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên ấn hành ở Rôma năm 1651: Phép Giảng Tám Ngày, Từ điển Việt-Bồ-La và Ngữ pháp tiếng An Nam.

Đây là thứ chữ được các linh mục Dòng Tên gốc Bồ Đào Nha như João Ruis, Gaspar Luis, Cristoforo Borri, Francesco Buzomi, Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Alexandre de Rhodes với sự cộng tác âm thầm của nhiều người Việt như Igesico Văn Tín, Bento Thiện, đã sáng tạo ra trong những năm 1620-1659[228].

Nhờ các “Thầy Giảng” và “Câu Trùm” là những tông đồ giáo dân nhiệt thành, việc truyền giáo đã đạt được những kết quả ngoài sức tưởng tượng. Sau 37 năm truyền giáo ở Đàng Ngoài (với 25 linh mục và 5 trợ sĩ) và 50 năm truyền giáo ở Đàng Trong (với 39 linh mục và 1 trợ sĩ), các thừa sai Dòng Tên đã rửa tội khoảng 100.000 tín hữu (20.000 ở Đàng Trong và 80.000 ở Đàng Ngoài[229]. Việc rao giảng Tin Mừng được vua chúa Việt Nam quy định rõ ràng trong một số nơi chốn với nhiều hạn chế của các quan lại địa phương, nên các tín hữu gặp nhiều khó khăn trong việc giữ đạo và có nơi đã phải đổ cả máu đào để làm chứng đức tin như thầy giảng Anrê Phú Yên ở Quảng Nam ngày 26/7/1644.

3. Thời kỳ tăng trưởng (1659-1802)

Sau khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam năm 1645, cha Đắc Lộ về châu Âu tường trình cánh đồng truyền giáo chín vàng ở Việt Nam để kêu gọi có thêm thừa sai và giám mục sang Việt Nam. Ngày 9/9/1659, Đức Thánh Cha Alexander VII, qua Sắc chỉ Super Cathedram, quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận và chọn hai vị thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Paris (MEP) làm Đại diện Tông toà. Gp. Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Đức cha Pierre Lambert de la Motte cai quản. Gp. Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh miền Nam Trung Quốc do Đức cha François Pallu coi sóc.

Chúng ta ghi nhận một số khó khăn chính của thời kỳ này.

Khó khăn trước hết là sự bất hoà giữa các thừa sai Dòng Tên và các giám mục Đại diện Tông toà thuộc Hội Thừa sai Paris cũng như giữa các thừa sai thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Khó khăn này bắt nguồn từ quan điểm cởi mở hay đóng kín với việc hội nhập văn hoá bản địa, nhất là với việc tôn kính Đức Khổng Tử và thờ cúng tổ tiên. Khó khăn thứ hai là tính cách bất hợp pháp của Công Giáo do các sắc chỉ cấm đạo của vua chúa. Nhiều vị thừa sai nước ngoài cũng như linh mục Việt Nam đã bị giết hại dưới thời các chúa Trịnh Tạc (1657-1682), Trịnh Sâm (1767-1782) ở ngoài Bắc; chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) ở miền Nam, cũng như thời vua Cảnh Thịnh (1782-1802), nhà Tây Sơn, ở miền Trung.

Các vị vua chúa cho rằng đạo Công Giáo dạy nhiều điều trái ngược với luân thường đạo lý khi cổ vũ ý niệm dân chủ cho rằng mọi người đều là anh em con của một Đức Chúa Trời và không ai có quyền sinh sát trong tay như ông vua trong chế độ quân chủ, cổ vũ hôn nhân “một vợ, một chồng” trái với tục đa thê có từ lâu đời trong xã hội, và chủ trương nam nữ bình đẳng đi ngược với quan niệm ngàn đời của Nho giáo “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Hàng chục ngàn giáo dân (khoảng 30.000) đã bị giết chết chỉ vì muốn bảo vệ đức tin và những sự thật đó. Họ chấp nhận bị tù đày, ngược đãi, cướp bóc tài sản, phân sáp vào các làng không có đạo để làm nô lệ chứ nhất định không bỏ đạo.

Trước tình cảnh đó, các vị thừa sai nước ngoài đã đi tìm một giải pháp mới, khiến cho sau này người Pháp có điều kiện can thiệp và xâm chiếm Việt Nam bằng vũ lực[230]. Sau khi vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh ở Thăng Long ngày 30/1/1789 và mất năm 1792, con là Quang Toản mới 10 tuổi lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Mọi việc triều đình do các quan lại chuyên quyền nắm giữ, tướng tá thì ganh ghét xâu xé lẫn nhau, trong khi thế lực của chúa Nguyễn Phúc Ánh, gọi tắt là Nguyễn Ánh, ngày một mạnh ở Gia Định. Ông là người biết tổ chức, chỉnh đốn lại xã hội về mọi lĩnh vực, không xâm phạm đến tín ngưỡng của dân chúng nên ông được người dân Nam bộ tin tưởng.

Đức cha Pigneau de Béhaine, quen gọi là Cha Cả Bá Đa Lộc, Đại diện Tông toà Đàng Trong (1771-1799), đã hết lòng giúp đỡ Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó đang bị khốn đốn bởi cuộc vây hãm của quân Tây Sơn. Ngài đã đưa hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh (mới lên 4 tuổi) sang Pháp và vận động người Pháp giúp đỡ tàu chiến, vũ khí để Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn và chúa Trịnh. Ước nguyện của các vị thừa sai và của Đức cha Bá Đa Lộc là chỉ muốn cho người Công Giáo Việt Nam được an thân giữ đạo và đạo Chúa được mở rộng, vừa có lợi cho Giáo Hội, vừa tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam. Đức cha đã nuôi dạy hoàng tử Cảnh ở dinh Tân Xá. Năm 13 tuổi, hoàng tử được phong làm Nguyên Soái Quận Công, theo cha đi chinh chiến, lập nhiều chiến công.

Sau khi ở Pháp về năm 1789, hoàng tử Cảnh không chịu làm lễ bái trước bàn thờ chư vị tiên đế khiến vua Gia Long rất khó chịu. Đây cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến vua Gia Long không chọn hoàng tôn Đán mà lại chọn người con nuôi là hoàng tử Đảm sau này. Chính Đức cha cũng đã khuyên hoàng tử Cảnh phải tôn trọng tục lệ thờ kính ông bà và lễ bái trước bàn thờ chư vị tiên đế[231]. Ước mơ của các thừa sai về một ông vua theo đạo Công Giáo và cho người Công Giáo được hoàn toàn tự do hành đạo như vua Constantinus ở đế quốc Rôma vào năm 313 hoàn toàn tan biến với cái chết của Đức cha Bá Đa Lộc (9/10/1799) và của hoàng tử Cảnh (1801).

Tuy nhiên, dù chịu nhiều thử thách và bách hại vì đức tin, số tín hữu ở cả 3 giáo phận vẫn tăng lên không ngừng. Vào năm 1802, GHVN đã thành hình cơ cấu tổ chức gồm 3 giáo phận với 121 linh mục Việt Nam, 17 thừa sai gồm cả giám mục và linh mục, khoảng 320.000 tín hữu.

4. Thời kỳ phát triển (1802-1960)

Thời kỳ này có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn thử thách và giai đoạn tương đối an lành. Trong thời kỳ này, đất nước đã thống nhất về mặt chính quyền: dân tộc Việt sống dưới chế độ quân chủ chuyên chế của các vua triều Nguyễn, đặt kinh đô tại Phú Xuân, Huế.

4.1. Giai đoạn thử thách (1802-1886)

Gọi là giai đoạn thử thách vì trong suốt giai đoạn này, trừ 18 năm đầu dưới triều vua Gia Long (1802-1820), 63 năm còn lại GHVN phải chịu đựng những cuộc bách hại tàn khốc do vua quan triều đình Nhà Nguyễn cũng như do sĩ phu và dân chúng theo phong trào Văn Thân gây nên.

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, mở đầu triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đóng đô ở Phú Xuân, tức Huế ngày nay. Vì nhớ công ơn Đức cha Bá Đa Lộc, nên vua Gia Long đã cho phép tự do truyền bá đạo Công Giáo. Nhà vua có thiện cảm với đạo nhưng không muốn theo vì thấy luật lệ đạo quá nghiêm khắc đối với tục đa thê và việc thờ cúng tổ tiên. Ông nói: “Đạo Thiên Chúa rất hợp với đạo lý nhưng quá nghiêm khắc với tục đa thê. Đối với ta, không thể chỉ lấy một vợ, mặc dù ta thấy là trị cả nước còn dễ dàng và ít mệt mỏi hơn là giữ cho gia đình ta được yên ấm”[232].

Một vài lý do tiềm ẩn

Hoàng tử Cảnh qua đời vì bệnh đậu mùa năm 1801 lúc mới được 22 tuổi, vua Gia Long phế bỏ người cháu đích tôn là Đán và chọn người con nuôi là hoàng tử Đảm kế vị, mặc dù nhiều quan lại triều đình lúc ấy can gián vua nên giữ chính tông, “đích tôn thừa trọng”, trong số đó, Tả Quân Lê Văn Duyệt là người phản đối mạnh mẽ nhất. Sau khi vua Gia Long băng hà, hoàng tử Đảm lên ngôi (15/2/1820) lấy niên hiệu là Minh Mạng. Vì muốn bảo vệ ngai vàng cho dòng tộc nên vua đã xử tội hoàng tôn Đán thông dâm với mẹ là bà Vương Cơ Tống Thị Quyên năm 1824. Bà bị dìm xuống nước cho đến chết, còn Đán và con cháu bị giáng làm thường dân[233].

Dù Lê Văn Duyệt đã chết (ngày 25/8/1832), vua Minh Mạng vẫn giữ lòng hận thù. Vua bãi bỏ chức Tổng Trấn, lập toà án xét xử Lê Văn Duyệt tội hà lạm công quỹ. Vua cho đào mả và san bằng mộ bia khiến cho người con nuôi của ông là Lê Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình. Cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi cũng là một lý do thúc đẩy vua Minh Mạng thù ghét và bách hại người Công Giáo và tạo nên những hiểu lầm về Thánh tử đạo Joseph Marchand Du[234]. Ngày 8/9/1835, quân triều đình chiếm lại được thành Phiên An (Gia Định). Vua truyền chém đầu, phân thây 1.994 người, trong đó có cha Phước, cha sở Chợ Quán, và chôn chung trong một hố sâu gọi là Mả Nguỵ. Sáu người còn lại bị giải về kinh đô Huế, trong đó có cha Marchand Du, người đã bị Lê Văn Khôi dùng vũ lực ép phải vào thành Phiên An, vì tin tưởng cha có phép mầu và lôi kéo được các tín hữu chống lại triều đình, như các thư cha Marchand Du còn để lại đã minh chứng điều đó. Thật ra, trong số 2.000 người phản loạn, chỉ có 26 người đàn ông và 40 đàn bà trẻ con là người Công Giáo[235] Một câu hỏi đặt ra cho những người thời trước và ngay cả thời nay: tại sao người Việt Nam thời đó lại theo đạo Công Giáo bất chấp những thử thách, gian lao?

Đi tìm con đường sống

Câu trả lời đơn giản là người Công Giáo thời đó muốn đi tìm con đường sống trong cái lẽ tử sinh của kiếp người. Hơn nữa, với những sắc dụ cấm đạo, nhiều người đã gặp khó khăn trong việc học hành, thi cử, làm lụng, bán buôn. Có người còn bị đày ải, giết hại. Họ vẫn muốn sống với tất cả niềm vui của Phúc Âm và muốn chứng minh những sự thật của Phúc Âm.

Nho giáo dạy người dân phải trung với vua, vì vua là thiên tử thay trời trị dân, có toàn quyền sinh sát đến độ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Vì thế, người Công Giáo không bao giờ tỏ thái độ bất trung, bất kính với vua. Họ luôn nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu, Con của Chúa Cha là Vua Trời đất, nên Người cũng là Thiên Tử. Thay vì bắt người khác phải chết thì Chúa Giêsu lại chết thay cho mọi người để đền tội và hoà giải với mọi người. Người Công Giáo lại được dạy chỉ có Chúa Trời là chủ của sự sống vĩnh hằng, nên dù sự sống ở đời này có mất đi, họ sẽ được sống mãi mãi ở đời sau. Chúa Trời là cha chung của mọi người nên tất cả đều là anh em, con cái của “Cha trên trời”, và đều bình đẳng với nhau về mặt giá trị làm người dù vẫn có tôn ti trật tự trong xã hội. Hơn nữa, sau cuộc sống lữ hành ở trần thế này còn có cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia mà người ta sẽ đạt được nhờ lòng tin vào Đức Giêsu. Chính trong tinh thần ấy, giá trị con người được nâng cao đến tột đỉnh.

Niềm tin vào đời sống vĩnh cửu lại thể hiện rất trong sáng và tích cực trong đời sống thường ngày và nó trở nên một sức hút kỳ lạ của tôn giáo mới đối với mọi người dân Việt thời đó vì họ chưa hiểu biết nhiều về khoa học, chưa biết giữ vệ sinh nên nhiều trẻ sơ sinh bị chết yểu, nhiều sản phụ mắc bệnh hậu sản. Hằng ngày, người ta thường dùng nước ao tù để tắm rửa, ăn uống, nên dễ bị các bệnh toét mắt, ghẻ lở, giun sán, đường ruột… Các người Công Giáo, nhờ được các giáo sĩ Tây Phương, các thầy giảng, các dì phước Mến Thánh Giá (MTG) dạy các kiến thức về khoa học phổ thông, nên biết lọc nước bằng than cát sỏi để dùng và nấu nước chín để uống, giữ vệ sinh thân thể nên trở thành những người khoẻ mạnh, xinh đẹp. Các nữ tu Mến Thánh Giá thời ấy trở thành những nữ hộ sinh và y tá nông thôn kèm thêm việc dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào.

Trong xã hội phong kiến xây dựng trên Nho giáo: nữ giới bị khinh miệt, đối xử bất bình đẳng. Đạo Công Giáo, với chế độ một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng và quan niệm mỗi người đều là con cái Chúa, đã giới thiệu những nét mới cho xã hội Việt Nam. Gia đình người có đạo an vui, hạnh phúc, trong nhà lúc nào cũng vang tiếng cười vì không có cảnh “vợ cả, vợ lẽ”, “con bà, con tôi”, nam nữ đều được tôn trọng, được học hành, làm việc như nhau.

Thời đó, chữ nghĩa “quý giá” và đắt đỏ, cả làng may ra chỉ có một vài người giàu mới có đủ điều kiện cho con cháu đi học chữ Nho, hy vọng đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình do nhà vua tổ chức để ra làm quan cho triều đình. Nhưng các tín hữu Công Giáo, với lý lịch không tốt vì lý do theo “tả đạo”, với bản án đó khắc trên trán, trên mặt, họ không thể đi học, đi thi, buôn bán hay làm bất cứ nghề nghiệp chính thức nào. Tuy nhiên tất cả “người có đạo”, dù là nam hay nữ, trẻ hay già, đều được khuyến khích học hành, lúc đầu là chữ Nho, chữ Nôm, sau là chữ Quốc ngữ. Kinh sách đọc hằng ngày, giáo lý học hằng tuần, càng làm cho người có đạo dễ học hành và truyền bá chữ nghĩa cho nhau hơn.

Chữ quốc ngữ là thứ chữ ghi âm tiếng nói của người Việt trong đời sống thường ngày bằng mẫu tự Latinh với 24 chữ cái thay vì 214 bộ chữ đơn từ 1 nét đến 17 nét trong bộ chữ Hán của người Trung Hoa, vừa dễ đọc dễ viết, ích lợi trong đời sống giao tiếp xã hội, nên được dân chúng thích thú theo học và truyền lại cho nhau, chứ không phải chỉ trong cộng đồng những người Công Giáo. Điều này đụng chạm đến lòng tự ái của những quan lại triều đình, của giới sĩ phu tự cho là những “người có học” trong xã hội thời đó. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng để hiểu tại sao phong trào Văn Thân lại hô hào “bình Tây, sát Tả” sau này khi người Pháp xâm chiếm nước ta.

Chúng ta đừng quên chữ Nho cho đến đầu thế kỷ XX vẫn là chữ chính thức của nhà nước quân chủ ở Việt Nam. Sự đố kỵ của các Nho sĩ và quan lại đối với chữ Quốc ngữ là một trong những lý do quan trọng dẫn đến những cuộc tàn sát người Công Giáo trong phong trào Văn Thân. Thật ra, chữ Nôm vẫn được tôn trọng trong cộng đồng người Việt Công Giáo với hàng trăm tác phẩm đủ thể loại được biên soạn trong thời kỳ này. Ta có thể nêu tên một tác phẩm tiêu biểu: Sách dạy tập đi đàng nhân đức lọn lành của Cố Chính Philipphê Trung (M. Sérard), viết năm 1799. Sách gồm 24 quyển, mỗi quyển trung bình 200 trang, toàn bộ là 4.800 trang. Mỗi trang có từ 10-12 dòng, mỗi dòng từ 30-32 chữ. Tổng cộng khoảng 1.500.000 chữ Nôm, dài gấp 9 lần Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.

Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng: đạo Công Giáo đã góp phần không nhỏ vào cuộc thăng hoa các nền văn hoá của người Chăm, người Khơ Me ở phương Nam. Nền văn hoá tinh thần của Kitô giáo theo đoàn người mở đất Phương Nam đã thay đổi nền văn hoá vật chất, tính giao với những Linga và Yoni của dân tộc Chiêm Thành và Thuỷ Chân Lạp.

Về phương diện kinh tế, người theo đạo cực khổ tư bề vì bị áp bức bởi bọn cường hào ác bá trong làng, vì sưu cao thuế nặng, vì bị cấm hành nghề. Họ chỉ còn cách từ Bắc xuôi vào miền Nam, đến những phiên trấn mới mở, sống chung với những kẻ bị kết án lưu đày, cùng che giấu lai lịch của mình bằng những tên gọi trống không: anh Hai, chị Ba, cô Tư… để được yên thân giữ đạo. Họ sống đùm bọc lẫn nhau, coi nhau như anh em họ hàng, nên gọi là “họ đạo” hay “giáo họ”, truyền nghề cho nhau để cùng làm cùng hưởng, làm ra cái gì cũng phải thật tốt, bán ra cái gì cũng phải thật rẻ, lúc nào cũng nói thật, nói thẳng để khỏi làm “ô danh Chúa và nhục cho người có đạo”. Nhờ đoàn kết yêu thương như thế, người có đạo luôn sống sung túc, nên mới có câu “theo đạo lấy gạo mà ăn”.

Tuy nhiên, những làng Công Giáo trù phú kia lại trở thành mồi ngon cho một số người, nhất là khi những người này được thúc đẩy cướp phá, nhân danh lòng ái quốc trong phong trào Văn Thân. Để đối phó trong cơn bách hại gắt gao, người có đạo rủ nhau trốn vào những nơi hoang vu, phá rừng làm rẫy như La Vang, Trà Kiệu ở miền Trung và nhiều vùng xa, vùng sâu ở miền Nam. Không ngờ, chính lối sống này lại làm cho quê hương phát triển về mặt kinh tế, mở mang bờ cõi quốc giá.

Đến đây, ta có thể hiểu tại sao đạo Công Giáo lại phát triển nhanh chóng ở Việt Nam vì đạo chỉ cho người dân con đường sống khoẻ mạnh, tốt đẹp, khôn ngoan, sung túc, cao quý, xứng với phẩm giá con người. Vì thế, dù phải chịu đựng thiệt thòi, bất công, thậm chí bị giết hại, nhiều người vẫn theo đạo cũng như các tín hữu vẫn trung thành với Chúa và yêu thương nhau. Số tín hữu vẫn không ngừng gia tăng trong cả 2 miền Nam Bắc ngay trong những giai đoạn thử thách cam go nhất.

GHVN vào năm 1850 có 8 giáo phận với số giáo dân ở 4 giáo phận miền Bắc là 380.000 người, 147 linh mục và 4 giáo phận trong miền Nam khoảng 120.000 người và 80 linh mục.

Cuộc xâm lăng của người Pháp

Vua Minh Mạng chịu ảnh hưởng của các vua Trung Hoa và Nhật Bản ra nhiều chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo vào các năm 1825, 1833, 1836, 1838, theo đuổi chính sách bế quan toả cảng. Nhưng sau khi Trung Hoa thất trận trước các cường quốc châu Âu (1838-1839), nhà vua muốn thay đổi đường lối chính trị bằng việc cử phái đoàn do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp năm 1840 để thương thuyết. Phái đoàn thất bại nên vào những năm cuối đời vua càng cấm đạo tàn khốc hơn[236]. Sau khi các thừa sai người Pháp bị bắt giam ở Huế năm 1843, giám mục Lefèbre bị bắt ở cửa Cần Giờ (1846) và thừa sai Duclos (Lộ) bị chết trong trại giam năm 1846, quân Pháp được lệnh bắn phá cảng Đà Nẵng ngày 15/4/1847. Lập tức vua Thiệu Trị ban hành sắc lệnh chống Công Giáo ngày 03/5/1847 và người ta liên kết việc theo đạo Công Giáo với việc làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc. Nhiều nhà Nho đã tuyên truyền với dân chúng luận điệu này và không ít đồng bào đổi mối thiện cảm với người Công Giáo trước đây thành ác cảm và hận thù kẻ phản quốc, nhất là khi người Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ.

Ngay sau khi vua Thiệu Trị băng hà ngày 4/11/1847, vua Tự Đức lên ngôi và ra ngay sắc chỉ cấm đạo năm 1848, vì nghi ngờ người Công Giáo cấu kết với Hồng Bảo, anh cả của vua, âm mưu chiếm đoạt ngai vàng. Vua ban nhiều sắc chỉ cấm đạo trong suốt triều đại lâu dài của mình (1847-1883). Những sắc chỉ cấm đạo vào các năm 1848, 1852,1854,1855, nhất là năm 1857: “Giết ngay Tây dương đạo trưởng, bêu đầu 3 ngày ở những nơi công cộng và bị quăng xác xuống biển” đã thúc đẩy tàu Pháp bắn phá Đà Nẵng để thị uy. Năm 1858, chiến tranh giữa Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam bùng nổ. Quân Pháp chiếm thành Kỳ Hoà năm 1861, uy hiếp các tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

Cuộc sát hại tập thể người Công Giáo xảy ra nhiều nơi trên đất nước do lòng ái quốc của đồng bào phản ứng lại việc người Pháp xâm lăng. Tháng 7 năm 1861, vua ban hành lệnh phân tháp (phân sáp) người Công Giáo vào các làng không Công Giáo. Quân Pháp tiếp tục đánh chiếm và quân triều đình thất thủ ở khắp nơi.

Hoà ước Nhâm Tuất giữa Việt Nam và Pháp ký năm 1862 buộc triều đình Việt Nam phải tôn trọng tự do tôn giáo, phải nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Năm 1873, Pháp chiếm Hà Nội lần I và một số tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, sau đó rút quân. Năm 1874, triều đình ký Hiệp ước Giáp Tuất nhường 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, hoà ước này có 22 khoản, trong đó có khoản 9 đề cập đến vấn đề tự do tôn giáo. Năm 1882, Pháp đánh Bắc Kỳ lần II rồi vào chiếm đóng kinh thành Huế.

Năm 1884, Hoà ước Giáp Thân với điểm chính là “Chính phủ Pháp bảo hộ Bắc Kỳ, lục tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa Pháp và Trung Kỳ thuộc quyền cai trị của Triều đình Huế” nói lên sự suy tàn của đất nước và triều đình vua quan Việt Nam. Thật ra, tôn giáo chỉ là một cái cớ để người Pháp xâm lăng nước ta giống như nhiều nước ở phương Tây đi chiếm thuộc địa. Nhưng lý do “bảo vệ người có đạo” này lại là nguyên nhân dẫn đến việc tàn sát người Công Giáo của phong trào Văn Thân.

Phong trào Văn Thân

Phong trào này bắt đầu ở Nghệ An, Nam Định năm 1867 và lan ra rất nhanh ở nhiều nơi trong nước, nhất là trong các tỉnh miền Trung vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và 1883-1885, cho đến khi kết thúc vào năm 1886. Với khẩu hiệu “bình Tây, sát Tả”, các sĩ phu hô hào dân chúng giết những người lính Pháp và cả những người nước ngoài ở phương Tây đến truyền đạo, đồng thời giết cả những người Việt theo đạo vì họ đã theo tà đạo của người Tây phản bội đất nước. Do lòng ái quốc sôi sục, căm hờn vì thất trận, mất đất, quần chúng nồng nhiệt tham gia cướp phá các làng người Công Giáo và giết hại tất cả những ai theo đạo. Trong khi đó, người Công Giáo lại được học bài học sẵn sàng chết để làm chứng cho đức tin, không hận thù hay chống lại kẻ bách hại mình để noi gương Chúa Giêsu, nên số người Công Giáo bị giết hại trong giai đoạn 1820-1886 khoảng gần 100.000 người.

Rất hiếm làng Công Giáo nào như giáo xứ Trà Kiệu dám tổ chức chống lại quân triều đình và phong trào Văn Thân. Với số quân ít ỏi là 370 nam nhân và 500 phụ nữ, với 4 khẩu súng trận và vũ khí tự chế thô sơ, họ không thể nào chống nổi 8.000 quân Văn Thân với súng thần công, voi trận được chính quan võ của triều đình chỉ huy, nếu không có Đức Mẹ Maria hiện ra bảo vệ và đội quân trẻ em thiên thần chiến đấu giúp họ trong suốt 21 ngày đêm từ 1-21/9/1885[237]. Cuộc can thiệp lạ lùng này đã được truyền đến tai những người đang bách hại đồng bào Công Giáo để họ suy nghĩ lại hành động của mình và ngừng việc giết hại đồng bào vô tội.

Tờ báo Quốc ngữ đầu tiên: Gia Định Báo

Một bằng chứng cho thấy quần chúng yêu mến và đón nhận những giá trị văn hoá của đạo Công Giáo là việc phát hành tờ báo Quốc ngữ đầu tiên, tờ Gia Định Báo, ngay từ năm 1865, chỉ sau vài năm người Pháp xâm chiếm Việt Nam (1861). Tờ báo phát hành số đầu tiên vào ngày 15/04/1865 tại Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài (giám đốc) và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Tờ báo tồn tại mãi đến năm 1897 mới chấm dứt hoạt động. Chắc chắn người dân Nam Bộ đã phải biết chữ Quốc ngữ cả trăm năm trước nên tờ báo mới có thể phát hành. Ở miền Bắc chữ Quốc ngữ phổ biến chậm và muộn hơn nên mãi tới năm 1905 mới có tờ Đại Việt Tân Báo.

Câu trả lời cho các cuộc sát hại

Thật vậy, trước khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, những cuộc giết hại một số đông người Công Giáo đã gây nên tiếng vang quốc tế khiến cho các nước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha[238] muốn can thiệp vào Việt Nam, nhân danh quyền sống và quyền tự do tôn giáo của con người, dù ẩn ý của họ là để chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Một số sử gia đã ghép việc một vài giám mục thừa sai người Pháp như: P. de Béhaine (Bá Đa Lộc), Lefèbvre, Pellerin, Retord, Puginier giúp đỡ thực dân Pháp nên họ mới thực hiện thành công việc xâm lược Việt Nam[239]. Thật ra, đó chỉ là vài cá nhân trong số hơn 200 giáo sĩ nước ngoài đang truyền giáo tại Việt Nam vào thời đó[240]. Người ta không thể “vơ đũa cả nắm” để kết tội tất cả người Công Giáo đều làm tay sai cho Pháp.

Hơn nữa, các giám mục dù là người Pháp hay không, đều hiểu rằng cuộc sống ở Việt Nam hay ở nước Pháp chỉ là một giai đoạn của đời sống con người, tất cả đều sẽ qua đi để chỉ còn tồn tại Nước Thiên Chúa. Do đó, họ không phục vụ trực tiếp cho nước Pháp hay bất cứ nước nào. Theo tâm thức và cách nhìn của người phương Tây thời đó, hành động của họ chỉ là muốn cứu giúp những người Việt Nam đang gặp khốn khổ, bị bách hại dã man, cho những người này có quyền được sống đúng phẩm giá con người và sống theo niềm tin của mình. Đó là nghĩa vụ lương tâm đối với người bị nạn mà sau này chúng ta định danh là những người bị xúc phạm nhân quyền theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ngày 10/12/1948.

Ngày nay, người ta hiểu rằng không thể đổ lỗi cho một vài vị giáo sĩ nước ngoài hay một ít đồng bào Công Giáo Việt Nam là nguyên nhân chính gây nên tình trạng mất nước, như một số quan lại và nho sĩ trong phong trào Văn Thân đã kết án. Chiến thắng của người Pháp ở Việt Nam hay của các cường quốc Tây Phương xâu xé Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Nha phiến (1839-1842) là hậu quả tất yếu của một đất nước lạc hậu trước nền văn minh khoa học, quân sự hùng mạnh với ý đồ bành trướng xâm lược của phương Tây. Lịch sử thế giới cũng cho thấy những đất nước nhỏ bé như Nhật Bản dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji-tenno) với Mutsuhito (1852-1912) hay Thái Lan dưới triều vua Chulalongkorn-Râma (1868-1910) cùng thời với Việt Nam, đã thoát cảnh xâm lăng và đô hộ của phương Tây nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng và nhất là sự đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, dưới ánh sáng đức tin, người tín hữu lúc nào cũng nhận ra, qua những thăng trầm ấy, ý định cứu độ của vị Chúa lịch sử.

Một số nhà Nho có tâm huyết như Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926) nhận chân được giá trị của người Công Giáo Việt Nam. Các vị đó đã hô hào dân chúng sống tinh thần của người Công Giáo Việt Nam: bỏ đi cái học từ chương cổ hủ của Nho giáo, cắt bỏ búi tóc, móng tay, nhận thức rõ mọi người đều là anh em chứ không ai có quyền sinh sát đối với người khác, nam nữ bình đẳng, bỏ chế độ đa thê trong gia đình, học chữ Quốc ngữ và chịu khó mở mang tâm trí cho nền văn minh khoa học Tây Phương. Đây là những điểm cơ bản trong phong trào Duy Tân, Đông Du của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can… Nhưng đó lại là những sự thật mà người Công Giáo Việt Nam đã phải chứng minh bằng cả mạng sống mình[241].

Hơn nữa, có rất nhiều người Công Giáo đã tham gia các phong trào này. Phan Bội Châu trong cuốn hồi ký Phan Bội Châu Niên Biểu đã kể rõ tên của một số linh mục, giáo dân và xứ đạo đã giúp đỡ mình. Trong đó ông đã nhắc đến Mai Lão Bạng, quê ở Thọ Ninh, Hà Tĩnh, tháng 3/1908, đã đem vài chục thanh niên Công Giáo sang Hồng Kông trong chương trình Đông Du[242].

Vào năm 1883, Toà Thánh tách Gp. Đông Đàng Ngoài thành hai giáo phận Đông (Hải Phòng) và Bắc (gồm các tỉnh ở phía Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng Lạng Sơn) và trao cho Đức cha Colomer Lễ cai quản. Như thế là vào cuối giai đoạn này, GHVN có 9 giáo phận với số tín hữu gần 600.000 người. Trong giai đoạn thử thách này, dù bị giết hại rất nhiều nhưng số tín hữu vẫn không hề sút giảm và đã giới thiệu cho cả người bách hại mình một sự sống mới mẻ và toàn diện.

4.2. Giai đoạn phát triển trong an bình (1886-1960)

Giai đoạn này được gọi là phát triển trong an bình vì không còn những cuộc bách hại trực tiếp bởi triều đình hay quần chúng, nhưng GHVN vẫn chịu tác động bởi những biến cố trong lịch sử dân tộc và thế giới.

Bối cảnh đất nước

Ở Việt Nam, từ năm 1887, người Pháp hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam và tổ chức một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương, đứng đầu là phủ toàn quyền Đông Dương, Việt Nam chia thành 3 miền, miền Nam là thuộc địa của Pháp có thống đốc Nam kỳ, miền Trung có khâm sứ Trung kỳ, miền Bắc có thống sứ Bắc kỳ. Nền quân chủ do vua nhà Nguyễn ở kinh đô Huế chỉ còn là bù nhìn sau khi Phong trào Cần Vương năm 1885 thất bại. Trong nước, một số đảng phái chống chính quyền xuất hiện như Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1920, Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930.

Sau thế chiến thứ I (1914-1918) và thứ II (1939-1945), dân tộc Việt Nam trải qua thời kỳ bất ổn triền miên kéo dài tới năm 1954. Nhiều phong trào chống Pháp với các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi như Việt Nam Quốc dân Đảng với Nguyễn Thái Học ở Yên Bái; Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930) ở Nghệ An, Hà Tĩnh; Du kích Bắc Sơn tháng 9/1940; khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940). Rất nhiều tín hữu Công Giáo đã tham gia vào các phong trào yêu nước này.

Năm 1940, Nhật tấn công Đông Dương và chiếm quyền cai trị của Pháp. Năm 1941, mặt trận Việt Minh được thành lập. Năm 1945, sau khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, đất nước Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn. Lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã tổ chức thành công Cách mạng Tháng Tám. Ngày 2/9/1945, tại Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 12/1946, chiến tranh giữa Việt Minh và thực dân Pháp bùng nổ và kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Sau Hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia thành hai miền: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Bắc theo chế độ Cộng sản; và nước Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam theo chế độ Tư bản. Cuộc xung đột ý thức hệ giữa Tư bản và Cộng sản dẫn đến các cuộc xung đột ở nhiều nơi trong nước và cuộc di cư của gần 1 triệu người ở cả 2 miền, trong đó có khoảng 700.000 tín hữu miền Bắc di cư vào miền Nam. Biến cố này đã tạo nên nhiều xáo trộn trong GHCG ở miền Bắc và thay đổi mạnh mẽ cấu trúc của GHCG ở miền Nam.

Tình trạng Giáo hội Việt Nam

Ngày 3/12/1924, Toà Thánh đổi tên các giáo phận Tông toà tại Việt Nam theo địa hạt hành chính, nơi đặt toà giám mục, giống như ta đang có ngày nay.

Sau Công đồng Đông Dương năm 1934, GHVN phát triển rất nhanh vì được định hướng rõ rệt dẫn đến việc nhiều giám mục Việt Nam được tấn phong và thành lập nhiều giáo phận mới như Gp. Thanh Hoá (1932) từ Gp. Phát Diệm, Thái Bình (1936) từ Bùi Chu, Vĩnh Long (1938) từ Sài Gòn và Phủ doãn Tông toà Lạng Sơn trở thành giáo phận chính toà (1939).

Tình hình GHVN vào năm 1939: 16 giáo phận, 17 giám mục, 1.544.765 giáo dân trên tổng dân số 23.193.769 người, tỉ lệ 6,66% dân số.

Giáo hội miền Bắc còn lại 10 giáo phận với 7 giám mục, 374 linh mục và một số ít tu sĩ phục vụ 750.000 tín hữu. GHCG miền Bắc chịu nhiều thử thách nặng nề dưới chế độ Cộng sản: tất cả các cơ sở của Giáo Hội như chủng viện, dòng tu hay bác ái từ thiện như bệnh viện, nhà dưỡng lão, cô nhi viện đều bị đóng cửa, đất đai bị tịch thu, từng linh mục, tu sĩ bị quản lý nghiêm ngặt. Nhiều học sinh Công Giáo không thể theo học các lớp trung học và phải bỏ đạo nếu muốn học đại học. Giáo hội miền Bắc rút vào thế bất hợp tác với chính quyền và anh dũng bảo vệ đức tin.

Trong khi đó, GHCG miền Nam theo chế độ Tư bản được tự do phát triển và phát triển rất nhanh. Các giáo xứ, nhất là những giáo xứ của người Bắc di cư, nhanh chóng xây dựng các cơ sở như nhà thờ, nhà xứ, trường học, nhà thương, nhà dưỡng lão, cô nhi viện. Các làng nghề truyền thống từ miền Bắc đưa vào được tái lập ở miền Nam khiến cho nền kinh tế của Việt Nam Cộng hoà phát triển mạnh mẽ và trổi vượt trong các nước Đông Nam Á. Ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hoà, là một tín hữu Công Giáo thanh liêm, đạo đức, một lòng vì nước vì dân, nên được quần chúng ủng hộ. Nhờ sự giúp đỡ đặc biệt của Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu, nhất là Tây Đức, những người Bắc di cư ổn định rất nhanh đời sống và hoà nhập vào cộng đồng dân tộc để cùng xây dựng quê hương.

Do số tín hữu đông đảo từ miền Bắc chuyển vào, nhiều giáo phận mới ở miền Nam được thành lập: Cần Thơ (1955) từ Nam Vang, Nha Trang (1957) từ Quy Nhơn. Ngày 24/11/1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã thiết lập Hàng Giáo phẩm Công Giáo Việt Nam với 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Một số giáo phận mới được thành lập trong dịp này: Long Xuyên từ Cần Thơ, Đà Lạt và Mỹ Tho từ Sài Gòn.

Vào cuối giai đoạn này, năm 1960, toàn bộ GHVN có 20 giáo phận: 10 ở giáo tỉnh Hà Nội, 4 ở Huế và 6 ở Sài Gòn. Thời điểm này, GHVN có 23 giám mục, 2.096.540 tín hữu trong số 29.200.000 dân, chiếm tỉ lệ 7,17%; 1.914 linh mục, 5.789 nam nữ tu sĩ, 1.530 đại và tiểu chủng sinh.

5. Thời kỳ trưởng thành (1960 đến nay)

Thời kỳ này được đánh dấu bằng việc thành lập Hàng Giáo phẩm Công Giáo Việt Nam năm 1960.

5.1. Ý nghĩa trưởng thành

Việc thành lập này có nghĩa là GHCGVN được Giáo Hội toàn cầu công nhận như một thực thể chính thức, trưởng thành trong mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Tất cả các giám mục Việt Nam trước đây chỉ cai quản các giáo phận gọi là hiệu toà, nay được gọi là chính toà. Những giáo phận hiệu toà là các giáo phận chỉ có danh nghĩa ở các nước châu Phi, châu Á thời xa xưa chứ không còn tồn tại trong thực tế. Các giáo phận Việt Nam nay trở thành chính toà, nghĩa là được mang tên thật sự của mình, được công nhận sự độc lập và trưởng thành của mình trong Giáo Hội hoàn vũ. Việc này cũng giống như những đứa con trưởng thành có thể ra ở riêng, không còn phải lệ thuộc vào cha mẹ hay sự bảo trợ của người khác, giống như một người được xã hội coi là trưởng thành khi biết đảm nhận các trách nhiệm của mình đối với cộng đồng.

Tuy nhiên, sự trưởng thành đó không phải chỉ là sự công nhận một chiều từ phía cha mẹ hay xã hội mà còn phải căn cứ vào sự lớn mạnh, vững chắc của chính chủ thể được công nhận về mặt thể chất cũng như tinh thần, về thái độ hành động cũng như tinh thần trách nhiệm của đương sự trong việc ứng xử với người khác, với vạn vật. GHCGVN cũng chỉ thật sự trưởng thành khi có sự lớn mạnh về cộng đồng tín hữu, về nhận thức và hành động cũng như tinh thần truyền bá Phúc Âm cho mọi người. Chúng ta sẽ phải xét xem GHCGVN thật sự đã trưởng thành chưa và cần phải làm gì để đạt được sự trưởng thành như Giáo Hội Mẹ mong muốn?

5.2. Bối cảnh lịch sử của thời kỳ này

Thời kỳ này mới chỉ kéo dài 59 năm (1960-2019) nhưng nhiều biến cố lớn lao trên thế giới và trong đất nước đã ảnh hưởng sâu xa đến GHVN, tác động đến sự trưởng thành của Giáo hội này.

Trên thế giới, cuộc đối đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, hay gọi là chiến tranh lạnh (1947-1991), sau Thế Chiến thứ II, đã xảy ra ở nhiều nơi và ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trong cuộc chiến từ 1954-1975.

– Ngày 30/4/1975, chính quyền miền Nam sụp đổ. Sự kiện này đã tạo nên sự hoảng loạn trong một bộ phận lớn dân chúng, nhất là những người có liên quan với chính quyền, khiến gần một triệu người phải rời khỏi đất nước, di tản đến nhiều nước trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ. Cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc chấm dứt, đất nước thống nhất.

– Ngày 2/7/1976 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam Bắc. Việt Nam mở rộng mối quan hệ với mọi nước, đóng góp nhiều hơn vào việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN, hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ (2015), Nhật Bản (9/2015), Hàn Quốc và Liên minh Châu Âu (EU).

– Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc.

– Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, bắt đầu từ Ba Lan (1989). Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới chính thức khởi đầu vào năm 1986 trong Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đổi mới này thật sự đã mang lại nhiều hiệu quả tốt đẹp, thay đổi được tình trạng kinh tế suy sụp của Việt Nam nhưng vẫn còn rất nhiều những khó khăn tồn tại. Ngày 1/11/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hoà nhập vào nền kinh tế thị trường thế giới.

5.3. Sự trưởng thành của GHCGVN

Chính trong bối cảnh thay đổi sâu xa của thế giới và của Việt Nam, GHVN được mời gọi đổi mới để trưởng thành. Nếu chúng ta không chấp nhận đổi mới chính mình, sự trưởng thành này sẽ khó có thể đạt được theo lòng mong ước của Giáo Hội toàn cầu. Nó sẽ giống như một con người lớn mạnh về thể xác, nhưng lại rất ấu trĩ và nhỏ bé về tinh thần. Chúng ta quan tâm đến sự trưởng thành đó theo 4 lĩnh vực: trong cơ cấu tổ chức, trong nhận thức, trong hành động và trong việc Phúc Âm hoá (PAH).

5.3.1. Trưởng thành trong cơ cấu tổ chức

Giai đoạn 1960-1975

Giáo hội miền Bắc hầu như không phát triển về mặt nhân sự và cơ sở. Ngược lại, Giáo hội miền Nam lại gia tăng rất nhanh số tín hữu. Các giáo phận ở miền Trung và miền Nam lại được chia nhỏ: Đà Nẵng (1963) từ Quy Nhơn, Xuân Lộc và Phú Cường (1965) từ Sài Gòn, Ban Mê Thuột (1967) từ Kontum, Phan Thiết (1975) từ Nha Trang.

Vào thời điểm 1975, GHVN có 3 Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài Gòn với 25 giáo phận. Giáo tỉnh Hà Nội gồm 10 giáo phận: Hà Nội, Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Hoá, Thái Bình, Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hoá và Vinh. Giáo tỉnh Huế gồm 6 giáo phận: Huế, Quy Nhơn, Kontum, Nha Trang, Đà Nẵng và Ban Mê Thuột. Giáo tỉnh Sài Gòn sau đổi thành Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) (từ ngày 23/11/1976) gồm 9 giáo phận: TP.HCM, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Đà Lạt, Mỹ Tho, Phú Cường, Xuân Lộc và Phan Thiết.

Khởi đầu thời kỳ này, một biến cố tác động sâu xa đến Giáo Hội toàn cầu cũng như GHVN, đó là CĐ. Chung Vaticanô II (1962-1965) với đường hướng đại kết và mục vụ đã làm cho GHVN, nhất là ở miền Nam, quan tâm nhiều đến vai trò của Giáo Hội trong thế giới ngày nay và thúc đẩy mọi tín hữu tích cực tham gia các hoạt động trong xã hội trần thế.

Bảng tổng kết tình hình GHVN vào năm 1962-1963 cho ta thấy hoạt động của Giáo hội trong lĩnh vực giáo dục, y tế và xã hội rất lớn. Hầu như xứ đạo nào cũng có trường tiểu học và các nơi tập trung đông dân như thị xã, đều có trường trung học. Ta có thể thấy cả GHVN lúc đó có 2.151.370 tín hữu, 1.523 linh mục triều, 293 linh mục dòng và thừa sai, 533 đại chủng sinh, 2.748 tiểu chủng sinh, 956 tu sĩ nam, 4.977 tu sĩ nữ, 6.026 nhà thờ, 1.354 xứ đạo. GHVN lúc đó có 93 trường trung học với 60.412 học sinh, 1.122 trường tiểu học với 234.749 học sinh, 58 cô nhi viện nuôi 6.616 trẻ, 48 bệnh viện với 6.453 giường, 35 viện dưỡng lão với 244 người, 8 trại phong với 3.465 người và 159 phòng phát thuốc cho khoảng 1.870.073 lượt người.

Sự phát triển của Giáo hội miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này trước hết là do sự tổ chức quy củ của các giáo phận cho mọi thành phần dân Chúa, nhất là trong việc đào tạo các linh mục và tu sĩ. Ở miền Nam, giáo phận nào cũng có các tiểu chủng viện thu nhận các học sinh từ lớp 6 và huấn luyện đến hết lớp 12 để đưa vào các đại chủng viện chung của từng vùng hay từng miền. Vì có chương trình đào tạo hoàn chỉnh và định hướng cụ thể nên các linh mục, sau 7-8 năm học ở đại chủng viện, đã trở thành những người lãnh đạo có khả năng tại các giáo xứ hay trong các hoạt động mục vụ. Giáo hoàng Học viện Piô X ở Đà Lạt còn có chương trình đào tạo cao hơn cho các cấp lãnh đạo trong GHVN[243]. Viện Đại học Công Giáo ở Đà Lạt cũng là nơi đào tạo cho các giáo dân và người ngoài Công Giáo trình độ văn hoá cao cấp.

Sự phát triển của xã hội, nhất là ở miền Nam Việt Nam, luôn có sự đóng góp tích cực và lớn lao của các hội đoàn và phong trào Công Giáo Tiến hành. Mỗi giới, mỗi lứa tuổi, đều có những đoàn thể hướng dẫn nhằm giúp việc sống đạo tiến triển theo đường hướng tích cực. Ta có thể kể tên số đoàn hội tiêu biểu như: Thiếu Nhi Thánh Thể, Hùng Tâm Dũng Chí, Nghĩa Sinh, Hướng Đạo Sinh Công Giáo, Thanh Sinh Công, Con Đức Mẹ, Thanh Lao Công, Legio Mariae, Hiệp Hội Thánh Mẫu, Bà Mẹ Công Giáo, Gia Đình Phạt Tạ, Bác Ái Vinh Sơn, Dòng Ba Phan Sinh, Dòng Ba Cát Minh, Dòng Ba Đa Minh…

Chúng ta không thể nào quên sự đóng góp lớn lao của các tu sĩ nam nữ vào sự phát triển Giáo Hội và xã hội. Trong thời kỳ 1960-1975, các dòng tu phát triển rất mạnh ở miền Nam: 22 dòng và tu hội nam với 956 tu sĩ, 33 dòng và tu hội nữ với 4.977 tu sĩ đã khấn. Phần lớn các tu sĩ dạy trong các trường học và làm việc tại các cơ sở bác ái từ thiện như bệnh viện, nhà hộ sinh, viện dưỡng lão, cô nhi viện, trại phong… Các tu sĩ được học hỏi nhiều về đời tu cũng như về các khoa học đạo đời để có khả năng phục vụ. Trình độ văn hoá của tu sĩ được nâng cao: trước đây là tốt nghiệp lớp 9, sau đó là lớp 12. Nhiều người còn học thêm vài ba năm thần học hoặc theo học các chuyên khoa tại các đại học[244].

Tuy nhiên, sự trưởng thành của GHVN ở miền Nam cũng được thử thách khi người tín hữu tiếp cận với lối sống hưởng thụ dễ dãi, thiên về khoa học thực nghiệm của nền văn hoá phương Tây. Dù được hoàn toàn tự do sống đạo và truyền đạo, nhưng số người theo đạo lại giảm sút so với những thời kỳ trước đây.

Ta có thể căn cứ vào số người lớn được rửa tội trong các giáo phận ở miền Nam để xác định điều này. Thí dụ: TGP. Sài Gòn từ năm 1962-1974, với số tín hữu 500.000 người nhưng số người lớn theo đạo mỗi năm một giảm, từ 4.624 người xuống còn 1.829 người. Hoặc Gp. Xuân Lộc, với số dân Công Giáo 332.810 người, chỉ có 857 người lớn trở lại đạo vào năm 1974[245]. Dù rằng các giáo phận này có trên 500 linh mục, hàng ngàn tu sĩ nam nữ, hàng trăm ngàn đoàn viên Công Giáo Tiến hành hoạt động trong gần 500 trường trung tiểu học và cả trăm cơ sở bác ái từ thiện. Người ta có thể học trường Công Giáo để biết chữ nghĩa, đến cơ sở từ thiện để nhận trợ cấp thuốc men, vật chất, tiền bạc, nhưng người ta không theo đạo Công Giáo. Điều này thúc đẩy GHVN phải thay đổi cách sống đạo và rao giảng Phúc Âm để trưởng thành hơn trong đức tin.

Giai đoạn 1975- 2019

Giáo phận mới được Toà Thánh thiết lập là Bà Rịa vào năm 2005, tách ra từ Gp. Xuân Lộc. Như thế là Giáo tỉnh TP.HCM có 10 giáo phận. Giáo phận mới nhất được thành lập ngày 22/12/2018 là Hà Tĩnh, được tách ra từ giáo phận Vinh với giáo dân thuộc 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Như thế giáo tỉnh Hà Nội có 11 giáo phận. Giáo Hội Việt Nam hiện nay có 27 giáo phận.

Năm 2019, dân số Việt Nam hiện có hơn 96 triệu người, với tổng số người Công Giáo khoảng 7 triệu người, chiếm khoảng 7% dân số với hơn 5.000 linh mục, hơn 5.000 đại chủng sinh và tu sinh. Theo thống kê đầu năm 2019 của Uỷ ban Tu sĩ (UBTS) thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, trên toàn quốc có 307 dòng tu, tu đoàn, tu hội và hiệp hội với tổng số 33.087 tu sĩ, gồm 28.099 nữ tu và 4.988 nam tu, trong đó có 1.670 linh mục dòng. Thống kê của UBTS trong năm 2018 vừa qua cho thấy, có 2.922 tu sĩ nam nữ được gửi đi nước ngoài, trong đó có 2.272 tu sĩ giúp hoạt động mục vụ tại các giáo xứ và 650 tu sĩ trực tiếp đi truyền giáo tại các vùng xa xôi hẻo lánh, tập trung nhiều nhất tại Đài Loan, Nhật Bản và các quốc gia Phi Châu[246].

Quả thật, sau khi thống nhất đất nước, GHCGVN đã bước vào một thời kỳ mới để ý thức hơn về sứ mạng của mình và càng thêm tin tưởng vào quyền năng, ân sủng của Chúa. Cả hai miền trải qua một thời kỳ thử thách căng thẳng từ năm 1975 đến năm 1986, trước khi bước vào thời kỳ “đổi mới”, nhất là đối với những tín hữu Công Giáo ở miền Nam, vì chưa có kinh nghiệm sống trong chế độ Cộng Sản như anh chị em ở miền Bắc.

Khi tất cả các cơ sở thờ phượng bị kiểm soát chặt chẽ, các cơ sở tu trì, từ thiện, giáo dục, kinh tế của Giáo hội miền Nam bị đóng cửa hay bị quốc hữu hoá, người tín hữu hết sức lo sợ, có người không dám đến nhà thờ. Các chủng sinh và tu sĩ, nhất là những người chưa khấn, được trả về để sống với gia đình. Nhiều cộng đoàn như toà giám mục, nhà xứ, dòng tu, sau vụ đổi tiền ngày 22/9/1975 và ngày 3/5/1978 với mỗi hộ gia đình được đổi 200 đồng, không biết phải làm gì để sinh sống. Nhiều tu sĩ đã khấn đang hành nghề dạy học, bị buộc phải nghỉ dạy, không biết phải làm gì để tiếp tục đời tu. Nhiều người phải đi bán hàng rong, hay làm trong các tổ hợp đan mây tre lá, làm mành trúc,… Đó là chưa kể nỗi lo sợ thường xuyên bị quản lý, theo dõi, khám xét nhà ở. Tuy nhiên, hầu hết đều trung thành trong ơn gọi của mình.

Khi không còn bị ràng buộc bởi những thứ vật chất như cơ sở, phương tiện, người tín hữu tập trung lòng đạo vào việc thể hiện đức tin, đức ái trong đời sống âm thầm khiêm tốn hằng ngày. Các linh mục, tu sĩ bớt bận tâm về trường học hay cơ sở bác ái xã hội để tập trung vào việc học hỏi, dạy giáo lý và sống kết hợp với Chúa qua đời sống cầu nguyện.

Thật vậy, khi chúng ta tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa Quan Phòng, Đấng đã an bài những điều tốt đẹp nhất cho dân tộc và GHVN, chúng ta sẽ nhìn những gì đã xảy ra với tâm hồn an bình, tràn đầy hy vọng và mới biết cảm tạ Chúa vì hồng ân đặc biệt của Người. Biến cố này dẫn đến sự thống nhất đất nước, cho người hai miền bây giờ san sẻ cuộc sống trọn vẹn cho nhau, đồng thời cũng thống nhất GHVN, qua Đại hội các Giám mục Việt Nam năm 1980, trong đường hướng “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”.

5.3.2. Trưởng thành trong nhận thức

GHCGVN có lẽ cần quan tâm nhiều hơn để trưởng thành trong nhận thức. Sự nhận thức có được là do các thành phần dân Chúa được đào tạo tương đối hoàn chỉnh để có mối tương quan tốt đẹp với Chúa, với tha nhân, với vạn vật và với chính mình trong các lĩnh vực thể xác và tinh thần, tự nhiên và siêu nhiên, nội tâm và ngoại giới, cá nhân và tập thể thay vì quá chú ý đến các nghi lễ phụng tự hào nhoáng bên ngoài hay những kinh sách dài lời trong các buổi cầu nguyện.

Kể từ sau CĐ. Vaticanô II, người tín hữu có rất nhiều lợi thế để đạt tới sự trưởng thành về nhận thức hơn các thời kỳ của 20 thế kỷ đã qua. Cuốn Thánh Kinh bằng ngôn ngữ bản địa, các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo 1992, sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của GHCG 2004, các thông điệp, huấn từ, tông thư… của các vị giáo hoàng thường được dịch ngay sang tiếng Việt, dễ dàng cho các tín hữu học hỏi. Thêm vào đó là các bản văn phụng vụ của Thánh lễ và Giờ kinh Phụng vụ cũng được cử hành bằng tiếng Việt thay vì bằng tiếng Latinh như trước đây, rất dễ dàng cho người tín hữu tham dự cách sống động và tích cực. Các chủng viện, học viện cho tu sĩ, học viện mục vụ dành cho giáo dân với các chương trình dạy triết học, thần học bằng tiếng Việt cũng là những phương tiện hữu ích cho việc đào tạo sự trưởng thành về mặt nhận thức này.

Các linh mục, tu sĩ và giáo dân ưu tuyển là các giáo lý viên, những đoàn viên các đoàn thể Công Giáo Tiến hành, cần ý thức rằng chính mình là những người xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ nền văn hoá dân tộc bằng cách phổ biến những giá trị mới mẻ của nền văn hoá Công Giáo để xây dựng nền văn minh tình yêu. Nền văn minh này đặt nền tảng trên một tình yêu quảng đại, trong sáng, mãnh liệt, mang tính vĩnh hằng của Thiên Chúa[247]. Tổ tiên Công Giáo chúng ta đã giới thiệu cho đồng bào về giá trị của dân chủ, bình đẳng nam nữ, hôn nhân một vợ một chồng, khoa học kỹ thuật, chữ Quốc ngữ… của nền văn minh đó. Từng bài giảng của linh mục trong thánh lễ, từng bài dạy của tu sĩ trong lớp học, cho đến từng sinh hoạt của người tín hữu đều là những dịp thuận lợi để nâng cao nhận thức cho đồng bào, nên chúng ta không thể xem thường, nhưng phải chuẩn bị kỹ lưỡng nhờ giáo dục và đào tạo.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý rằng: kể từ năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa với ý thức hệ vô thần và duy vật, cố ý bài bác tôn giáo và tín ngưỡng dân tộc, đã ảnh hưởng sâu xa đến những người được thụ huấn, trong đó có cả những linh mục tu sĩ, chứ không phải chỉ có người dân. Việc bài bác các tôn giáo, không để cho tôn giáo dạy tín hữu ăn ngay ở lành, hành động theo chân thiện mỹ, là phá đổ chính nền tảng của văn hoá của dân tộc, nếu hiểu “văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong một giai đoạn nhất định của lịch sử”. Kết quả là nhiều người không còn sống theo những giá trị của chân thiện mỹ, buôn gian bán dối, tham nhũng, lừa đảo xảy ra ở khắp nơi, nên đạo đức xã hội càng ngày càng xuống cấp, những tội ác càng ngày càng man rợ, như các người lãnh đạo trong chính quyền đã nhận định[248]. Vì thế, người tín hữu Công Giáo rất cần trưởng thành về mặt nhận thức để vừa làm chứng nhân cho Chúa Giêsu Kitô vừa xây dựng nền văn hoá dân tộc.

5.3.3. Trưởng thành trong hành động

Tuy nhiên, “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17) cũng như người có “nhận thức mà không hành động” chỉ là hạng người “pharisêu” từng bị Chúa Giêsu trách cứ nhiều lần. Người tín hữu Việt Nam thời nay phải đưa những nhận thức đúng đắn, hoàn chỉnh và toàn diện của Kitô giáo thành những hành động cụ thể trong đời sống.

Trong giai đoạn hỗn loạn ở miền Nam Việt Nam vào buổi đầu sau khi thống nhất đất nước 1975, các giám mục đã quyết tâm ở lại quê hương, nhưng vẫn tôn trọng sự chọn lựa tự do của người giáo dân khi họ vượt biên và dạy họ can đảm bước theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá ở bất cứ nơi nào trên thế giới[249]. Đó là một sự trưởng thành về hành động.

Hành động cần thể hiện sự trưởng thành có lẽ phải đi xuống sâu hơn, ở những cấp thấp hơn là các linh mục, khi họ dám “đi ra” khởi nhà thờ, nhà xứ để hoà mình vào đời sống người dân, nhất là những người nghèo khổ, tật bệnh, bị gạt ra ngoài lề xã hội và mang lại sự cứu giúp cần thiết, cụ thể và ơn cứu độ như yêu cầu của ĐGH Phanxicô trong tông huấn “Niềm vui Phúc Âm”, ngày 24/11/2013. Hoặc đi xuống tột điểm là các tín hữu giáo dân khi họ biến nhận thức thành hành động cụ thể để không dùng hoá chất nguy hại trong các nông sản, thực phẩm bán cho người mua vì đó là vi phạm giới răn thứ Năm “Chớ giết người” của Chúa. Hàng hoá của người Công Giáo làm ra hay bán ra là phải an toàn, tốt đẹp, bổ dưỡng khiến ai cũng muốn giao hảo với người Công Giáo, như tổ tiên Việt Nam ta đã làm được trước đây và như anh em Công Giáo Hàn Quốc đang thực hiện được ở đất nước của họ khiến tỉ lệ người Công Giáo trong vòng 65 năm (1949-2015) tăng từ 1% lên đến 10,5% [250].

5.3.4. Trưởng thành trong việc PAH

Nếu nhìn lại các số liệu thống kê về dân số Công Giáo, chúng ta thấy dân số ấy tăng trưởng nhanh chóng: năm 1889 có 648.435 người, chiếm 6.5% dân số; năm 1939 có 1.544.765 người, chiếm 6,66%; năm 1960 có 2.094.540 người chiếm 7,17%; năm 1999 có 5.228.000 người chiếm 6,6%[251]; năm 2009 có 5.677.086 người chiếm 6,61%[252]; năm 2015 có 6.489.084 người chiếm 6,78% dân số. Tuy nhiên, đó chỉ là sự gia tăng cơ học, nghĩa là người dân sinh sản nhiều thì dân số tự nhiên tăng theo.

Muốn biết lĩnh vực truyền giáo hiệu quả hay không, người ta phải tính đến số người lớn theo đạo Công Giáo hằng năm. Quả thật, trong vài chục năm gần đây, số người lớn gia nhập đạo ở Việt Nam khoảng 30.000 đến 40.000 người mỗi năm, nhưng hầu hết là để lập gia đình với người Công Giáo. Điều tra trong các lớp giáo lý tân tòng đã cho ta thấy điều đó. Nhưng sau khi lấy được vợ hay chồng rồi, rất ít người còn giữ đạo và số người bỏ đạo mỗi năm cũng tương đương với người theo đạo. Kết quả là tỷ lệ dân số Công Giáo hầu như vẫn giữ nguyên khoảng 7% trong suốt hơn 130 năm qua từ năm 1886-2019. Như thế là chúng ta chưa thấy rõ được sự trưởng thành về mặt truyền đạo của GHVN[253].

GHCG toàn cầu đã triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục (THĐGM) thế giới vào tháng 10/2012 tại Rôma với đề tài “Tân PAH để thông truyền đức tin” và nhắc nhở tín hữu rằng: tình trạng xã hội, văn hoá của thế giới đã thay đổi sâu xa nhưng người Công Giáo không thay đổi cách thức truyền đạo, nên việc truyền đạo không đạt kết quả. THĐGM phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và chúng ta gặp thấy các nguyên nhân ấy ở GHCGVN. Giáo Hội cũng đề ra giải pháp Tân PAH, nghĩa là mỗi tín hữu phải trở thành Phúc Âm, trở thành Lời Sống động là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, trở thành hiện thân của Đức Giêsu Kitô, thì mới mong đạt được kết quả truyền đạo như thời các Thánh Tông đồ xưa[254].

Trở thành hiện thân của Đức Giêsu Kitô là người tín hữu phải gặp được Người vì đức tin là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa cụ thể là Đức Giêsu với từng con người cụ thể, phải kết hợp mật thiết với Người để Người chuyển thông cho họ tình yêu, sức mạnh, ân sủng và cả quyền năng, rồi từ đó họ mới có thể chia sẻ cho người khác “sự thật và sự sống, sự thánh thiện và ân sủng, tình yêu, công lý và hoà bình”[255]. Xã hội Việt Nam đang rất cần những giá trị đó để có thể đứng vững và phát triển nhưng hình như những tín hữu Công Giáo, nhất là những người có trách nhiệm lãnh đạo cộng đồng, chưa ý thức được sứ mạng cao quý của mình. Họ cũng chưa phát huy những ân sủng kỳ diệu của Chúa Giêsu Kitô ban cho họ nên công trình PAH vẫn chưa đạt kết quả như lòng mong ước. Bước đường trưởng thành về PAH còn đang trải dài phía trước cho GHVN.

Lời kết

Nhìn lại dòng lịch sử dân tộc, người tín hữu Việt Nam sẽ cảm nghiệm được tình yêu thương của Cha Trên Trời để sống hoà thuận và hiệp thông với anh em trên mọi miền đất nước, cũng như với mọi người trên thế giới. Ý thức được điều này, người Công Giáo Việt Nam càng muốn hoà nhập vào lòng dân tộc để thể hiện sứ mạng đã được Cha Trên Trời trao phó: xây dựng tình huynh đệ chân thành nơi địa phương mình sống. Trong đại gia đình dân tộc hiện nay có nhiều nền văn hoá khác nhau nên người tín hữu cần tìm hiểu và đối thoại với anh em để cùng xây dựng một nền văn minh tình yêu và hoà bình.

Bước vào thiên niên kỷ mới, HĐGMVN đã thiết tha yêu cầu người tín hữu đổi mới cách nghĩ, cách làm, cách sống của mình theo đúng tinh thần của Chúa Kitô để có thể “sống, làm chứng và loan báo Phúc Âm cho mọi giới đồng bào thân yêu”[256]. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông điệp Khởi đầu thiên niên kỷ mới, cũng mời gọi tất cả chúng ta cùng “ra khơi với Đức Giêsu Kitô” để thả lưới và bắt được nhiều “cá người” cho Thiên Chúa (số 51-52). Chúng ta sẽ không đứng yên trên bờ hay vui chơi trên bãi biển theo xu hướng cầu an hưởng thụ của con người thời nay. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận những gian lao vất vả trong cuộc sống đạo và truyền đạo để làm cho Giáo Hội và quê hương Việt Nam mỗi ngày thêm phát triển, tràn đầy tình thương và sự sống của chính Thiên Chúa.

Câu hỏi gợi ý

1. Các tín hữu Công Giáo thời xưa đã sống như thế nào để thu phục đồng bào tin theo Chúa Giêsu Kitô?

2. Tín hữu thời nay nên sống cụ thể tích cực ra sao để làm chứng cho Nước Trời?

Bài 12: Con đường tình yêu mở rộng cho tất cả mọi người

Lời mở

Công đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Mục vụ “Vui mừng và Hy vọng” đã xác định rằng: “Đối với những ai tin vào tình yêu Thiên Chúa, Người cho họ xác tín rằng con đường tình yêu mở rộng cho tất cả mọi người”[257], vì Thiên Chúa đã đặt tình yêu vào trong lòng con người như một dấu hiệu đặc biệt khi dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài và giống như Ngài. Nhờ tình yêu này, con người yêu vạn vật, yêu thiên nhiên, yêu con người và yêu Thiên Chúa như là nguồn của mọi hiện hữu.

1. Một Trời yêu thương

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, dân tộc Việt Nam chúng ta tin vào Trời. Niềm tin ấy được diễn tả trong đời sống hằng ngày, trong những nghi lễ của vua chúa trên Tế đàn Nam Giao cũng như trong các lễ hội dân gian, được lưu trữ trong kho tàng văn hoá dân tộc qua những câu ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích…

Trời không phải chỉ là khoảng không gian xanh thẳm trên đầu (Trời cao có mắt), nhưng là một Đấng quyền phép vô song, tạo dựng nên vạn vật (Trời sinh, Trời dưỡng; Con chim nó hót trên cành, Nếu Trời không có, có mình làm sao, Con chim nó hót trên cao, Nếu Trời không có, làm sao có mình?), nhìn thấu mọi sự và soi thấu lòng dạ khôn dò của con người (Trời nào có phụ ai đâu, Hay làm thì giầu, có chí thì nên). Vì thế, người ta cầu Trời ban cho mình những thứ cần thiết (Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp…). Trời là gương mẫu cho người ta noi theo, tạo thành một nền luân lý gọi là “đạo Trời” để con người tuân giữ (Dù ai nói ngược, nói xuôi, Ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng). Tất cả đều diễn tả tình yêu thương của Trời đối với muôn loài.

Khi đạo Công Giáo được các thừa sai dòng Tên chính thức truyền vào Việt Nam trong khoảng năm 1615-1665, các ngài đã dạy cho người dân Việt Nam về đạo Trời đó, nhất là trong cuốn giáo lý Phép Giảng Tám Ngày của linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Trong cuốn sách đầu tiên được in bằng chữ quốc ngữ này, cha Đắc Lộ gọi Trời là Đức Chúa Trời[258]. Nhiều bản kinh chúng ta vẫn còn đang giữ tên gọi đó như kinh Mười Điều Răn, kinh Cám Ơn, kinh Tin Kính của các Tông đồ…

Trong dòng lịch sử dân tộc, người Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi nền văn học Trung Hoa. Đạo Trời của người Việt có một số nét tương đồng với đạo Khổng hay Nho giáo của người Tàu như “Thiên bất dung gian, Thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Từ sau Công đồng Kẻ Sở năm 1924, nhiều sách vở Công Giáo bắt đầu dùng từ Thiên Chúa, viết tắt bởi từ “Thiên địa chân Chúa”, có nghĩa là vị Chúa đích thực của trời đất, thay cho từ Đức Chúa Trời[259].

Thật ra khi cảm nghiệm được tình yêu của Chúa Trời dành cho con người và vạn vật, người Việt dễ dàng đón nhận niềm tin của người Công Giáo dành cho Thiên Chúa. Điều này đã được nhiều học giả ghi nhận: “Xưa kia chỉ biết kêu trời. Mà nay đã biết gọi Trời là Cha. Trần gian chẳng phải là nhà. Đi về vĩnh cửu gặp Cha trên Trời”[260]. Từ đó nhiều người mới chính thức đi tìm sự sống vĩnh hằng.

2. Những thái độ của con người trước sự sống vĩnh hằng

Trong dòng lịch sử, kể từ khi bắt đầu biết suy tư các đây khoảng 40.000 năm, con người có nhiều thái độ khác nhau đối với sự sống vĩnh hằng, ta có thể tóm lược vào 4 thái độ sống sau đây:

2. 1. Thái độ duy vật sơ khai và hiện đại

Thái độ đầu tiên gọi là duy vật vì cách đây vài trăm ngàn năm cho đến bây giờ, con người chỉ coi sự sống của mình giống như sự sống của những sinh vật kéo dài vài chục năm hoặc 100, 200 năm rồi chết là hết. Khi con người chưa phát triển khả năng suy tư của tinh thần, họ chỉ ăn để sống, sống rồi chết như một cái cây, con thú. Chúng ta gọi đó là thái độ duy vật sơ khai của những con người sống hoang dã.

Nhưng hiện nay người ta vẫn tiếp tục thái độ ấy, dù khoa học đã phát triển tột bực. Nhiều người vẫn tiếp tục nghĩ rằng con người chỉ là kết quả ngẫu nhiên của vật chất tiến hoá, tụ vào thành người rồi sẽ lại tan thành vật. Tất cả cuộc sống của họ chỉ là cố gắng học hành thật giỏi, làm việc thành công, kiếm được nhiều tiền, mua được ngôi nhà đủ tiện nghi, sắm được chiếc xe hơi đời mới, mặc quần áo đúng mode, ăn những bữa cơm thật ngon lành thịnh soạn…Như thế mới là cuộc đời đáng sống, rồi có chết như một con vật và bỏ lại tất cả cũng không sao! Ta gọi đó là thái độ duy vật hiện đại.

2.2. Thái độ duy linh

Thái độ thứ hai gọi là duy linh, vì cho rằng chỉ có thần linh mới sống vĩnh hằng. Con người không thuộc giới thần linh, nên phải chết là lẽ đương nhiên. Các triết gia Hy Lạp, Rôma, nhiều tôn giáo vẫn nghĩ rằng chỉ những thần linh như thần Zeus, Jupiter, Mars, Minerva, Venus, Diana… mới có thể sống mãi mãi còn con người chỉ là đồ chơi nhất thời của các thần linh.

Trong những thần thoại người ta kể rằng nếu con người muốn sống bất tử thì phải được thần linh gắn bó, nên có những con người, như Hercules, Achilles… là sự kết hợp giữa một vị thần bất tử với một người trần khả tử để sinh ra một người nửa thần nửa người. Hercules là con của thần Zeus và bà Alcmene nên có sức mạnh vô địch và bất tử nhờ được bú trộm sữa của nữ thần Hera[261].

2.3. Thái độ nhân bản

Thái độ thứ ba gọi là nhân bản vì lấy con người khả tử làm gốc chứ không phải lấy thần linh bất tử và tin rằng nếu con người cố gắng, có thể vươn đến đời sống vĩnh hằng của thần linh. Đây là thái độ của rất nhiều người theo những tôn giáo khác nhau. Họ tôn thờ nhiều thần linh khác nhau và hy vọng các thần ấy chia sẻ cho mình sự sống vĩnh hằng, sự khôn ngoan, trẻ đẹp, quyền năng vô biên của mỗi vị thần.

Trong lịch sử dân tộc Do Thái, ông Giôsuê giới thiệu với người Do Thái rằng họ có thể chọn lựa giữa các thần linh ở miền Lưỡng Hà, nay là nước Iran và Irắc hoặc những vị thần của dân tộc Amorê đang sống chung quanh họ. Nhưng người Do Thái nói rằng họ chỉ chọn Thiên Chúa hằng sống như chính ông đang theo, vì chính Ngài đã dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập, đã giải phóng họ thoát khỏi ách nô lệ của người Ai Cập, nuôi họ bằng manna suốt 40 năm trong sa mạc và đưa về Đất Hứa. Họ nghĩ rằng chỉ có Thiên Chúa đó mới có thể chia sẻ cho con người sự sống vĩnh hằng (x. Gs 24,1.15-18).

Con đường nhân bản rất đẹp này được Đức Phật Thích Ca giảng dạy cách đây hơn 2500 năm. Sau khi theo đuổi nhiều tôn giáo khác nhau nhưng không đạt được kết quả, Ngài đã giác ngộ tìm ra được con đường giúp con người đạt đến sự sống vĩnh hằng. Trong bài giảng quan trọng ở Bênares, Ngài giới thiệu 4 chân lý căn bản cho con người, đó là: khổ-dục-diệt-đạo. Đời sống của con người tất cả đều là khổ, đều là vô thường. Nguyên nhân cái khổ là lòng dục của con người. Muốn thoát khổ thì phải diệt cái dục đó. Muốn diệt được dục thì phải theo bát chánh đạo, nghĩa là 8 hướng chân chính để con người có thể đi và đạt được hạnh phúc: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định. Tín đồ Phật giáo cố gắng giữ ngũ giới (5 điều xấu: tránh sát sinh, tránh trộm cắp, tránh tà dâm, tránh gian dối, tránh say sưa rượu chè).

Con đường nhân bản này chỉ tin vào sức mạnh của chính mình, không cần bất cứ thần linh nào giúp sức. Vì thế để có thể chuyển đổi từ một con người vô thường, hữu hạn, tỗi lỗi, đầy dục vọng, sang con người vĩnh hằng, quyền năng vô hạn, hạnh phúc vô biên, con người ấy phải trải qua hàng tỷ kiếp tu thân, tích đức, mỗi kiếp thanh luyện mình một chút để một ngày nào đó mới thoát ra khỏi vòng luân hồi, không còn bị chi phối theo luật nhân quả và đạt đến cõi Niết Bàn. Khoảng 400 triệu người trên thế giới đang đi theo con đường rất đẹp của Đức Phật Thích Ca.

2. 4. Thái độ nhân bản tâm linh

Chỉ có Kitô giáo mới giới thiệu rõ ràng cho loài người một con đường mới. Con đường này là chính Đức Giêsu Kitô khi Người nhắc nhở chúng ta rằng: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Tự bản thân, khi đang là loài thụ tạo khả tử, hữu hạn, bất toàn, tội lỗi, con người không thể nào tự mình trở thành bất tử, vô hạn, hoàn hảo, thánh thiện như Thiên Chúa Tạo hoá vì không ai có thể tự cho cái mình không có.

Như thế, con đường mà Đức Giêsu giới thiệu cho chúng ta không phải chỉ lấy con người làm gốc để tự cứu độ mình như con đường của Đức Phật Thích Ca, mà nó mang ý nghĩa nhân bản tâm linh vì cần đến sự can thiệp của Thần linh trong tâm hồn và thể xác của con người. Nhân bản vì vẫn lấy con người làm gốc, nhưng đây là con người đã được Ngôi Lời Thiên Chúa đón nhận, vì Ngôi Lời đã trở thành Đức Giêsu Kitô. Tâm linh vì được thần linh, được Thiên Chúa, khai sáng và hoà nhập để trở thành một với Đức Giêsu.

Thiên Chúa vì yêu thương đã dựng nên con người, cho con người được tự do để yêu thương hay từ khước Ngài. Con người đã từ chối tình yêu ấy, đã cắt đứt sự hiệp thông với Thiên Chúa nên đánh mất sự sống vĩnh hằng và mọi ân phúc cao cả như trẻ đẹp, khôn ngoan, thánh thiện, quyền năng. Con người không thể tự cứu được mình, nên Thiên Chúa đã sai con của Ngài xuống thế trở thành người, để nâng con người lên trở thành Thiên Chúa như Ngài, sau khi cho Con của Ngài là Đức Giêsu chết để đền tội cho chúng ta.

Như vậy, chúng ta chỉ cần một kiếp ở đời này mà thôi, nếu ta sống kiếp đó với niềm tin trọn vẹn vào Chúa Giêsu, đón nhận Người, gắn bó mật thiết với Người thì Người chuyển thông cho chúng ta sự sống kỳ diệu, phi thường, vĩnh hằng của chính Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói rằng: chúng ta là hiền thê của Đức Kitô Giêsu, Người là người chồng của ta, cả hai gắn bó với nhau thành một thân thể nhiệm mầu để Người chuyển thông cho ta sức mạnh, tình yêu, quyền năng và sự sống phi thường của Thiên Chúa (x. Eph 5,21-32).

Chúa Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Ai ăn thịt và uống máu tôi sẽ được sống muôn đời”. Nhiều người Do Thái, và ngay cả các môn đệ, thấy lời đó hết sức chướng tai, bởi vì họ không thể chấp nhận chuyện ăn thịt và uống máu người khác. Họ cũng không thể chấp nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, vì họ chỉ tin một Thiên Chúa Giavê. Dù rằng những môn đệ ấy đã tận mắt thấy Người làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, cho kẻ chết sống lại, chữa lành bệnh nhân… họ vẫn bỏ Chúa Giêsu!

Trong thực tế của đời sống, chúng ta luôn được tự do để chọn lựa các thái độ sống trên đây và cũng trân trọng việc chọn lựa thái độ sống của người khác. Tuy nhiên, lịch sử của Giáo Hội Công Giáo và sự chọn lựa của hơn 2,2 tỉ người hiện nay đi theo con đường nhân bản tâm linh của Chúa Giêsu như mời gọi chúng ta tìm hiểu thái độ sống của mình. Chúng ta có thể xác tín như Phêrô hay như các môn đệ trong suốt dòng lịch sử con người rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đến với ai. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6, 68). Chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự sống kỳ diệu đó trong con người tầm thường, yếu đuối, hữu hạn của mình nếu ta tin vào tình yêu Thiên Chúa và gắn bó với Đức Giêsu như Kitô giáo mời gọi.

3. Con đường tình yêu

3.1. Tình yêu ở đây là gì ?

“Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8.16), nghĩa là bản thể của Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu này cũng được đưa vào trong bản tính của con người, nên tình yêu trong con người không còn chỉ là những cảm xúc, cảm tình, dù chúng hết sức mãnh liệt và có trách nhiệm[262] . Tình yêu nơi Kitô hữu còn là “một nhân đức, nghĩa là một năng lực được thủ đắc bằng huấn luyện”[263] , vì thế chúng ta mới nói đến đức tin-đức cậy-đức mến, như thánh Phaolô đã giải thích cho chúng ta: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13,7-8.13).

Sau hết, tình yêu còn là ân huệ cao quý hơn cả và tồn tại mãi mãi. Ân huệ này chỉ đứng sau ân huệ Con Một Thiên Chúa mà Cha Trên Trời ban cho ta. Tình yêu đó là chính Chúa Thánh Thần được Chúa Giêsu ban cho ta khi thổi Thần Khí của Người trên chúng ta. Đó cũng là “tình yêu của Cha Trên Trời đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần Ngài ban cho ta” (x. Rm 5,5) để hướng dẫn chúng ta như những người con tự do của Thiên Chúa, chứ không phải là những nô lệ sợ hãi, mà dân Do Thái xưa kia đã cảm nhận, và để chúng ta có thể nói lên hai tiếng “Abba, Cha ơi!” đối với Thiên Chúa như Thánh Phao lô nhắc nhở (x. Rm 8,14-17).

Vì thế, tình yêu của Ba Ngôi vừa là thực tại để chúng ta tôn thờ từng giây phút trong đời sống, đồng thời là một nhân đức để chúng ta luyện tập theo gương tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.

3.2. Những đặc tính của tình yêu Ba Ngôi

Chúng ta sẽ thấy ba đặc tính kỳ diệu trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi mà không một tôn giáo nào khác có thể dạy chúng ta như Kitô giáo. Đó là tình yêu sáng tạo của Chúa Cha, tình yêu cứu độ của Chúa Con và tình yêu thần thánh hoá của Chúa Thánh Thần.

Tình yêu sáng tạo của Chúa Cha

Tình yêu chân thật không bao giờ ích kỷ, đóng kín nơi mình, tự thoả mãn với mình, nhưng luôn luôn hướng về đối tượng mình yêu để chia sẻ tất cả những gì mình có. Đó là tình yêu của Chúa Cha. Từ tình yêu đó, Chúa Con đã sinh ra. Rồi khi Chúa Con là chủ thể yêu và Chúa Cha là đối tượng được yêu, Chúa Con trao tặng tất cả những gì mình có cho Chúa Cha thì tức khắc phát sinh Chúa Thánh Thần là tình yêu nối kết hai ngôi với nhau. Như thế cả ba ngôi chỉ có một bản thể duy nhất để trao cho nhau. Cũng nhờ tình yêu đó mà muôn loài muôn vật được tạo thành. Chúng ta thấy muôn loài đều phản ánh tình yêu trong sáng và tốt lành của Cha Trên Trời qua màu sắc của từng bông hoa, cánh bướm, đặc biệt là vẻ đẹp nơi mỗi con người. Chúng biểu lộ đặc tính chân thiện mỹ, hạnh phúc, bình an, niềm vui của tình yêu sáng tạo này.

Vì thế, chúng ta đang được mời gọi nhìn lại tình yêu của chính mình để xét xem tình yêu đó có thúc đẩy ta chia sẻ những gì mình có cho người khác không, nhất là cho những người nghèo khổ, dốt nát, yếu hèn, bệnh tật? Tình yêu của chúng ta có mang lại niềm vui, hạnh phúc và bình an cho họ không, hay lại khai thác, bóc lột, làm cho họ khốn khổ hơn khi chưa yêu ta? Tình yêu của ta có mang đặc tính chân thiện mỹ không hay nó giả dối, ác độc, xấu xa?

Tình yêu cứu độ của Chúa Con

Đặc tính cứu độ đã được diễn tả bằng những hành động cụ thể như Đức Giêsu đã làm trong cuộc đời trần thế của Người. Những hành động đó nhắc nhở rằng ta không được yêu chỉ bằng lời lẽ ngoài môi miệng, nhưng bằng những hành động tích cực thông thường trong đời sống[264]. Đức thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã gửi chúng ta lời nhắn nhủ rằng: “Được khích lệ từ lòng bác ái của Đức Kitô, người Kitô hữu chúng ta cảm thấy sự thôi thúc phải yêu thương anh em đồng loại. Người đó xem nhu cầu, nỗi đau và niềm vui của tha nhân như của chính mình. Các hoạt động trong mọi lĩnh vực của người tín hữu ấy luôn mang tính nối kết vững chắc với tha nhân. Mỗi hành động của họ đều năng động, rộng lượng và ân cần. Vì “đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” [265].

Tình yêu cứu độ của Ngôi Con luôn mời gọi chúng ta dám hy sinh cho đến cùng như Chúa Giêsu đã chết trên thập giá. Chúng ta cảm nghiệm được sự hy sinh ấy của vạn vật trong từng bữa ăn mỗi ngày, cảm nghiệm được sự hy sinh ấy nơi cha mẹ hy sinh cho con cái, như người tình dám chết cho người mình yêu, như người chiến sĩ hy sinh mạng sống cho đất nước. Nếu tình yêu của ta không mang đặc tính cụ thể và hy sinh thì nó cũng không có tính cách cứu độ muôn loài của Chúa Con.

Tình yêu thần thánh hoá của Chúa Thánh Thần

Thánh hoá có nghĩa là hoá thành thánh như Thiên Chúa là đấng thánh, thần hoá có nghĩa là biến thành thần linh như Thiên Chúa. Vì thế, tình yêu thần thánh hoá của Chúa Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta tôn trọng, nâng cao đối tượng mình yêu để giúp họ trở thành thần thánh, thành con cái Thiên Chúa như chúng ta, chứ không phải làm nhục, hạ thấp họ thành vật sở hữu của mình. Rất nhiều lần, do những tham vọng và dục vọng thúc đẩy, chúng ta đã hạ thấp, làm nhục đối tượng mình yêu, thậm chí biến người yêu thành phương tiện giải trí cho tham vọng và dục vọng hoặc bắt người yêu phải hành động như những con rối. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta phải thay đổi thái độ ấy.

Lời kết

Chúng ta được mời gọi nhìn lại tình yêu của mình xem có mang những đặc tính sáng tạo, cứu độ và thần thánh hoá của Ba Ngôi không. Nếu chúng ta thể hiện những đặc tính ấy trong cuộc sống hằng ngày thì những anh em lương dân chắc chắn sẽ nhận ra rằng chỉ có Ba Ngôi Thiên Chúa của người Công Giáo mới có thể thay đổi đời sống con người và xã hội của họ. Lúc đó họ mới dễ dàng tin theo Chúa Giêsu.

Câu hỏi gợi ý:

1. Tại sao người Việt trước đây dễ đón nhận Đạo Trời?

2. Hãy mô tả những đặc tính chính của tình yêu theo Kitô giáo.

Bài 13: Đức Giêsu là con đường sự thật và sự sống

Lời mở

Cuộc đời con người giống như một con đường. Có con đường bằng phẳng, đầy bóng cây râm mát và ta đi dễ dàng trong ít phút, nhưng cũng có con đường khúc khuỷu, mấp mô, đầy thử thách, ta phải đi trong suốt cuộc đời. Ngoài những con đường hữu hình đo theo từng cột mốc, còn có những con đường vô hình được gọi là “đạo” như “đạo làm người, đạo làm con”. Đó là những đường lối hay nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong đời sống xã hội[266]. Những con đường tâm linh, được nhiều người đồng hoá với tổ chức tôn giáo như Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Hồi, Đạo Chúa…, lại còn có thể đưa con người vượt qua cả đời trần thế để đi vào cõi vĩnh hằng.

Vì thế, trong phạm vi bài này, chúng ta tìm hiểu về con đường của muôn loài, của Thiên Chúa và của Giáo hội Chúa Kitô để bước theo trong đời sống.

1. Con đường của muôn loài tìm về cội nguồn

Nhìn vào vũ trụ bao la, dù không phải là nhà khoa học, chúng ta cũng có thể thấy vạn vật chuyển động như đang đi chung một con đường. Sau vụ nổ lớn (Big Bang) đầu tiên cách đây 13,8 tỉ năm, các thành phần của vũ trụ là các thiên hà, các ngôi sao đang lao nhanh trong không gian và mỗi giây phút lại biến đổi và tiến hoá không ngừng[267] như đang tìm về một đích điểm. Nhà khoa học C.R. Darwin (1809-1882) còn mô tả cho ta quá trình tiến hoá này: từ vật chất vô cơ đến hữu cơ, từ đơn bào đến đa bào, từ sinh vật hạ đẳng đến thượng đẳng có tinh thần là chúng ta như “con người biết suy tư”, gọi là “homo sapiens”, xuất hiện cách đây khoảng 195.000 năm[268].

Hơn nữa, con người hiểu biết rằng vạn vật vô cùng kỳ diệu, được vận hành theo những định luật chính xác, giống như chiếc đồng hồ hết sức tinh xảo, nên không thể ngẫu nhiên mà có, mà cần phải do người thợ khéo léo, thông minh làm ra. Riêng con người có khoảng 75 ngàn tỉ tế bào trong cơ thể được chia thành 200 loại khác nhau, được tổ chức thành nhiều nhóm để tạo nên các mô, rồi thành các cơ quan như bộ não, tim phổi gan ruột, nhờ đó con người có thể suy nghĩ, rung cảm, yêu thương, chuyển động, tiêu hoá đồ ăn, sinh sản,[269]…quả là một cấu trúc nhiệm mầu.

Nhờ tinh thần biết suy tư, con người luôn đặt câu hỏi với mình: “Con người là gì hay là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu?”. Con người luôn muốn tìm ra cội nguồn của mình cũng là nền tảng tối thượng của mọi loài hiện hữu trong vũ trụ[270]. Trong đời sống ngắn ngủi, biến động, vô thường ở trần thế, con người ý thức và cảm nghiệm về đau khổ, bệnh tật, già yếu, chết chóc trong khi vẫn nuôi trong lòng khát vọng được sống tốt đẹp mãi mãi và được hưởng trọn vẹn tự do, công bằng, hạnh phúc, tình yêu, hoà bình…[271] .

Con người không muốn chỉ truyền lại sự sống và ước mơ của mình cho con cháu sau này, nhưng muốn chính mình đạt được khát vọng đó. Vì thế con người luôn cố gắng đi tìm con đường dẫn tới nguồn của mọi hiện hữu để “được cứu độ, giải thoát, được hoá thành thần thánh, được vào Niết Bàn, vào Thiên Đàng…”.

Đấy là con đường tự nhiên của vạn vật trong vũ trụ cũng là con đường tâm linh của con người[272].

2. Con đường của Thiên Chúa

Người Cha Tạo Hoá, mà mỗi tôn giáo gọi bằng tên khác nhau như Đức Chúa Trời, Thiên Chúa, Đức Thượng Đế, Đấng Cao Đài, Đấng Tối Cao…, đã vạch ra con đường yêu thương để muôn loài tìm về được với Ngài. Các nhà khoa học ngày càng kinh ngạc khi khám phá ra những định luật kỳ diệu trong từng cục đá tầm thường, từng bông hoa nay còn mai mất… như dấu hiệu của con đường siêu việt ấy ẩn giấu trong vạn vật. Muôn loài thọ tạo, vì được Thiên Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ tạo thành, nên đều được chia sẻ những phẩm tính cao đẹp vĩnh hằng của Thiên Chúa (x. Kn 1,13-15; Mt 6,25-32).

Con đường này càng rõ rệt và cụ thể hơn nơi con người vì con người được Ngài dựng nên theo hình ảnh Ngài với tinh thần mở rộng đến vô biên và với tình yêu tự do để đáp lại tình yêu của Đấng Tạo Hoá (x. St 1-3)[273].

Nhưng con người đã chối từ tình yêu này, muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời mình, cắt đứt với nguồn hiện hữu, nên con người đương nhiên mất hết những ân sủng cao quý Chúa ban: trẻ đẹp, khôn ngoan và sống mãi. Hành động chối từ của nguyên tổ Ađam-Eva nói lên thực trạng bất toàn của con người (x. St 1-3)[274]. Vạn vật, vì gắn bó một cách mật thiết với con người, nên cũng bị ép buộc lệ thuộc sự hư nát (x. Rm 8,28) do tội lỗi con người gây nên.

Vì thế, khi chiều theo những tham vọng và dục vọng, con người không còn nhận ra con đường của Chúa ghi khắc nơi vạn vật cũng như nơi chính mình. Con người quay sang tôn thờ những sức mạnh thiên nhiên, bái lạy các tượng thần tưởng tượng. Ngày nay con người còn tôn thờ cả tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp, tài năng, khoa học vì tưởng lầm rằng chúng có thể ban cho mình hạnh phúc, sự sống, tình yêu…

Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn đặt con đường của Ngài trong lương tâm ngay chính của con người để dẫn họ về với Ngài. Ngài đã chỉ bảo cho họ bằng nhiều cách khác nhau (x. Dt 1,14) và các tôn giáo được coi là những con đường tâm linh để giúp con người tìm về với Ngài. Những con đường ấy, dù còn những điểm bất toàn, sai lạc, có khi mê tín, nhưng thật sự cũng là những con đường được Chúa Thánh Thần soi sáng cho con người[275].

Thiên Chúa còn chỉ dạy con đường của Ngài qua lịch sử dân tộc Do Thái khi kêu gọi Abraham lên đường (x. St 12,1-5). Dân tộc Do Thái đã học kinh nghiệm đi với Thiên Chúa của mình (x. Mk 6,8), nhất là trong cuộc xuất hành qua hoang địa (x. Tv 68,8), có cột mây, cột lửa dẫn đường (x. Xh 13,21), với giao ước Mười Điều Răn như bộ luật đi đường, để vào được Đất Hứa. Cuối cùng, họ hiểu ra con đường của Giavê, Đấng hiện hữu, là con đường tình yêu và chân lý (x. Tv 25,10; Tv 136) chứ không phải là luật lệ hình thức và việc thờ phượng bên ngoài[276].

Sau những lầm lạc của dân Do Thái và mọi dân tộc, chính Thiên Chúa sẽ xây dựng một con đường mới (x. Is 49,11) cho muôn loài. Đó là con đường Giêsu.

3. Đức Giêsu là Con đường sự thật và sự sống

Việc Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành con người chính là công trình Thiên Chúa xây dựng con đường của Ngài. Một Thiên Chúa tuyệt đối, vô hạn, siêu việt ở bên ngoài không gian, thời gian, đã trở thành một con người lịch sử hữu hình trong một không gian và thời gian nhất định. Con người đó là Đức Giêsu Nazareth. Thiên Chúa thực hiện công trình này do tình yêu thúc đẩy[277] vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,6). “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài, thì khỏi phải chết nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Con đường Giêsu có 2 chiều: một chiều đi xuống từ phía Thiên Chúa đến với thụ tạo và một chiều đi lên để nâng thụ tạo thành thần linh, chia sẻ cho họ sự sống đời đời, giúp họ thoả mãn khát vọng sâu xa là trở thành Thiên Chúa như Ngài. “Không ai lên trời được ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13), chỉ cho họ con đường lên trời. Đây là điểm khác biệt của con đường Giêsu so với các con đường tâm linh một chiều khác trong lịch sử[278] .

Đức Giêsu thật sự là con đường dẫn đến sự thật toàn vẹn và sự sống vĩnh hằng khi Người công bố và minh chứng cho con người và vạn vật biết Người “là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Người” (Ga 14,6)[279]. Người đã minh chứng con đường này bằng những lời giảng dạy đầy quyền năng, bằng những phép lạ, bằng cái chết trên thập giá và cuộc sống lại của Người. Như thế, con đường Giêsu không còn phải là những tín điều, những giáo thuyết, những nghi lễ hay luật lệ (x. Cv 9,2; 18,25; 24,22) nhưng là một con người sống động mà chúng ta cần tìm hiểu, đi theo, yêu mến và kết hợp thành một với Người.

Hơn nữa, Đức Giêsu còn đồng hoá mình với con người, nhất là với những ai đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, bị coi thường, bị tù tội (x. Mt 25,31-46) để mời gọi chúng ta yêu thương con người. Trong dòng lịch sử, nhiều tôn giáo đã có lúc quá chú trọng đến hình thức, nghi lễ dành cho thần linh, cho Thiên Chúa, mà coi nhẹ những hoạt động dành cho con người[280]. Đây cũng là một trong các nguyên nhân phát sinh ra những thái độ của con người chối bỏ thần thánh, tạo nên các chủ nghĩa vô thần. Những chủ nghĩa này đã nhân danh con người hay xã hội loài người để đòi lại những gì mà các tôn giáo đã dành cho thần linh, cho Thiên Chúa[281].

Vì thế, từ Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội Công Giáo đã bắt đầu xây dựng một nền nhân bản, dựa vào Chúa Kitô và lấy con người làm gốc, để làm sáng tỏ mầu nhiệm về con người và mời gọi mọi người cùng tìm giải đáp cho những vấn đề chính yếu của thời đại[282]. Giáo Hội Công Giáo đã xác định rằng “con người là con đường của Giáo Hội”[283] và cũng là con đường của Thiên Chúa, vì “Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành Đức Giêsu Kitô (x. Ga 1,14). Người sống với con người để làm cho tất cả những giá trị của con người thành cao cả vô biên vì “mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ nơi Đức Giêsu Kitô”[284].

Lời kết

Khi hiểu được Đạo là Chúa Giêsu Kitô, chúng ta sẽ thấy việc đi đạo, theo đạo, giữ đạo, sống đạo chính là đi theo và kết hợp thành một với Chúa Giêsu trong tình yêu để chính mình lại trở thành con đường dẫn muôn loài về với Người.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn đang theo đạo Công Giáo, bạn hiểu đạo là gì?

2. Bạn đang quan tâm thế nào đến con người?

Bài 14: Thở được linh khí của Trời

Lời mở

Trong đời sống thường ngày, chúng ta thường quan tâm đến ăn, ít chú ý đến uống và hầu như chẳng để ý đến thở. Nhiều người thở rất yếu nên sức khoẻ kém cỏi, mang nhiều bệnh tật. Trong kinh nghiệm tiếp xúc với hơn 10.000 bệnh nhân, tôi thấy 95% thở không đủ khi đo hơi thở cho họ. Nếu hiểu được tầm quan trọng của khí trong đời sống tự nhiên cũng như siêu nhiên, ta mới sống khoẻ mạnh, tài giỏi, xinh đẹp vì thở dồi dào được khí sạch của đất và trở thành kỳ diệu, phi thường, thần linh vì thở được khí thiêng của Trời.

Cuộc đời hào hùng của Nguyễn Công Trứ[285] như mời gọi ta thở được linh khí của trời đất qua bài thơ Kẻ Sĩ của ông:

“Khí hạo nhiên chí đại chí cương

So chính khí đã đầy trong trời đất”.

1. Tầm quan trọng của khí thở tự nhiên

Nhiều người chưa hiểu khí cần thiết và quan trọng như thế nào cho sự sống, nên chỉ quan tâm đến việc ăn uống và bỏ qua việc thở. Một ngày không ăn là họ cảm thấy đói cồn cào, tay chân rã rời, như mất hết sức sống. Nhưng thật ra, chúng ta biết rằng lương thực là loại nhu cầu thấp nhất so với nước uống và khí thở. Người ta có thể nhịn ăn tối đa khoảng 30-40 ngày, nhịn uống khoảng 3-4 ngày và nhịn thở tối đa khoảng 4 phút nhờ 1 lít không khí luôn được dự trữ trong buồng phổi. Mỗi ngày người lớn trung bình cần 1,5kg lương thực, 3-4 lít nước và tối thiểu 10.000 lít không khí.

Để có thể sống được, 75 ngàn tỉ tế bào trong cơ thể con người cần được liên tục cung cấp oxy từ khí quyển bên ngoài vào trong cơ thể và thải trừ khí carbonic. Nhờ có khí oxy, tế bào sẽ chuyển hoá hay đốt các chất dinh dưỡng mà máu đưa tới thành năng lượng và khí carbonic sinh ra trong quá trình này sẽ được thải ra ngoài[286]. Dòng máu đen đầy khí carbonic không còn ích lợi cho sự sống đó phải được quả tim chuyển sang buồng phổi để đỏ trở lại nhờ nhận được oxy. Trong vòng ¼ giây, máu đen tràn vào các túi chứa khí gọi là phế nang của phổi. Có khoảng 500 triệu túi, tạo ra một bề mặt có diện tích khoảng 70m2 để việc trao đổi khí được diễn ra thật nhanh chóng.

Khi hô hấp bình thường, có khoảng 500ml khí lưu thông vào và ra khỏi phổi. Tuy nhiên, người ta có thể gia tăng lượng khí hít thở trong khi vận động nhờ tập thở. Lượng khí tối đa mà hai lá phổi có khả năng giữ lại bên trong là 5.800ml, nhưng có khoảng 1000ml gọi là khí cặn, luôn được giữ lại bên trong đường hô hấp sau mỗi nhịp thở, để phòng trường hợp khẩn cấp do thiếu khí, ngạt hơi[287].

Hệ thần kinh, với bộ não và tuỷ sống, tiếp nhận thông tin từ tất cả các bộ phận của cơ thể và đáp lại bằng các chỉ thị đến mọi mô và cơ quan. Trung tâm thần kinh này được nuôi dưỡng bằng các dịch phức tạp, trong đó có máu. Đặc biệt bộ não với khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh gọi là neuron, tuy chỉ to bằng nắm tay, nhưng cần một lượng khí tối thiểu chiếm khoảng 1/5 lượng khí của toàn thân, nghĩa là khoảng 2.000 lít không khí một ngày. Các thông tin đi lên càng cao – hướng đến phần cao của não – thì chúng càng tiến gần tới sự nhận biết có ý thức của chúng ta: các chức năng cao nhất về thần kinh xảy ra trong vỏ não: các ý nghĩ, tưởng tượng, học hỏi, cảm xúc và ra quyết định có ý thức. Não có hai nguồn chính nuôi dưỡng và thải các chất cặn bã là dòng máu và dịch não tuỷ[288].

Như thế, nếu con người tăng cường hệ hô hấp để có nhiều oxy trong máu, người ta sẽ tăng cường được các chức năng của hệ thần kinh: ý thức dồi dào hơn, cảm xúc mãnh liệt hơn, ý chí mạnh mẽ hơn, học hành làm việc hiệu quả hơn. Đây là lý do chúng ta cần tập thở cho đúng, cho tốt để tăng cường chất lượng sống tự nhiên.

2. Tầm quan trọng của khí thở siêu nhiên

Khi hiểu được tầm quan trọng của khí thở đối với sự sống tự nhiên, ta có thể suy diễn và hiểu được phần nào tầm quan trọng của khí siêu nhiên đối với đời sống tinh thần của từng người, cũng như của Giáo Hội là thân thể nhiệm mầu của Đức Giêsu Kitô. Nhất là chúng ta nhận ra và cảm nghiệm được vai trò thần hoá của Chúa Thánh Thần vì Ngài chính là Thần Khí, là khí thiêng của Trời, được ban cho ta thở và biến đổi ta thành con cái Thiên Chúa như Chúa Giêsu.

Người Việt chúng ta đã từng biết đến “linh khí” là khí thiêng của trời đất, núi sông, biết đến “dũng khí”, “hào khí”, “chính khí” của những con người có chí khí mạnh mẽ, dám đương đầu với những khó khăn, nguy hiểm. “Khí hạo nhiên” được Nguyễn Công Trứ nhắc đến là thứ khí phách, năng lực tinh thần, phẩm cách cao quý nhất, không gì so sánh được của con người. Khí này được bàn đến trong câu chuyện Mạnh Tử nói với Công Tôn Sửu. Khí phách đó nhân hậu, cương trực mà những nhà Nho, kẻ sĩ luôn phải gìn giữ trong đời sống. Nhiều người theo Phật giáo và Lão giáo còn hiểu rằng “khí” không phải là không khí ta thở, nhưng là thứ năng lượng sống thuần khiết nhất của trời đất, của vũ trụ gọi là “khí tiên thiên” mà con người có thể thu nhận được, hoà hợp với “khí hậu thiên” do ta tập luyện được qua khí công (công phu luyện khí) được lưu chuyển khắp cơ thể ta. Những hiểu biết này giúp ta dễ hiểu hơn về Chúa Thánh Thần được gọi là Thần Khí của Kitô giáo.

Từ “Thần Khí” xuất phát từ chữ Ruah trong tiếng Do Thái, và có nghĩa đầu tiên là hơi thở, không khí, gió[289]. Chúa Thánh Thần là hơi thở của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng vũ trụ và con người (x. St 1,2; 2,7; Tv 33,6; 104,30; Gv 3,20-21; Xh 37,10). Ngài là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống của mọi loài thụ tạo[290]. Ngài là hồng ân cao quý nhất mà Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho các môn đệ khi thổi hơi trên họ để họ có quyền tha tội như Thiên Chúa: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần…”. Chúa Thánh Thần chính là “làn gió mạnh mẽ ùa vào đầy nhà nơi các môn đệ đang tụ họp” (x. Cv 2,1-11) để biến đổi họ thành con người mới đầy ân sủng và quyền năng. Cuối cùng, Ngài chính là Ngôi Ba Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con.

Khi thở hít được linh khí ấy, ta mới hoà nhập thành một với Chúa Giêsu, trở thành chi thể sống động trong thân thể mầu nhiệm của Người. Thánh Phaolô đã nhắc nhở rằng: “Tất cả chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể, tất cả chúng ta được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (x. 2Cr 12,37.12.13)[291]. Có thở được Thần Khí ấy ta mới phát huy sự sống kỳ diệu, tràn đầy sự thật, niềm vui, bình an của Thiên Chúa để tiếp tục công trình cứu độ của Chúa Giêsu Kitô. Đó là “sứ vụ phối hợp của Chúa Con và Chúa Chúa Thánh Thần”[292], đồng thời cũng là sứ vụ của Hội Thánh “như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”[293].

Chúng ta phải thú nhận rằng: người tín hữu Công Giáo chưa ý thức tầm quan trọng của Chúa Thánh Thần và chưa thở được Thần Khí. Trong một vài thế kỷ đầu, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ và môn đệ khiến họ hăng say rao giảng Tin Mừng và phát huy các ân sủng kỳ diệu của Ngài. Nhưng sau đó, Giáo Hội Công Giáo rơi vào tình trạng quên lãng sự hiện diện sống động của Ngài và đánh mất bí quyết thở Thần Khí do các tông đồ truyền lại. Họ rất thụ động trong việc thở khí thiêng. Thần Khí mà họ nhận được khi chịu bí tích Rửa Tội hay Thêm Sức chỉ lưu lại rất ít giúp họ sống yếu ớt, thoi thóp chứ không phải dồi dào sung mãn với đủ loại ơn đoàn sủng, hiện sủng, đặc sủng của Thánh Thần như các ơn nói tiên tri, phục vụ, chữa bệnh, trừ tà, thông thạo các ngôn ngữ, khoa học… Chúng ta cần phải tập thở Thần Khí và làm sống lại sự hiện diện lạ lùng của Chúa Thánh Thần, thì mới giúp cho con người thời nay cảm nghiệm được ơn cứu độ của Chúa Giêsu và mới tin theo Người.

3. Bài học thở từ thực tế đời sống

Để phát triển con người toàn diện, chúng ta phải tập thở cả khí tự nhiên lẫn siêu nhiên cách dài, nhẹ, êm, sâu và tạo dựng một bầu khí trong sạch cho mọi người, mọi vật quanh ta.

3.1. Bầu khí trong lành

Bầu khí quyển hiện nay đang bị ô nhiễm và tàn phá nặng nề bởi sự vô tâm và lòng tham của con người. Cần phải trồng lại những đám rừng vì 1 mẫu cây xanh cung cấp cho ta thở 16 tấn oxy hằng năm. Cần phải bớt việc dùng hoá chất trên ruộng đồng; giảm bớt việc tiêu thụ dầu mỏ cho các xe chuyên chở, máy móc, nông cụ; bỏ hẳn việc hút thuốc lá để bảo vệ sức khoẻ cho buồng phổi con người. Giữ vệ sinh chung trong khu xóm với thùng rác đậy kín, giảm bớt các loại khí độc hại như CO2, NO2, chất CFC làm thủng tầng ozon.

Bầu khí quyển tinh thần còn bị ô nhiễm trầm trọng hơn vì các phương tiện truyền thông đại chúng như sách báo, phim ảnh, đài phát thanh, truyền hình, internet và các mạng xã hội đang tự do phổ biến đủ loại quan điểm sai lạc, hình ảnh đồi truỵ, ý thức hệ vô thần, bạo lực, gây chia rẽ, thù hận, nhân danh tự do tuyệt đối của con người. Vì thế, chúng ta phải bảo vệ bộ thần kinh trung ương không bị nhiễm độc vì những bản nhạc, tập truyện, cuốn phim, bài viết cổ vũ cho những điều sai lạc, ác đức, đồi truỵ để dành thời giờ cho những hành động tích cực, cổ vũ tình yêu thương liên đới, hiệp thông với người khác.

3.2. Tập thở tự nhiên

Với một hơi thở, không khí được kéo vào trong các phế nang của phổi qua đường hô hấp. Nó di chuyển từ mũi hoặc miệng, qua yết hầu, qua thanh quản và vào khí quản. Trong suốt hành trình dài này, không khí được làm ấm lên bằng thân nhiệt và lọc bỏ các vật thể nếu có. Không khí đã qua sử dụng sẽ đi trở ngược lại con đường đó. Vì nó đi qua thanh quản nên có thể được sử dụng để phát ra âm thanh. Dòng khí ta hít vào gồm oxy chiếm 20,9%, nitơ 78,6%, nước 0,4%, các khí khác 0,06% và carbonic 0,04%. Khối lượng khí carbonic thải ra cũng tương đương khí hít vào. Nitơ chiếm tỉ lệ lớn nhất, nhưng ở áp suất bình thường, nó rất ít hoà tan trong máu người, nên có thể đi vào và ra khỏi cơ thể ta cách vô hại[294].

Chúng ta nên hít khí bằng mũi và thở ra bằng miệng. Nhiều người tập Yoga được yêu cầu tập thở ra bằng mũi. Theo cấu trúc tự nhiên của cơ thể, khi hít vào bằng mũi, dòng khí được toả ra trong khoang mũi nhờ 3 chỗ lồi ra gọi là xoăn, sẽ được làm ấm và làm ẩm từ từ, các lông mũi cũng cản các hạt bụi bẩn. Các hạt bụi nhỏ hơn, như bụi than, sẽ nằm lại dọc theo khí quản. Chất nhầy và các sợi lông rung sẽ dần đẩy chúng ra ngoài. Các tiểu thử trong khói thuốc lá có thể đi sâu hơn, đến được các phế nang và làm tổn thương phế nang, giảm diện tích bề mặt trao đổi khí. Khi thở ra, khí carbonic đang ở nhiệt độ cơ thể, cũng không có hạt bụi, nên không cần qua khoang mũi. Thở ra bằng miệng sẽ nhanh hơn và dễ dàng hơn.

Nhiều người tập khí công được yêu cầu thở theo 4 thì: nạp khí (hít khí vào), vận khí (nín thở dẫn hơi vào đan điền), xả khí (thở ra hết và thót bụng lại), bế khí (ngưng thở khi bụng trống rỗng). Nhiều cách thở của các môn phái như Hartha Yoga, Thiền Tông, Zen, thở theo phương pháp Dưỡng sinh, hoặc các phái võ thuật như Aikido, Vovinam, Thiếu Lâm… cũng được tập luyện theo 3 thì hay 4 thì trên đây, kèm thêm cách ngồi, cách đứng khác nhau[295].

Thật ra, người tín hữu Kitô giáo có thể tự do tập luyện theo các phương pháp ấy, miễn là không bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết sai lạc của tôn giáo đi kèm theo cách thở. Chúng tôi cổ vũ một phương pháp thở 2 thì theo cấu trúc tự nhiên của cơ thể, vì nghĩ rằng càng tôn trọng cấu trúc tự nhiên, ta càng có sức khoẻ ổn định và an lành.

Một điểm cần lưu ý, là khi ngủ đêm chúng ta cần thở nhiều vì số lần thở ban đêm khi ngủ thường thấp hơn ban ngày khoảng ¼, nghĩa là thở khoảng 12 lần/ phút. Ta nên nằm thẳng, đừng ôm gối, hai tay xuôi theo thân người để thở khí dễ dàng, giấc ngủ sẽ sâu hơn và thần kinh thư giãn tốt hơn.

Chúng ta có thể tập những động tác thở để tăng khối lượng khí trong phổi bằng những bài tập thể dục vẫn thường tập trong các trường học trước đây.

Chúng ta có thể tập những động tác thở để tăng khối lượng khí trong phổi như sau:

– Giãn lồng ngực theo chiều ngang: người đứng thẳng, chân giang rộng khoảng 20cm

B1: vừa giang 2 tay rộng theo chiều ngang vừa hít mạnh vào.

B2: khép 2 tay vào giữa ngực và thở mạnh ra.

– Giãn lồng ngực theo chiều dọc: người đứng thẳng, giang chân rộng 20cm

B1: bước chân trái lên trước, hít vào, giơ 2 tay cao trên đầu, ngửa đầu ra sau.

B2: từ từ cúi người xuống, thở ra cho đến khi 2 bàn tay chạm vào đầu gối. Chân trái rút về ngang với chân phải.

B3: bước chân phải lên và làm các động tác giống B1 và B2.

Mỗi lần có thể tập khoảng 5 phút, ta sẽ thấy khối lượng khí tăng trong mỗi hơi thở hằng ngày.

3.3. Tập thở siêu nhiên

Từ nhiều ngàn năm qua, các triết gia Hy Lạp, Latinh đã biết đến khí như một thành phần cơ bản cấu tạo nên vũ trụ và muốn thở được linh khí của trời đất. Các nhà đạo học Đông Phương cũng mong ước được như vậy. Nhiều đạo sĩ, thiền sư ngồi thiền và vận khí để mong được giác ngộ như Đức Phật Thích Ca. Nhiều võ sĩ các môn phái tập khí công để mong đả thông kinh mạch, khai mở được “sinh tử huyền quan” và có sức mạnh vô biên. Tất cả đều là những mơ ước được thần hoá của con người.

Người Kitô hữu chúng ta được mời gọi gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu Kitô để biến đổi thành “con người mới” (Ep 2,5) “trong một Thần Khí duy nhất” (Ep 2,18) “với muôn vàn ơn phúc của Chúa Thánh Thần” (Ep 1,3). Khi thở được Thần Khí của Đức Giêsu, dòng máu đen tội lỗi của ta sẽ được biến đổi thành dòng máu đỏ tinh tuyền của Người. Lúc đó là ta được “thần hoá”, trở thành người con thật sự của Chúa Cha và có thể phát huy mọi ân sủng kỳ diệu của Chúa Thánh Thần để “hoàn thành kế hoạch yêu thương mà Chúa Cha đã định từ trước muôn đời trong Đức Kitô” (x. Ep 1,9).

Lịch sử cứu độ của Giáo Hội Công Giáo chứng thực giấc mơ thần hoá này đã thể hiện trong đời sống của nhiều thánh nhân và ngay trong đời thường của các tín hữu. Họ không cần phải đi tìm các bí quyết luyện khí của những vị cao tăng trong rặng núi Himalaya được kể trong những câu chuyện phóng tác như Hành trình về Phương Đông, Đường mây qua Xứ tuyết, hay trong tập Bàn tay Ánh sáng của Ts. Barbara Ann Bennan[296] mà những người học nhân điện say mê tập luyện.

Thánh Phaolô nói rất nhiều về Thần Khí trong các thư của ngài. Ngài mời gọi chúng ta “hãy sống theo Thần Khí” (Gl 5,16) “hãy để cho Thần Khí hướng dẫn” (Gl 5,18), “hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25) thì chúng ta sẽ hưởng được “hoa quả của Thần Khí là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22). Nhất là khi hiểu được Chúa Thánh Thần là tình yêu nối kết Chúa Cha, Chúa Con và chúng ta lại với nhau, chúng ta sẽ cố gắng thực hiện mọi việc vì tình yêu. Mỗi lần hành động như thế là một lần ta thở được Thần Khí, được linh khí của Trời.

Để cụ thể hơn, chúng tôi thử đề nghị với bạn một cách thở Thần Khí kết hợp với thở tự nhiên, nhất là dành cho những ai đang bị bệnh tật về thể lý cũng như về tinh thần. Nhiều bệnh nhân đã được chữa lành nhờ phép thở này:

Chúng ta dành chừng 5 phút, ngồi ở nơi làm việc hoặc nằm trên giường trước khi ngủ trưa hay ngủ đêm. Ta hít vào bằng mũi khí tự nhiên thì tinh thần ta cũng mở ra để hít khí siêu nhiên. Làn khí tình yêu, sức mạnh, bình an, ân sủng này tràn vào hồn ta, toả khắp người ta. Vừa hít vào từ từ bằng mũi, ta vừa nói thầm với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho con”. Khi thở ra, thể xác ta thải ra khí carbonic, tinh thần ta cũng đẩy những uế khí, tà khí ra khỏi tâm trí mình. Chúng là những tư tưởng tiêu cực, hình ảnh dâm ô, cảm xúc buồn phiền, thất vọng, ghen tương, sợ hãi… Tâm trí ta lúc đó hoàn toàn trống rỗng để chỉ còn Thần Khí hiện diện. Vừa thở ra từ từ bằng miệng, ta vừa nói thầm: “Lạy Chúa, xin đuổi tà khí ra khỏi con”[297].

Lời kết

Bài học “Thở được linh khí của Trời” này, đối với chúng ta, có thể là một trong những kinh nghiệm sống quan trọng nhất. Xin bạn thử tập và bạn sẽ thấy Chúa Thánh Thần kỳ diệu vô cùng.

Câu hỏi gợi ý:

1. Dung tích thở của bạn đo được bao nhiêu? Bạn tập thở như thế nào để tăng cường khí thở tự nhiên của bạn?[298]

2.Bạn thở Thần Khí theo phương pháp nào? Hiệu quả ra sao?

PHẦN III : NẾP SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

Bài 15: Ăn để hoà nhập vào sự sống và tình yêu

Lời mở

Ăn là hành động ta làm hằng ngày trong đời sống. Cha ông chúng ta thường dạy: “Ăn để sống” chứ không phải “sống để ăn”. Nhưng hầu như người ta ít khi tìm hiểu xem “sống là gì, sống như thế nào mới đáng ăn”, nên cũng không biết “ăn là gì” và “ăn như thế nào mới đáng sống”. Thật ra, khi suy tư đôi chút về cuộc sống, ta sẽ thấy mỗi lần ăn uống là ta kết nối với muôn loài trong trời đất và hiệp thông với nhau trong sự sống và tình yêu. Vì thế, để phát huy nét văn hoá ẩm thực của người Công Giáo Việt Nam, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu : ăn là gì, con người ăn như thế nào, người Việt ăn uống ra sao. Từ đó chúng ta sẽ thấy người Công Giáo nên ăn và tổ chức bữa ăn trong gia đình như thế nào cho tốt đẹp.

1. Ăn là gì?

Xét về khía cạnh sinh học, ăn là hành động đưa lương thực vào hệ tiêu hoá để thu nhận, biến đổi, phân giải các thức ăn về mặt vật lý, hoá học, chiết xuất các chất dinh dưỡng có ích từ đồ ăn và bài tiết ra ngoài những thứ không cần thiết cho cơ thể[299].

Đây là một tiến trình phức tạp với nhiều công đoạn, từ việc nhai đồ ăn trong miệng để nước bọt chuyển hoá tinh bột thành đường nhờ các men tiêu hoá (enzyme) gọi là Amylase và Lysozym để diệt vi khuẩn. Trong dạ dày, thức ăn được đảo trộn với dịch vị có chứa các men tiêu hoá protein. Ruột non là phần dài nhất và quan trọng nhất của hệ tiêu hoá, dài khoảng 7m với bề mặt 290m2. Nhờ các men tiêu hoá của tuyến tuỵ và túi mật hỗ trợ, thức ăn được phân giải thành các chất dinh dưỡng đơn và được hấp thu vào dòng máu nhờ các nhung mao ở ruột non. Cuối đường tiêu hoá là ruột già, có nhiệm vụ xử lý các chất thải không tiêu hoá được, tạo thành phân để tống ra ngoài, qua hậu môn[300].

Khi hiểu được tiến trình tiêu hoá, chúng ta sẽ thấy việc tiêu tốn nhiều thời giờ, tiền bạc để tìm ăn những món ngon, vật lạ, những đặc sản trong nước hay ngoài nước nhằm thoả mãn cơn đói khát theo bản năng đều không xứng hợp với nền văn hoá sự sống. Dù có ăn nem công chả phượng, lưỡi chim sẻ, tay gấu hay cả thai nhi như ở Trung Quốc thì các loại đặc sản đó chỉ đánh lừa các giác quan mà thôi. Nuốt vào dạ dày rồi, chúng sẽ được tự động phân giải thành những chất đơn như Carbon, Hydro, Oxy, Nitơ, Calci, Kali, Sắt, Đồng, Chì, Kẽm… mà 4 chất đầu đã chiếm tới 96% trọng lượng cơ thể. Dù ăn thật nhiều chất dinh dưỡng nhưng cơ thể chỉ thu nhận và dự trữ những chất cần thiết cho sự sống và loại bỏ những chất dư thừa. Nếu cơ thể không thải được các chất thừa đó ra ngoài, sự sống sẽ bị tổn thương.

Điều hiểu biết này cũng nhắc nhở chúng ta phải ăn uống theo khoa học và đừng vội tin những lời đồn thổi, những “kinh nghiệm dân gian”: ăn con này, cây nọ để chữa một số bệnh tật nan y hiện đăng tải đầy trên mạng internet. Nhiều người đã chết hay bệnh trở nên nặng hơn vì những kiểu ăn uống liều lĩnh này.

2. Con người ăn gì và ăn như thế nào?

Những con người thời sơ khai (homo habilis) cách đây 2,4 triệu năm[301] chỉ biết ăn tươi nuốt sống những thú vật mình bắt được. Khi con người đứng thẳng (homo erectus) khám phá ra lửa cách đây khoảng 800.000 năm, do hoả hoạn tạo ra như cháy rừng, núi lửa, họ thấy thịt nướng ăn ngon hơn, lành hơn và giữ được lâu hơn. Họ biết dùng lửa để nướng thịt, sưởi ấm, thắp sáng và xua đuổi thú dữ. Thức ăn loài người lúc đó là những lá cây, quả rừng và thịt thú vật. Con người sống theo bản năng nên chỉ ăn để sống và dành hầu hết thời gian sống để tìm thức ăn. Cộng đồng xã hội khi đó là bộ lạc do một tù trưởng đứng đầu, tất cả bộ tộc cùng chia sẻ thức ăn và bữa ăn là dịp họp mặt chung của cộng đồng.

Con người hiện đại biết suy tư (homo sapiens), xuất hiện cách nay 195.000 năm, đã tự tạo ra lửa để chế biến đồ ăn và tìm ra ý nghĩa của việc ăn uống. Đời sống an lành và nhàn rỗi hơn khi con người thuần hoá được các thú vật thành gia súc (như heo, bò, trâu, gà…) để ổn định nguồn thịt và thuần dưỡng được các loại lúa gạo vào khoảng 3500 năm TCN, lúa mì hoang dại khoảng 3000 năm TCN, để ổn định nguồn tinh bột cho cơ thể. Con người có thêm thời gian để học hành, nghỉ ngơi, phát triển nghệ thuật và suy tư về những giá trị của tinh thần thay vì dành hết thời giờ làm việc kiếm ăn.

Nền văn minh Hy Lạp và La Mã ở Tây Phương và Trung Hoa ở Đông Phương đã đưa việc ăn tiến một bước dài. Xã hội lúc này đã phân hoá thành các dân tộc với nhiều giai cấp như vua chúa, quan quyền, tăng lữ, nhà buôn và dân chúng, nên đồ ăn cũng được phân loại cao thấp và ý nghĩa bữa ăn cũng khác nhau. Chỉ người dân đen là phải nai lưng làm việc để có của ăn nuôi sống thân mình và gia đình mình. Từ tình trạng bị bóc lột bởi các nước giàu mạnh và sống như những nô lệ luôn “ăn đói, mặc rách”, họ chỉ mơ ước được “ăn no, mặc ấm”. Chỉ giai cấp thượng lưu mới có quyền “ăn ngon, mặc đẹp”. Một ít người như Tần Thuỷ Hoàng (259 TCN – 210 TCN), người đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành, thống nhất Trung Quốc (221 TCN) sau khi tiêu diệt 6 nước chư hầu, còn mơ ước tìm được “của ăn trường sinh bất tử” chứ không phải chỉ ăn được những củ nhân sâm hay hà thủ ô ngàn năm[302].

Các tôn giáo đã đem lại ý nghĩa cho việc ăn uống và thể hiện niềm mơ ước của con người: ăn để sống mãi mãi. Trong cuốn truyện Tây Du Ký, xuất bản vào những năm 1590 và được cho là của học giả Ngô Thừa Ân, nhiều loài yêu quái muốn ăn thịt nhà sư Huyền Trang (Đường Tam Tạng) vì chúng cho rằng thịt này mang lại cho mình sự trường sinh bất lão.

Con người không còn chỉ ăn uống cho mình, nhưng qua các tôn giáo thờ kính tổ tiên, họ còn làm các bữa cúng giỗ để tưởng nhớ người đã khuất. Con người cũng dành những lễ vật cao quý cho thần linh để cầu xin ơn thoát khỏi những tai hoạ thiên nhiên, đền bù tội lỗi và các ân huệ khác. Việc ăn uống từ đó mang lại sự nối kết giữa những con người sống với nhau và với thế giới của tinh thần để dẫn con người đến sự sống kỳ diệu, phi thường của thần linh.

Mỗi tôn giáo dạy cho tín hữu của mình nên ăn gì, kiêng gì và tại sao phải làm như vậy. Các triết gia cũng bắt đầu suy tư về đồ ăn cho thể xác và thức ăn cho tinh thần. Họ cho thể xác đối nghịch với tinh thần, nên chủ trương sống nghiêm khắc với chính bản thân (phái Khắc Kỷ), ăn uống đạm bạc, không chiều theo thú vui và dục vọng để thể xác càng nhẹ nhàng thì tinh thần càng thanh thoát. Người theo đạo Phật “cấm sát sinh” vì tin rằng mỗi sinh vật có thể là ông bà, cha mẹ, bạn hữu của mình đầu thai ở kiếp này nên chỉ ăn thực vật. Người theo đạo Công Giáo lại được quyền ăn mọi thứ sinh vật và thực vật trên trái đất theo lời Chúa dạy (x. St 1,28-29). Trong khi các tôn giáo đa thần hay người vô thần không cảm tạ Chúa Trời Đất trước mỗi bữa ăn, thì các tín hữu thuộc tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo lại cảm tạ vì Ngài ban cho họ “lương thực hằng ngày” cũng như kêu gọi họ chia sẻ đồ ăn cho muôn loài như anh chị em trong cùng một gia đình, nhất là cho những người đói khổ.

Người Công Giáo trong nhiều thế kỷ bị ảnh hưởng bởi triết thuyết Khắc Kỷ sai lạc nên đã cho thân xác là một trong ba kẻ thù (ma quỷ, thế gian, xác thịt), đã coi thường những hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí, thể dục, thể thao, trang điểm, thời trang, làm việc chân tay và nhiều tu sĩ dùng roi đánh tội hằng đêm. Công đồng Vaticanô II đã trả lại giá trị cho thân xác khi xác định: “Con người là một với thân xác và tinh thần” và “Phải coi thân xác tốt lành và đáng trân trọng vì được Thiên Chúa tạo thành và được sống lại trong ngày sau hết”[303].

3. Văn hoá ẩm thực của người Việt

Cái nôi văn hoá của người Việt là đồng bằng sông Hồng với những trống đồng Đông Sơn có trang trí hoa văn xuất hiện khoảng 2700 năm TCN[304]. Dù sống dưới ách nô lệ của người Trung Hoa, từ năm 110 TCN đến 938, người Việt vẫn tồn tại và giữ được bản sắc văn hoá của mình, đặc biệt là về ăn uống.

Người Việt ăn uống thanh đạm một phần vì nghèo khổ do bị chính quyền vua quan, cường hào ác bá bóc lột, một phần vì bản sắc người Việt không coi trọng miếng ăn, thậm chí còn cho “miếng ăn là miếng nhục”, nên luôn giữ khí tiết trong sáng: “đói cho sạch, rách cho thơm” của mình. Người Việt ít ăn thịt, chỉ ngày lễ tết, lễ hội ăn chung ở đình làng người ta mới dám giết trâu, mổ heo để chia phần cho mọi người. Con gà nuôi cũng chỉ để đãi khách quý hay làm bữa cúng giỗ tổ tiên, ông bà. Con trâu, con bò chỉ để cày ruộng, làm việc đồng áng.

Ngoài cơm bánh cung cấp tinh bột, người Việt ăn nhiều tôm cua cá ốc bắt được ở ruộng đồng, sông biển bù lại cho lượng thịt còn thiếu. Đặc biệt người Việt phát triển nền văn hoá thực vật với những cây cỏ trồng đầy quanh nhà hay mọc đầy quanh làng. Hầu như cây nào cũng có thể ăn và làm thuốc chữa bệnh. Nguồn thực phẩm này cung cấp dồi dào vitamin và chất khoáng thay cho đồ ăn cao cấp mới được chế biến sau này như thịt, trứng, sữa, nấm và các loại rau. Vì thế, món ăn nào của người Việt cũng có thể ăn kèm thêm nhiều rau sống hay luộc chín.

Món phở của người Việt chẳng hạn, không nhiều mỡ nhiều thịt như món hủ tiếu mì của người Trung Hoa, cũng không nhiều tinh bột như của người Nhật, người Hàn, nhưng lại rất nhiều rau. Có khoảng 15-20 loại rau trong một bát phở Việt: hành lá, hành tây, giá, húng quế (rau mùi), húng cay, ngò gai, rau om, chanh, ớt, tiêu,… nước dùng ninh từ xương bò có nhiều gia vị như quế, hồi, gừng nướng, thảo quả, đinh hương, hạt ngò, hành khô nướng.

Nét văn hoá ẩm thực Việt Nam được diễn tả qua lời mời trước bữa ăn đối với mọi thành phần tham dự mâm cơm hay mâm cỗ. Người ít tuổi hay người có địa vị thấp nhất phải mời lần lượt từ người cao tuổi hay người có địa vị cao nhất xuống đến người áp sát tuổi mình. Đứa con hay đứa cháu nhỏ nhất khi được ngồi ăn chung với ông bà, cha mẹ, anh chị đều phải mời như thế. “Lời mời giúp ta ý thức bổn phận đối với gia đình, dân tộc để sẵn sàng xới cơm và nhường cho nhau những miếng ăn ngon. Nếu chưa biết nhường nhau con tôm, miếng thịt, chắc sau này ta sẽ giận hờn, đâm chém nhau vì một chút lợi, chút danh”[305]. Ngày nay nhiều gia đình dường như quên dạy cho con cái lời mời này nên nhiều xung đột cũng bắt nguồn từ đấy!

Người Việt thường bắt đầu bữa ăn bằng việc nhớ đến ông bà tổ tiên, không phải chỉ trong ngày giỗ tết. Nấu món gì ngon hay món “khoái khẩu” của người đã khuất, người ta thường múc ra bát hay đĩa rồi đặt lên bàn thờ. Bữa ăn vì thế mang tính cách hiệp thông, đồng cảm với người sống cũng như với người chết, vừa để cảm ơn người (ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn gạo nhớ kẻ đâm xay dần sàng), cảm ơn vật (giả ơn cái cối cái chày, đêm khuya giã gạo có mày có tao – giả ơn cái cọc cầu ao, đêm khuya giã gạo có tao có mày!), vừa để mở ra với chân trời vô biên của trời đất, vạn vật:

Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

Trông trời, trông đất, trông mây

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.

4. Ăn là hiệp thông với muôn loài

Với tinh thần hội nhập văn hoá được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đề ra trong Tông huấn Giáo Hội tại châu Á (năm 1999), người Công Giáo Việt Nam hiểu rằng ăn là hiệp thông vào sự sống và tình yêu của Thiên Chúa với muôn loài.

Ăn là hiệp thông, là hoà nhập vào một cộng đồng hay một gia đình: từ gia đình riêng tư có cha mẹ, ông bà, con cháu, đến gia đình rộng lớn hơn là dân tộc, nhân loại, vũ trụ và lớn hơn cả là gia đình Thiên Chúa. Mỗi thành phần trong cộng đồng đều có trách nhiệm xây dựng và hy sinh cho nhau như những tế bào sống trong cùng một thân thể vĩ đại, nhiệm mầu.

Khi đưa lương thực vào hệ tiêu hoá để chuyển đổi chúng thành dòng máu đỏ nuôi sống mình, là con người liên kết với vạn vật trong vũ trụ và mọi người trên trái đất. Cơm bánh, rau củ, hoa trái, thịt cá… được hoà trộn thành một chất liệu chung tạo nên sự sống, giống như muôn trái nho ép thành chén rượu và muôn hạt lúa nấu thành nồi cơm. Sự hiệp thông này mời gọi mỗi cá nhân, mỗi thành phần bỏ đi những cái riêng tư ích kỷ để hoà nhập vào cuộc sống chung và đón nhận trách nhiệm đối với muôn loài.

Việc hiệp thông vào sự sống phải dẫn người Công Giáo chúng ta tôn trọng tuyệt đối sự sống của tha nhân. Vì thế, người ta không thể trở thành những kẻ “giết người” khi bán những thứ hàng độc hại, khi sản xuất những nông sản còn tồn đọng chất độc, khi ướp cá tôm, hoa trái bằng hoá chất nguy hiểm. Thiên Chúa hằng sống nhìn thấy hết mọi việc ta làm và Chúa Giêsu Thánh Thể yêu cầu ta đừng lên “ăn Người” với lương tâm ác đức. Ước mong chúng ta noi gương tín hữu Hàn Quốc chỉ bán hàng tốt, hàng sạch, hàng bổ dưỡng để tạ ơn Trời, biết ơn con người và vạn vật hy sinh sự sống cho ta, cũng như để làm chứng cho Chúa là Đấng hằng sống và luôn yêu thương ta.

Thánh Phaolô đã diễn tả sự hiệp thông đó bằng những lời tha thiết: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là chúng ta dự phần vào máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,16-17).

Sự hiệp thông này sẽ dẫn mỗi “thực khách” đến một “giao ước thiêng liêng”, đến sự hiệp thông với “giao ước mới mẻ và vĩnh cửu” (x. Mt 26,26-28; Mc 14,22-24; Lc 22,19-20; 1Cr 11,23-25), mà Đức Giêsu đã thực hiện cho muôn loài trong vũ trụ khi Người lập Bí tích Thánh Thể và tế lễ mình trên bàn thờ thập giá để trở thành Máu Thịt nuôi sống chúng ta. Thật vậy, mỗi khi ăn là ta ký kết một hợp đồng tinh thần và cam kết sẽ thực hiện vì mắc nợ lẫn nhau. Trong đời sống, ta mắc nợ với cha mẹ, ông bà, tổ tiên và cả nhân loại: nợ mồ hôi, nước mắt, sức lực, máu xương, trí tuệ và cả sự sống của nhiều người, nên ta phải trả nợ cho con người, cho tổ tiên và nhân loại bằng đời sống tích cực học hành, làm việc thay vì chỉ ăn để sống cho riêng mình.

Ta mắc nợ với muôn loài về sự sống, tình yêu chúng dành cho ta: bao nhiêu ngọn rau, tôm cá chết đi để ta được sống, trong khi chúng cũng yêu quý sự sống chẳng thua kém con người. Một cây xanh, dù bị chặt ngang thân, vẫn cố đâm ra những chồi non để sống. Một con giun, dù bị dẫm nát thân mình, vẫn cố lê thân về miền đất ẩm để sống. Như thế, mỗi giây phút sống của ta đều quý giá, linh thiêng, nên ta phải trân trọng, bảo vệ và phát huy để biểu lộ lòng biết ơn đối với muôn loài.

Người Công Giáo không tin rằng những sinh vật là tiền kiếp của con người và phải chịu trách nhiệm theo luật nhân quả. Một con kiến đốt ta, một con chó cắn ta chỉ hành động theo bản năng và chúng không có ý thức và ý chí khi thực hiện hành động ấy, nên không thể chịu trách nhiệm về việc làm của mình để đầu thai vào một kiếp tốt hơn hay xấu hơn so với kiếp này. Hơn nữa, người Công Giáo khi ăn chúng để tạo nên sự sống cho mình thì cũng là giúp chúng được chia sẻ sự sống vĩnh hằng và phi thường với con người vì chỉ con người mới có thể sống mãi mãi. Như thế, ăn là cứu độ muôn loài!

Ăn còn là hiệp thông trong tình yêu. Để tạo nên sự sống cho ta, bao con người phải vất vả làm việc, thậm chí đón nhận cả cái chết. Họ đổ biết bao giọt mồ hôi, nước mắt, sức lực ở chợ đời để đem về cho ta bát cơm, con cá. Mồ hôi đổ ra có khi còn nhiều hơn bát canh trước mặt. Có người phải vùi thân trên biển vì cơn bão bất ngờ. Có người phải cụt chân, cụt tay vì quả mìn còn sót lại trên đồng ruộng. Bao chiến sĩ đã hy sinh thân mình để bảo vệ từng tấc đất quê hương để dân tộc ta mới có được vườn rau, ruộng lúa.

Động lực khiến tất cả hy sinh cho ta ăn để sống chính là tình yêu. Muôn loài, muôn vật, muôn người đều yêu ta. Đó chẳng phải là thứ tình cảm yêu đương giữa nam nữ như người ta thường hiểu, nhưng là tình yêu trong sáng, quảng đại tạo nên bản chất thiêng liêng của muôn loài khi Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ vạn vật. Những bông hoa khoe sắc, toả hương cho con người mà chẳng đòi một đồng xu nhỏ, cũng chẳng cần biết họ là người tốt hay kẻ xấu. Những ngọn rau, con cá hy sinh sự sống cho con người mà chẳng cần biết họ là người công chính hay kẻ gian tà. Chúng bắt chước “Cha Trên Trời cho mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương” (Mt 5,45).

Hiểu được và cảm nhận được tình yêu đó, chúng ta mới sẵn sàng chia sẻ những gì ta đang “quản lý” như tiền bạc, tài năng, tình yêu, sự sống cách quảng đại và vô vị lợi để đáp lại tình yêu của Chúa Trời và của muôn loài. Sống như thế ta mới đáng ăn như những người con của Trời và anh em ruột thịt của muôn loài, mới hoàn thành giao ước tình yêu.

Trong lịch sử nhân loại, dân tộc Do Thái đã nhận được lương thực từ trời mà họ gọi là “manna” trong suốt 40 năm khi họ đi trong sa mạc Sinai để tìm về Đất Hứa. Đây là thứ bột rơi trên mặt đất mỗi sáng để họ lấy về làm bánh (x. Xh 16,2-15). Bánh từ trời này sẽ giúp họ đón nhận sự sống tinh thần kỳ diệu nếu họ tin vào Đấng ban cho họ bánh ấy. Nhưng họ đã không tin và tất cả đều chết trên sa mạc (x. Ga 6, 32.49). Thiên Chúa cũng đã gửi tấm bánh lạ lùng để tiên tri Êlia ăn và nhờ lương thực này, ông đã đi suốt 40 đêm ngày để đến núi Khoreb và gặp được Ngài (x. 1V 19,4-8).

Đó chỉ là những hình ảnh báo trước về “tấm bánh trường sinh từ trời xuống” (Ga 6,51) là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, để muôn loài có thể đón nhận Người và đạt được sự sống vĩnh hằng, kỳ diệu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã nhiều lần làm các phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều, chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại và chia sẻ cho tất cả các tông đồ và môn đệ quyền năng ấy nếu họ tin tưởng, đón nhận, kết hợp và “ăn” Người để làm nên một thân thể nhiệm mầu, có chung một sự sống phi thường của Thiên Chúa.

Những tín hữu Công Giáo cũng đã ăn theo “giao ước mới” được Đức Giêsu thiết lập (x. Mc 14,22-24; Dt 9,11-15) để thực hiện bữa ăn “agape” (bác ái) khi cùng bẻ bánh ăn chung với nhau (x. Cv 2,42.46; 20,7). Tuy nhiên, hầu như họ vẫn chỉ đón nhận tấm bánh theo kiểu hình thức bên ngoài của bí tích Thánh Thể, vì họ chưa thật sự phát huy hiệu quả phi thường của bánh Giêsu này trong đời sống.

5. Chúng ta nên ăn như thế nào?

Ngoài ý nghĩa của đồ ăn và việc ăn về mặt tinh thần, chúng ta cũng cần lưu ý xem mình nên ăn những thức ăn nào, và tổ chức bữa ăn như thế nào cho hợp với ý nghĩa cao cả đó.

Trước hết, ta cần ăn đủ 4 chất dinh dưỡng chính của cơ thể: đường (glucid), mỡ (lipid), đạm (protid- protide), và vitamin với các muối khoáng. Nhiều người sợ béo phì, mất đi hình dáng thon thả nên ăn rất ít tinh bột, chất béo, chỉ ăn nhiều rau. Có người lại không ăn rau vì có lần thấy con sâu lẫn trong rau, hoặc không ăn cá biển vì ngửi thấy tanh. Có người bị rối loạn tâm lý về ăn uống khiến họ tránh thức ăn, nôn mửa khi ăn hoặc làm cho họ ăn uống quá mức (chứng cuồng ăn)[306]. Họ cần được điều trị về tâm lý và hỗ trợ về dinh dưỡng.

Do cơ thể của mỗi người cao thấp, gầy béo, già trẻ, giới tính, hoàn cảnh xã hội, môi trường sống khác nhau nên lượng đồ ăn đưa vào cũng khác nhau. Hiện nay người ta tính lượng đồ ăn này theo số calo, nhưng các quốc gia lại đề nghị số calo khác nhau. Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) cho rằng nhu cầu tối thiểu của một người trung bình là 1.800 calo/ngày. Cơ quan Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh lại ấn định nam giới trưởng thành trung bình cần 2.500 calo/ngày và nữ giới là 2.000 calo/ngày. Cơ quan Y tế Hoa Kỳ lại quy định con số cao hơn: 2.700 calo/ngày của nam giới và 2.200 calo/ngày cho nữ giới[307].

Đúng ra, chúng ta không cần đếm chính xác số calo, nhưng cần quan tâm đến chế độ ăn uống lành mạnh và cân đối giữa 4 chất chính, vận động thể chất, cân đối giữa lượng calo nạp vào và lượng calo đốt cháy mỗi ngày. Nếu là người làm việc chân tay, ta cần ăn nhiều chất đường để vận động các cơ bắp. Nếu là người làm việc nghiên cứu, lao động trí óc, ta cần ăn thêm chất đạm và bớt ăn các tinh bột tạo ra đường.

Hiện nay nhiều cơ quan đã trình bày “tháp dinh dưỡng hợp lý” [308] để ăn trong một ngày, một tuần, một tháng. Nói chung, ta nên ăn đủ các loại bánh mì, cơm, ngũ cốc; tiếp đến là các loại rau củ quả. Ta ăn vừa phải các loại phô mát, sữa chua, trứng, thịt cá. Ăn ít các loại dầu mỡ, đường và hạn chế tối đa muối, các đồ ăn có chất cồn, các đồ ăn chế biến sẵn, nước uống có gas, đường. Người Việt chúng ta vì ăn quá nhiều muối nên có nhiều người bị các bệnh tim mạch, gan thận. Không nên ăn quá 6g muối một ngày. Nhiều trẻ em bị bệnh béo phì, chậm phát triển trí não vì cha mẹ chiều con nên cho ăn quá nhiều chất béo, chất đường qua đủ loại đồ uống, bánh kẹo.

Thái độ ăn uống của người Việt cũng cần thay đổi cho hợp với nền văn hoá mới. Sau nhiều thế kỷ bị nô lệ cho ngoại bang, bị áp bức bóc lột bởi chế độ quân chủ độc tài, mang tâm trạng sợ phải ăn đói, mặc rách nên người ta thường tham ăn và tích trữ đồ ăn. Có dịp ăn ngon, ăn không phải trả tiền trong các lễ hội là họ ăn xả láng, lấy cho mình thật nhiều đồ ăn dù ăn không hết và bỏ mặc người khác phải đói. Ta thấy điều này thường xảy ra trong các bữa tiệc, bữa ăn buffet. Họ ăn vội vã, cười nói to tiếng, vứt các đồ ăn thừa và giấy lau đầy dưới chân bàn như một bãi rác. Họ không nhận ra giá trị của vật chất hy sinh cho họ, nên bỏ thừa mứa các đồ ăn, không hiểu ý nghĩa cao quý của các mối tương quan xã hội trong bữa ăn qua sự đồng cảm và tạ ơn Trời đất như tổ tiên họ đã làm.

Chúng ta cần phải học lại bài học lịch sự, ăn mặc gọn gàng sạch sẽ, nói năng nhỏ nhẹ trong bữa ăn. Dù ở trong gia đình, chúng ta cũng nên ăn mặc gọn gàng, đứng đắn vì bữa ăn còn là một dịp để ta thể hiện sự hiệp thông vào sự sống và tình yêu với muôn loài cũng như với thế giới tâm linh.

Hiểu được ý nghĩa cao cả của việc ăn uống, từ nay chúng ta sẽ tổ chức bữa ăn gia đình hằng ngày thành một cơ hội quý báu để diễn tả mối hiệp thông, tình liên đới trong tình yêu và sự sống của mọi thành viên: dù hoàn cảnh xã hội đô thị hoá hiện nay khiến vợ chồng, cha mẹ, con cái có thể đi học, đi làm trái giờ nhau, nhưng chúng ta cần tổ chức bữa ăn gia đình cho tươm tất mỗi tuần một vài lần, có đủ mặt mọi thành viên. Chúng ta có thể phân công cho mọi thành viên trong gia đình những công việc như sắp chén bát, nấu ăn, sắp bàn ăn, rửa chén bát.

Trừ trường hợp cả nhà muốn xem một chương trình trên tivi, giờ ăn nên tắt tivi để cùng nói chuyện, chia sẻ cho nhau những buồn vui trong đời sống. Tuy nhiên, đừng biến giờ ăn thành giờ luân lý, dạy dỗ con cái, phê bình, nói xấu người khác hay thành cuộc tranh luận căng thẳng về một vấn đề nào đó. Chúng ta chỉ nên nói chuyện vui, theo hướng tích cực để khích lệ mọi người.

Những ai đảm nhận việc nấu ăn nên biết tính toán số calo trong các thức ăn, nấu những món đơn giản nhưng ngon và đủ chất bổ dưỡng, để đừng tốn quá nhiều thời giờ cho việc ăn uống. Chỉ nên nấu lượng món ăn vừa đủ, ăn trong ngày thay vì nấu quá nhiều rồi đổ đi hay cất giữ trong tủ lạnh nhiều ngày. Nhiều gia đình thành thị đang lạm dụng việc trữ lạnh các đồ ăn để ăn cả tuần, cả tháng. Các đồ ăn khi rã đông đều mất đi nhiều chất dinh dưỡng, không ngon và có thể gây độc vì một số vi khuẩn, vi trùng có thể vẫn còn sống. Ta cũng cần biết một số những thực phẩm kỵ nhau gây chết người theo kinh nghiệm của dân gian và cũng đã được khoa học xác nhận để tránh bị ngộ độc.

Chúng ta cũng chỉ nên ăn vừa phải, không nên ăn quá no hay ăn nhiều một loại đồ ăn nào theo ý thích của mình vì việc tiết ra thật nhiều các men tiêu hoá để phân giải đồ ăn sẽ làm cho các bộ phận trong hệ tiêu hoá phải làm việc quá mức. Tốt hơn nên ngừng ăn lúc còn đang thèm ăn thêm để tạo cảm xúc thích thú thay vì nhàm chán, ghê sợ đồ ăn. Cần nhai kỹ để dễ tiêu hoá đồ ăn. Không nên ăn trên giường ở tư thế nằm, trừ khi bị bệnh nặng. Không nên ngồi vào bàn làm việc, đọc sách, xem phim, … ngay sau khi ăn no vì các cơ quan trong hệ tiêu hoá cần tập trung máu để tiêu hoá đồ ăn. Nếu vận hành bộ não nhiều lúc đó, sẽ tạo ra sự căng thẳng, xáo trộn trong hệ tiêu hoá, dẫn đến bệnh tật.

Lời kết

Trong nền văn minh tình yêu và văn hoá sự sống, ta không còn chỉ đạt tới điểm “ăn ngon, mặc đẹp”, nhưng “ăn thần, mặc thánh” nghĩa là ăn để phát huy đời sống tinh thần, để trở nên thần thánh, vượt ra khỏi vật chất, không gian, thời gian và sống cho những giá trị siêu việt của tinh thần. Như thế, niềm mơ ước của Tần Thuỷ Hoàng tìm được của ăn trường sinh bất lão đã được chúng ta biến thành hiện thực nhờ Đức Giêsu Kitô, vì Người thật sự là “bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga 6,51). Lịch sử của Giáo Hội Công Giáo đã và đang làm chứng về điều đó. Bạn có bao giờ mơ ước ăn được tấm bánh đó không?

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn suy nghĩ gì về việc ăn uống hằng ngày của mình?

2. Bạn dự tính thay đổi bữa ăn của gia đình mình như thế nào để thể hiện mối hiệp thông trong tình yêu và sự sống?

Bài 16: Uống nước nhớ nguồn

Lời mở

Tháng 7 năm 2010, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu công nhận việc tiếp cận nước sạch và điều kiện sống hợp vệ sinh là một trong những quyền căn bản của con người. Người ta có thể nhịn ăn 1,2 tháng trời mà không chết, nhưng nếu không uống nước trong vòng 3-4 ngày, không ai có thể sống. Nước không phải chỉ hết sức cần thiết và quan trọng đối với con người, nước còn là cội nguồn của tất cả các dạng sống, từ những đơn bào, cho đến thực vật, động vật. Vì thế, chúng ta muốn tìm hiểu vai trò của nước trong đời sống tự nhiên của con người và trong đời sống siêu nhiên của người tín hữu để có thái độ sống đúng đắn.

1. Nước trong đời sống tự nhiên

Theo nghiên cứu của Viện Nước Quốc tế Stockhohn (SIWI), nước bẩn giết chết nhiều người hơn so với động đất và chiến tranh. Ước tính mỗi ngày trên thế giới có tới 5.000 trẻ em bị chết do các bệnh liên quan đến nước bẩn. Theo bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 2006, có tới 1,1 tỉ người không tiếp cận được nước sạch và hơn 2,6 tỉ người không có điều kiện vệ sinh cơ bản. 1,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi và 4,43 triệu trẻ em ở độ tuổi đến trường bị chết mỗi năm do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường[309].

Ở Việt Nam, có tới 80-90% phụ nữ ở Đồng bằng sông Cửu Long mắc bệnh phụ khoa vì không có nước sạch, phải dùng trực tiếp nước sông, nước kênh. Hầu hết các học sinh Việt Nam không uống đủ nước vì sợ không dám dùng nhà vệ sinh ở trường do quá dơ bẩn.

1.1. Vai trò của nước trong cơ thể con người

Khoảng 70% cơ thể chúng ta là nước. Nước xuất hiện ở tất cả các cơ quan, bộ phận trên cơ thể. Hàm lượng nước trong gan là 86%, não 85%, phổi 83%, máu 83%, thận 83%, cơ bắp 75%, da 64%, thấp nhất là xương: 31%.

Nước có vai trò điều hoà nhiệt độ cơ thể. Khi nhiệt độ môi trường biến đổi, nước sẽ điều hoà thân nhiệt bằng cách toát ra mồ hôi.

Nước cũng vận chuyển oxy, chất dinh dưỡng đến mỗi tế bào qua hoạt động của dạ dày, ruột non. Nước thực hiện chức năng giải độc, lấy đi các chất thải độc hại ở tế bào. Nhờ nước, các thức ăn đưa vào cơ thể được chuyển hoá và được phân giải về mặt vật lý và hoá học, hệ tiêu hoá chiết xuất các chất dinh dưỡng có ích và bài tiết những thứ không cần thiết ra ngoài. Nước đóng vai trò làm dung môi trong suốt quá trình này.

Nước còn làm trơn các khớp xương để xương vận hành nhịp nhàng trơn tru, không bị tổn thương. Nước còn giúp làm sạch phổi bằng cách gột rửa những bụi bẩn, virus, vi khuẩn, khói thuốc. Não cần nước nhiều hơn các cơ quan khác, nên não sẽ báo hiệu để rút nước từ các cơ quan ấy. Vì thế chúng ta cần uống nhiều nước để não làm việc ổn định, đầu óc minh mẫn. Các cơ bắp cần nước để hoạt động. Nếu thiếu nước người ta sẽ bị mỏi cơ, cảm thấy rã rời, không muốn vận động.

Người trưởng thành có khoảng 5 lít máu. Tim bơm tất cả 5 lít máu này đi khắp cơ thể trong mỗi phút. Các thành phần của máu gồm: huyết tương (chiếm 54%), hồng cầu (45%), bạch cầu và tiểu cầu (1%); máu sẽ thu nhận các chất dinh dưỡng được hấp thu từ ruột cũng như oxy từ phổi để chuyển chúng đến các tế bào. Máu cũng lấy đi các hoá chất do tế bào thải ra như urê và acid lactic đến gan và thận để thải ra ngoài. Nước là thành phần chính của máu, nhất là trong huyết tương, chiếm tới 92%.

Hiểu được vai trò quan trọng của nước trong cơ thể, chúng ta phải tập thói quen uống đủ nước hằng ngày: như uống một ly nước ngay khi thức dậy, luôn mang theo nước bên mình, đặt lịch uống nước cách nhau khoảng 2 giờ trong thời gian làm việc ban ngày, uống nước trước khi ngủ để cơ thể ở trong trạng thái thư giãn, góp phần tái tạo tế bào và hỗ trợ các cơ quan hoạt động trong đêm. Nên uống nước từ từ và uống từng ngụm nhỏ.

1.2. Chiến tranh nước

Do tình trạng ô nhiễm trên thế giới mỗi ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước sạch sẽ là một tài nguyên quý giá hơn cả dầu mỏ trong thế kỷ 21. Dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên liệu khác như điện, nhiên liệu sinh học, gió, khí đốt… còn nước lại không thể thay thế, nên nhiều dân tộc đang muốn chiếm hữu nước thật nhiều để bảo đảm cuộc sống cho mình. Vì vậy có thể tạo nên một cuộc chiến tranh nước trong tương lai gần.

Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động này cần nước ngọt. Tuy nhiên, 97% nước trên trái đất là nước muối, chỉ có 3% còn lại là nước ngọt. 2/3 lượng nước ngọt này tồn tại nơi các sông băng và khối băng ở các cực Nam-Bắc[310]. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, chỉ một tỉ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất ở các sông hồ và trong không khí[311]. Nước mặt ở các sông hồ được bổ sung bởi lượng mưa, mưa tuyết, mưa đá và nó sẽ mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi hoặc ngấm xuống đất[312]. Việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi, trong khi nhu cầu tăng do dân số thế giới tăng cũng như do các vùng đất ngập nước trên thế giới giảm đi một nửa trong suốt thế kỷ 20.

Dù nhiều nơi hầu như không mất tiền mua nước, nhưng đó là thứ giá trị nhất hành tinh. Nhiều nước hiện nay phát động chiến tranh giành giật tài nguyên dầu mỏ: nhưng tất cả những hàng hoá giá trị nhất thế giới sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nếu thiếu nước.

Chính vì thiếu ý thức về giá trị của nước nên hiện nay người ta đang khai thác cạn kiệt và làm bẩn nước do ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu. Cách đây 2000 năm, chỉ có khoảng 250 triệu người trên trái đất, vào năm 2019 này, có hơn 7,7 tỉ người. Các vùng sa mạc trên thế giới ngày càng mở rộng. Mực nước ngầm đang giảm 1m/năm. Những khối băng trên dãy Hymalaya đang tan chảy với tốc độ báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lưu lượng nước của các sông chính như sông Mekong, Dương Tử (ở Trung Quốc), sông Hằng (ở Ấn Độ), sông Ấn (ở Pakistan). Trung Quốc bị cáo buộc gây ô nhiễm nguồn nước nhiều nhất khi đổ các chất thải vào các con sông[313].

Theo thông tin của một số cơ quan chính quyền Thái Lan, Lào, Việt Nam và Uỷ hội sông Mêkông (MKC): mực nước sông Mêkông trong đầu mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 7/2019 đã ở mức thấp nhất, dưới cả mức tối thiểu trong nhiều năm. Ba nguyên nhân gây nên tình trạng suy giảm nguồn nước sông Mêkông: do hạn hán, lượng mưa quá ít, kế đến là việc giảm nguồn nước xả ra từ đập thuỷ điện Cảnh Hồng ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Cuối cùng là kế hoạch tích nước để chạy thử máy phát điện tại đập Xayaburi ở Lào dự kiến hoạt động chính thức vào tháng 10/2019[314].

Học thuyết Xã hội Công Giáo nói đến quyền có nước sạch là một quyền căn bản và phổ quát của con người[315], nói đến tình trạng thiếu nước sạch, kém phát triển và nghèo đói của nhiều nước trên thế giới (số 447) và nhắc đến mục tiêu phổ quát của của cải và nước (số 484)[316]. “Tự chính bản thân của nó, nước không thể được xem như một trong nhiều thứ hàng hoá của con người, nó cần được sử dụng cách hợp lý và liên đới với những người khác: Quyền có nước, cũng như các quyền khác của con người, được đặt trên nền tảng là phẩm giá con người, chứ không phải dựa trên bất cứ việc đánh giá đơn thuần theo định lượng nào mà coi nước chỉ như một hàng hoá kinh tế không hơn không kém. Không có nước, sự sống bị đe doạ. Thế nên, quyền có nước uống an toàn là quyền của mọi người trên thế giới và là quyền không thể chuyển nhượng”[317].

2. Nước trong đời sống siêu nhiên

Vì con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, nghĩa là có thể xác và tinh thần, nên tầm quan trọng của nước trong đời sống siêu nhiên cũng không thua kém so với đời sống tự nhiên.

2.1. Nước theo ý nghĩa Thánh Kinh

Nước là nguồn mạch, là tiềm năng của sự sống[318]. Chính Đức Giêsu Kitô đã dùng hình ảnh nước hằng sống để nói về sự sống siêu nhiên do Người ban cho nhân loại[319].

Trong sinh hoạt hằng này, ngoài việc uống để sống, người ta còn dùng để tắm rửa, giặt giũ. Vì thế, trong đời sống siêu nhiên, nước chỉ sự thanh tẩy. Người ta dùng nước đã làm phép để tẩy sạch tội lỗi con người[320].

Nước là hình ảnh của Thần Khí[321] và sự sống do Chúa Giêsu trao ban đặc biệt qua biến cố Thập Giá khi Người đổ máu và nước từ vết thương ở cạnh sườn Người (x. Ga 19,34).

Vì thế, nước được sử dụng nhiều trong các nghi thức bí tích và phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, tượng trưng cho việc tham dự vào sự chết và sống lại của Đức Giêsu Kitô.

2.2. Nước trong đời sống đạo đức

Người tín hữu Công Giáo cần nhìn lại cách sử dụng nước tự nhiên trong đời sống hằng ngày để phát huy một sức khoẻ ổn định giúp cho mọi hệ thống trong cơ thể hoạt động tốt đẹp. Mỗi ngày cần phải uống đủ nước, khoảng 2 lít, trong điều kiện bình thường. Tránh uống những loại nước ngọt, bia rượu đầy hoá chất như hiện nay, nhất là trong các bữa tiệc, bữa ăn. Nên tránh uống nước trước bữa ăn khoảng 1 giờ để khỏi làm loãng các dịch vị và men tiêu hoá trước khi ăn, cũng như nên uống sau bữa ăn khoảng 1 giờ để giúp tiêu hoá các chất bổ trong đồ ăn và hấp thu qua các lông mao trong ruột non.

Việc dùng nước để tắm rửa, giặt giũ như mời gọi ta thanh tẩy tâm hồn bằng bí tích Giải Tội như một lần tắm rửa thiêng liêng. Chúng ta nên tạo thói quen chừng 2 tháng đi xưng tội một lần, nếu không có tội trọng đặc biệt cần xưng thú sớm. Việc thanh tẩy đó còn là dịp giúp ta nhìn lại đời sống để định hướng cho giai đoạn sống mới.

Bài học ý nghĩa nước đến từ các dòng sông: dòng Cửu Long đầy phù sa, dòng Hồng Hà đỏ thắm hay dòng Hương Giang lững lờ, cũng như mọi con sông trên thế giới, tất cả đều chảy ra biển. Không một sông nào muốn chảy ngược dòng. Ta tưởng chừng như chúng đã chết khi hoà mình vào biển cả bao la, nhưng thật sự không dòng sông nào chết cả, nên không một giọt nước nào của chúng bị mất. Hơi nước từ sông, từ biển bốc lên thành mây, thành mưa trả lại cho chúng dòng nước tinh khiết từ trời[322]. Những rác bẩn thối tha người ta đổ vào các dòng sông sẽ được ướp mặn, chuyển hoá nên con người mới có dòng nước ngọt sạch trong.

Lời kết

Hiểu được bài học từ những dòng sông, ta mới âm thầm làm việc, hy sinh cho đời như những giọt nước quảng đại trao tặng sự sống cho con người mà chẳng cần biết người dùng nó là tốt hay xấu, nghèo hèn hay giàu sang, xinh tươi hay xấu xí. Vì thế, mỗi lần uống nước ta lại nhớ đến nguồn nước từ trời.

Câu hỏi gợi ý

1. Mỗi ngày bạn uống bao nhiêu nước và uống như thế nào?

2. Bạn làm gì để bảo vệ nguồn nước tự nhiên của con sông, suối, kênh rạch gần nơi bạn ở?

3. Bạn học được bài học đạo đức nào từ những dòng sông?

4. Bạn cần làm gì để sử dụng nguồn nước sạch cách hữu ích cho bản thân và cho người khác?

Bài 17: Mặc đẹp cho đời

Lời mở

Mặc là một trong những nhu cầu thiết thân của con người trong xã hội. Quần áo và những trang phục như mũ nón, ví cặp, giày dép… không phải chỉ che thân và bảo vệ sự sống, nhưng còn nói lên tính cách và phẩm giá cao quý của người dùng chúng. Nhiều người săn tìm những bộ quần áo của các công ty thời trang nổi tiếng, trong khi nhiều người khác lại chỉ mặc những chiếc quần jeans rách nhiều chỗ cho có vẻ phóng khoáng tự do. Một số bạn trẻ chỉ thích mặc những quần áo ngắn ngủn, mỏng manh, để khoe những đường cong, cơ bắp trên thân thể. Vậy ta sẽ mặc gì và mặc như thế nào có lẽ vẫn là câu hỏi được nhiều bạn đặt ra hằng ngày mỗi khi phải thay quần áo để đi học, đi làm hay sinh hoạt trong xã hội.

1. Cái mặc trong dòng lịch sử nhân loại

Nếu người ta sống một mình trên hoang đảo như Robinson Crusoe[323] hay trong phòng kín nào đó, có lẽ chẳng cần mặc quần áo, dù rằng quần áo vẫn cần để bảo vệ cơ thể như giữ ấm, chống ướt, chống lạnh… Nhưng khi tiếp xúc với người khác trong cộng đồng gồm nhiều loại người khác nhau như nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, sang hèn, trí thức hay bình dân… chúng ta cần phải ăn mặc cho phù hợp để nói lên tư cách của mình và tôn trọng người khác. Thí dụ: ta không thể chạy xe máy ngoài đường với chiếc quần ngắn, mình trần như một vài người thiếu học. Ta cũng không thể tiếp khách lạ với bộ đồ ngủ mặc trong nhà để nói rằng mình phóng khoáng, tự do.

Kể từ thời tiền sử, dù còn ăn lông ở lỗ, chỉ biết mặc những manh áo, tấm khố làm bằng vỏ cây, da thú, nhưng con người đã biết trang điểm cho mình xinh đẹp bằng những vệt màu bằng đất sét[324], đeo những vỏ ốc, gắn những lông chim sặc sỡ. Người càng có địa vị cao trọng trong bộ lạc như tù trưởng, thầy pháp, già làng, thì quần áo càng có thêm những điểm khác biệt. Khi những bộ lạc kết thành những cộng đồng lớn trong thời kỳ bộ tộc, trang phục của những người có địa vị còn được ấn định rõ ràng hơn và khác biệt với thường dân.

Vào thời kỳ hình thành các dân tộc, trang phục dần dần mang nét đặc sắc của nền văn hoá. Mỗi dân tộc có bộ trang phục truyền thống để mặc trong các lễ hội hay các ngày trọng đại của đất nước, như bộ Sari của Ấn Độ, Kimono của Nhật Bản, Hanbok của Hàn Quốc, Kebaya của Indonesia, Sabai của Thái Lan, Kilt của Scotland, Gho của Bhutan, Áo dài của Việt Nam.

Ngoài những bộ quần áo đơn giản mà người dân thường mặc trong những ngày làm việc, những bộ trang phục đẹp đẽ chỉ tìm thấy ở chốn cung đình dành cho vua chúa, hoàng tộc, cho quan lại các cấp, các ngành hay những người giàu sang quyền quý. Chỉ những người này mới có đủ điều kiện để mặc những bộ quần áo may bằng những chất liệu đặc biệt như gấm vóc, lụa là, thêu bằng chỉ vàng, đính thêm ngọc quý.

Từ đầu thế kỷ IV, do ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo, nhất là Kitô giáo, mọi người trong đế quốc Rôma đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa nên quần áo sang trọng không còn là độc quyền của giới quý tộc. Ai cũng phải ăn mặc nghiêm chỉnh để ra mắt Thiên Chúa, nhất là khi tham dự những nghi lễ phụng tự. Khi các cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ độc tài bùng nổ ở nhiều nước châu Âu, khởi đầu từ cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, việc mặc những trang phục đẹp dần dần phổ biến cho quảng đại quần chúng, nhất là trong giới tư bản giàu có.

Nhiều công ty thời trang nổi tiếng được thành lập từ thế kỷ XIX để đáp ứng nhu cầu mặc đẹp của con người và còn tồn tại tới ngày nay như Louis Vuitton (1854), Chanel, Prada, Versace, Gucci, Dior, Burberry, Hermès, Dolce-Galbana, Armani, Ferdi, Yves-Saint-Laurent, Givenchy, Bottega, Veneta… Từ thế kỷ XIX, khi đời sống cộng đồng ở đô thị phát triển, cách ăn mặc của con người cũng thay đổi: người ta không còn chỉ muốn ăn no mặc ấm, nhưng muốn ăn ngon mặc đẹp. Những bộ quần áo truyền thống cầu kỳ, phức tạp, nhiều chi tiết được thay bằng những bộ quần áo gọn gàng, đơn giản để tiện làm việc trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp, nhất là khi ngành may mặc được công nghiệp hoá với những máy móc hiện đại. Quần áo may sẵn với những tiêu chuẩn rõ ràng, màu sắc hấp dẫn, vừa rẻ vừa đẹp, có thể đến tay mọi người. Sự phân cấp xã hội qua trang phục giữa những con người sang hèn, giàu nghèo, già trẻ cũng không còn gay gắt như trước vì ai cũng có thể mặc những bộ quần áo giống nhau. Nghề may cá nhân hầu như biến mất vì ít người mất công đem vải đi may do tiền công may mắc hơn tiền vải.

Khuynh hướng “ăn bờ, mặc bụi” bắt nguồn từ những người trẻ thuộc phong trào Hippy hay Hippie bắt nguồn từ Hoa Kỳ trong những năm 1960, sau đó lan rộng sang các nước khác trên thế giới. Nhiều bạn trẻ thời đó bất mãn với định ước xã hội đương thời, với tầng lớp trung lưu bị chi phối bởi chủ nghĩa tiêu dùng. Họ phản đối chiến tranh, đề cao tự do, tình yêu, hoà bình, lòng khoan dung, bác ái. Họ chủ trương từ bỏ xã hội công nghiệp, quay về với thiên nhiên. Họ thường mặc quần jeans[325], cố tình để rách nát hoặc chắp vá vì muốn chứng tỏ mình chống lại những hình thức, luật lệ rườm rà của xã hội, cổ vũ cho một đời sống tự do, phóng khoáng.

Những quần áo cực ngắn bắt nguồn từ thời xa xưa với những nghệ sĩ, vận động viên thời đế quốc Hy Lạp, La Mã. Họ mặc như thế vừa để phô bày những nét đẹp thân thể khoẻ mạnh vừa để dễ dàng chơi các môn thể thao, trình diễn các tiết mục nghệ thuật như múa, xiếc… Kitô giáo với khuynh hướng chế ngự những đòi hỏi của dục vọng, kết hợp với chủ nghĩa khắc kỷ và thuyết Nhị Nguyên của các triết gia Hy Lạp, La Mã, đã lên án những loại quần áo “khoe thân” suốt 19 thế kỷ. Vào đầu thế kỷ 20, khi bác sĩ phân tâm học người Áo, Sigmund Freud (1856-1939), viết “Ba tiểu luận về tình dục” xuất bản năm 1905, đề cao những ham muốn của thể xác để giải toả những ẩn ức bản năng, thì khuynh hướng mặc những quần áo khoe thân bắt đầu nở rộ.

Những loại quần áo cực ngắn, bó sát thân mình, dùng những loại vật liệu trong suốt hay lẫn với màu da để khoe các nét đẹp trên thân thể, nhất là của phụ nữ được nhiều người trẻ ưa chuộng. Phong trào mặc những loại quần áo “mát mẻ” này còn được hỗ trợ bởi những phim ảnh, sách báo đề cao tình dục dành cho người lớn trên các phương tiện truyền thông xã hội. Chủ nghĩa Hiện Sinh, do triết gia Jean Paul Sartre (1905-1980), khởi xướng sau Thế chiến II, cũng đóng góp nhiều cho phong trào ăn mặc hở hang này khi đề cao tự do chọn lựa để hưởng thụ đời sống có vẻ như phi lý của con người. Nhiều bãi biển khoả thân được lập nên để đáp ứng yêu cầu của những người theo chủ nghĩa Tự Nhiên.

2. Người Việt mặc như thế nào?

Về cái mặc, dân tộc Việt chúng ta cũng tiến từ giai đoạn trần trụi thời các vua Hùng dựng nước với yếm, váy ngắn cho đàn bà; áo giao lĩnh, trực lĩnh, viên lĩnh và khố vải cho đàn ông[326], tiến đến giai đoạn có quần áo tươm tất hơn khi bắt đầu nền quân chủ độc lập của đất nước vào năm 938. Trong thời kỳ hơn 1.000 năm bị người Trung Quốc đô hộ (111 TCN – 937), những người thân chính quyền và giàu có mặc giống như người Trung Quốc, trong khi đại đa số quần chúng mặc theo quần áo của người Việt cổ. Điều này nói lên tinh thần ái quốc chống lại cuộc xâm lăng về văn hoá của bọn ngoại xâm vì trong khi phụ nữ Trung Quốc mặc quần với hai ống riêng biệt, thì phụ nữ Việt Nam mặc váy. Vì thế mới có câu ca dao:

Cái thúng mà thủng hai đầu

Bên Tây thì có bên Tàu thì không.

Quần chúng bình dân mặc quần áo đơn giản cho dễ làm việc, may bằng vải bông hay đũi[327] là loại tơ tằm dệt thô, có nhiều đường nối. Nhiều người giàu hoặc quan lại mới có điều kiện may quần áo bằng lụa là, gấm vóc. Màu sắc thường là màu trắng, đen, xanh đậm, nâu. Còn những màu rực rỡ khác đều dành cho người quyền quý, giàu sang. Đặc biệt màu vàng với những đường thêu các linh vật như long, ly, quy, phụng chỉ dành cho vua chúa, quan lại. Người dân nếu may mặc màu vàng và các linh vật có thể bị khép vào tội khi quân, có ý đồ phản loạn.

Áo dài là trang phục cách tân của áo ngũ thân của người Việt Nam, mặc cùng với quần dài, dành cho cả nam lẫn nữ, nhưng thường dành cho nữ nhiều hơn. Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1744) được coi là người có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam như ngày nay[328]. Áo có hai vạt, mỗi vạt có hai thân nối vị chi thành bốn tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu. Vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt nhờ cổ áo có bâu đệm và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho ngũ thường, ngũ hành theo Nho giáo và triết học Đông Phương.

Cho đến thế kỷ 17, truyền thống mặc váy vẫn còn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính, đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665, với sắc lệnh nhắc nhở: “Áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế…”. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới có câu ca dao kêu trách như sau:

Tháng Tám có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng!

Chiếc áo dài ngày nay được hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường (dịch sang tiếng Pháp: Le Mur) giới thiệu đầu tiên trên báo Phong Hoá, số 90, ra ngày 23/3/1934. Áo chia hai tà trước sau từ dưới eo khoảng 8cm. Thay vì yếm làm vùng ngực của phụ nữ không đẹp và nổi, thì hoạ sĩ đã nhờ chủ hiệu Cư Chung sản xuất thêm nịt vú để nâng ngực cho người mặc. Năm 1935, những chiếc áo dài Le Mur được xuất xưởng, tạo sự duyên dáng sang trọng cho phụ nữ được cả xã hội đón nhận. Từ đó đến nay, chiếc áo dài đã được cách tân (với tay rap Raglan năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn) và thay đổi với nhiều kiểu dáng và chất liệu nên trở thành một trang phục riêng biệt của nữ giới Việt Nam được nhiều nước trên thế giới biết đến[329]. Chiếc áo dài Việt Nam cũng đã gợi ý cho biết bao nhạc sĩ, thi sĩ viết thành những ca khúc, vần thơ tuyệt vời:

Chiếc áo quê hương dáng thướt tha

Non sông gấm vóc mở đôi tà

Tà bên Đông Hải lung linh sóng

Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa

Vạt rộng Nam Phần theo cánh gió

Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà

Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực

Hương lúa ba miền thơm thịt da.[330]

3. Mặc theo quan điểm truyền thống Công Giáo

Người tín hữu Công Giáo có quan điểm khác biệt về cái mặc và hướng nhiều về lĩnh vực đạo đức, tinh thần hơn là những quần áo, trang sức bằng vật chất bên ngoài.

Đức Giêsu nói: “Còn về áo mặc, anh em lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà, Thầy bảo cho anh em biết, ngay cả vua Salomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng nay còn, mai đã quăng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây? Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần những thứ đó. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,28-33).

Khởi đầu, người Công Giáo giữ nguyên quan niệm truyền thống về y phục như Do Thái giáo đã diễn tả trong Thánh Kinh Cựu Ước. Từ nguyên thuỷ, những người đầu tiên trần truồng không y phục vì họ được ánh sáng của Thiên Chúa bao phủ (x. St 3). Chỉ sau khi phạm tội, cắt đứt sự hiệp thông với Thiên Chúa, họ mới cảm thấy xấu hổ trước mặt Thiên Chúa và trước mặt nhau, nên Thiên Chúa đã mặc cho họ những chiếc áo da (x. St 3,21). Y phục bảo vệ thân thể, chống lại những thay đổi của thời tiết, những nguy hiểm của môi trường như các côn trùng, mà còn chống lại những cái nhìn thèm khát, muốn lột trần con người, hạ thấp giá trị con người thành một đồ vật để thoả mãn dục tính. Vì thế, luật cấm nhìn thân thể trần truồng của cha mẹ (x. St 9.20-27), anh em (x. St 34; 2Sm 3), vợ chồng (x. Lv 18) để bảo vệ đời sống riêng tư của mỗi người.

Y phục còn phản ánh đời sống xã hội với những công việc khác nhau (x. 1Sm 25,48; Cn 31,10-31), trở thành quà tặng nói lên tình bằng hữu (x. 1Sm 18,3-4), trở thành ân phúc của Chúa để chia sẻ cho những ai nghèo túng, không để họ phải trần truồng, rách rưới (x. Ez 18,7; Is 58,7). Y phục được phân loại cho ngày làm việc bình thường và ngày lễ trọng đại kính Chúa (St 35, 2; Xh 19,10), loại dành cho vua (x. 1V 22,30; 1Mcb 11,58), cho tư tế (x. Xh 28,2; Lv 16,4), cho ngôn sứ (1V 19,19).

Đời sống, lời rao giảng, nhất là mầu nhiệm chết đi-sống lại của Đức Giêsu Kitô đem lại ý nghĩa mới mẻ cho cái mặc của con người và của Kitô hữu. Thiên Chúa yêu thương toàn thể con người và vũ trụ nên đã sai Ngôi Lời, Con của Ngài, xuống thế làm người. Dù là Thiên Chúa vô cùng giàu có và cao sang, nhưng Người tự nguyện trở thành hài nhi, bọc tã nằm trong máng cỏ (Lc 2,7.12). Cuối đời, Đức Giêsu bị lột hết y phục (x. Mt 27,35; Ga 19,23), nằm chết nhục nhã trên thập giá như muốn đưa tất cả vào tình trạng nguyên thuỷ, khi con người được Thiên Chúa bao bọc bằng tình yêu và ánh sáng của Ngài. Đức Giêsu đã báo trước tình trạng này vài tuần trước đó, khi Người biến hình trên núi trong y phục huy hoàng trắng tinh như ánh sáng (x. Mt 17,2), cũng như khi Người hiện ra với Phaolô trên đường đi Damas (x. Cv 22,6-11). Đức Giêsu phục sinh, khi xuất hiện với những người chưa có đủ đức tin mạnh mẽ, sẽ chỉ mặc trên người y phục như một người bình thường (x. Ga 20,15; Lc 24,15t) để ta được tự do để nhận ra Người, thay vì bị ánh sáng và quyền uy Người khuất phục [331].

Người Kitô hữu không quan tâm đến y phục vật chất theo tinh thần nghèo khó của Đức Giêsu, họ muốn lột bỏ con người cũ và mặc lấy người mới (x. Cl 3,10; Ep 4,24) để thật sự “sống công chính và thánh thiện, nhờ đức tin và phép rửa”. Họ phải ‘mặc lấy Đức Kitô’ (Gl 3,25) là con người mới (x. CĐ. Vat.II, GS, số 22) để từ nay trở thành chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Người, thành con cái của Thiên Chúa. Mặc lấy Đức Kitô chính là mang một thứ y phục tinh thần mà Thánh Phaolô đã diễn tả rất rõ trong đoạn thư gửi tín hữu Côlôsê 3, 7-15: “Hãy cởi bỏ con người cũ là tất cả những gì tiêu cực như giận dữ, nóng nảy, độc ác, thoá mạ, ăn nói thô tục và mặc lấy con người mới là lòng thương cảm, nhân hậu, khiên nhu, hiền hoà, nhẫn nại, biết chịu dựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau, nhất là mặc lấy lòng bác ái là mối dây liên kết tuyệt hảo”.

Trong suốt 19 thế kỷ, người Công Giáo it quan tâm đến y phục bên ngoài. Họ vẫn tuân theo lời dạy bảo của thánh Phaolô nhắc nhở phụ nữ cần phải che đầu khi họp nhau cầu nguyện chung với cộng đồng (x. 1Cr 11,5-14). Kitô hữu, dù nghèo khổ đến đâu, cũng cố sắm cho mình vài bộ quần áo tươm tất, nghiêm chỉnh khi dự thánh lễ và cầu nguyện trong thánh đường. Họ tuyệt đối không ăn mặc phóng túng, hở hang.

Ở Việt Nam, trong nhiều thế kỷ, người giáo dân, nam cũng như nữ, đều mặc áo dài khi đến nhà thờ. Chỉ từ sau năm 1960, tại một ít nhà thờ trong các thành phố lớn, người ta mới thấy những khách lạ, từ nơi khác đến, ăn mặc có vẻ khác biệt so với tín hữu địa phương. Từ 1975 đến nay, người ta mới thấy một số tín hữu trẻ bắt đầu mặc những quần áo ngắn ngủn, hở hang khi dự thánh lễ trong nhà thờ. Nhưng họ thường được nhắc nhở để ý thức về sự cao cả của Thiên Chúa và tôn trọng cộng đồng khi cầu nguyện chung với nhau.

Kể từ Công đồng Vaticanô II (1962-1965), người Công Giáo vượt qua quan niệm Nhị Nguyên để nhận ra “con người là một với thể xác và tinh thần, và phải coi thể xác là tốt lành, đáng tôn trọng vì được Thiên Chúa tạo thành và sẽ được sống lại trong ngày sau hết” (x. CĐ. Vat.II, GS, số 14). Hơn nữa, Thiên Chúa là nguồn chân, thiện, mỹ. nên tất cả mọi sự Ngài dựng nên đều rất tốt đẹp (St 1,31; x. Thư ĐGH Gioan Phaolô II gửi văn nghệ sĩ, 4/4/1999). Và cái đẹp là một trong ba thuộc tính cơ bản của hữu thể: đúng-tốt-đẹp, nên người tín hữu phải tôn trọng và biểu lộ cái đẹp trong thân xác cũng như qua quần áo, trang phục của mình. ĐGH Gioan Phaolô II nhắc bảo rằng: “đẹp là hình thức bên ngoài của cái tốt, cũng như cái tốt là điều kiện siêu hình của cái đẹp và cả hai cái tốt và đẹp đều phải nằm trong cái thật của hữu thể” (Thư gửi văn nghệ sĩ, số 3). Vì thế, bước sang thiên niên kỷ thứ III, người Công Giáo có quan điểm cởi mở hơn về y phục và tất cả những gì liên quan tới thân thể con người vì muốn biểu lộ cái đẹp của Thiên Chúa qua cách sống, ăn mặc, trang điểm của mình.

4. Chúng ta sẽ mặc gì và mặc như thế nào?

Mỗi ngày trước khi đi làm, đi học hay gặp một người nào đó, chúng ta lưỡng lự, tần ngần không biết chọn bộ quần áo nào cho xứng hợp, trang điểm thế nào cho đúng đắn. Nếu chỗ ta làm, ta học đã có bộ đồng phục, có lẽ ta ít bận tâm, nhưng nếu không có, ta nên đặt ra cho mình một vài tiêu chuẩn trước khi chọn lựa:

– Trang phục phải phù hợp với hoàn cảnh và cộng đồng xã hội. Ta không thể mặc bộ quần áo với màu sắc rực rỡ, tươi sáng để dự tang lễ của bất cứ ai, dù ta sống tự do phóng khoáng đến mấy, vì như thế là xúc phạm đến người đã khuất và cộng đồng trước nỗi mất mát và cái chết. Đến những nơi thờ tự ta cũng cần có những trang phục hết sức đúng đắn để tỏ lòng tôn kính thần linh và trân trọng niềm tin của người khác.

– Trang phục phải phù hợp với đức hạnh và tư cách. Người xưa nhắc nhở rằng: “Y phục xứng kỳ đức”, nghĩa là ăn mặc phải tương xứng với đức hạnh và địa vị trong xã hội. Một người tử tế, có giáo dục sẽ biểu lộ đức hạnh của mình qua trang phục họ mang: từ bộ quần áo, đến giày dép, mũ nón, ví cặp… Dù có quyền cao chức trọng, họ vẫn ăn mặc giản dị, để nói lên tính cách khiêm nhường, không muốn nổi trội, gây sự chú ý đối với người khác. Trái ngược với một số người kém tài, thiếu đức, lại muốn đánh bóng mình và che mắt người khác bằng những trang phục hàng hiệu, vòng vàng, nhẫn kim cương quý giá. Đó là chúng ta chưa muốn nói đến tinh thần nghèo khó của Đức Giêsu nhắc nhở ta phải “khiêm nhường” để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho anh chị em mình.

– Trang phục phải đẹp và nâng cao phẩm giá con người. Tinh thần khiêm tốn, khó nghèo không ngăn cản ta tôn vinh cái đẹp và nhân phẩm. Vẻ đẹp thể hiện qua màu sắc, kiểu dáng của trang phục hài hoà với người mặc và cộng đồng. Ta có thể mặc những bộ quần áo theo nguyên tắc đồng bộ (toàn màu trắng hay đen), hay phối màu theo bánh xe màu sắc dựa theo màu cầu vòng do Isaac Newton tìm ra năm 1666. Ba cách phối màu sau đây: phối màu đơn sắc (thí dụ: hồng cánh sen, hồng nhạt và trắng) tạo cảm giác tinh tế; phối màu tương phản với hai sắc thái đối lập 1800 trên bánh xe (thí dụ: xanh biển và cam, hồng và xanh lá, vàng và tím) tạo nên sức hút mạnh mẽ; hoặc phối màu liền kề với ba tông màu (thí dụ: vàng, xanh lá mạ, xanh lá cây; hoặc tím, tím than, xanh dương) tạo nên sự tinh tế, trẻ trung, nhã nhặn. Chính việc chọn đúng màu sắc đã nói lên phần nào tài năng, tính cách và đức hạnh của người mặc.

– Tuyệt đối không bao giờ dùng trang phục khoe thân. Nhiều bạn trẻ hay phụ nữ mặc những bộ quần áo bằng voan hay lụa quá mỏng để khoe những đường cong trong thân thể, dù có được một ít bạn bè hay người hâm mộ tán thưởng, vẫn bị dư luận quần chúng coi thường, thậm chí chê trách. Họ đã tự đánh giá thấp bản thân, biến mình thành một tượng đài hay vật dụng cho người khác ngắm nhìn để chiều theo những dục vọng của người xem, hơn là biểu lộ những nét đẹp trong sáng cao thượng của một con người toàn diện: vừa có thể xác vừa có tinh thần.

Tuy nhiên chúng ta tôn trọng tự do của tất cả những ai mặc loại trang phục đó. Chúng ta cũng không thể nhắm chặt đôi mắt trong cuộc tiếp xúc với con người, nhất là khi lái xe hay đi trên đường phố. Một bạn trẻ Công Giáo chia sẻ kinh nghiệm này: chúng ta cứ việc nhìn thẳng vào các anh chị em đó và ca tụng Chúa đã ban cho họ một cặp chân dài, một vòng ngực đẹp, một chiếc eo thon và có thể cầu nguyện thêm cho họ để ăn mặc kín đáo hơn, tránh gây nguy hiểm cho người khác!

– “Hãy mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá” (Cl 3,10). Chúng ta hãy “mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,25) vì Người là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, đã đưa tính vĩnh hằng, vô biên, tuyệt đối vào trong con người vô thường, tạm bợ, hữu hạn, nên mỗi hành động dù nhỏ bé nhất của ta như ăn, mặc hằng ngày đều có giá trị vô cùng, đều tạo nên công đức vì ta đóng góp vào cái đẹp vĩnh hằng của Thiên Chúa. Như thế, dù mặc một tấm áo bình thường hay trang phục sang trọng, tất cả mọi người chúng ta đều không muốn dùng vật chất để làm nổi bật mình so với người khác vì chúng ta không còn “là Do Thái, hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,27-28). Chúng ta không cần phải mặc sao cho thật đặc biệt để làm lu mờ người khác vì chúng ta đều là anh chị em của nhau, là con cái Cha Trên Trời: ta sẽ hoà mình vào cộng đồng “để chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11).

Tuy nhiên, mỗi khi đến nhà thờ dự lễ chung với cộng đồng, người tín hữu cần phải mặc đúng đắn, đẹp đẽ cho xứng với Thiên Chúa là Đấng siêu việt, vượt trên mọi vua chúa lãnh đạo trần thế. Hơn nữa, Gi

Lời kết

Câu hỏi

1. Bạn thường chọn lựa quần áo như thế nào: chú ý đến màu sắc, kiểu dáng hay không quan tâm đến chúng?

2. Nhiều người tín hữu, nhất là các tu sĩ, linh mục, không quan tâm đến quần áo bên ngoài, nên mặc không đẹp và có vẻ luộm thuộm nữa, nhân danh tinh thần nghèo khó của Đức Kitô. Bạn nghĩ sao?

3. Bạn nghĩ phụ nữ Việt Nam có nên mặc chiếc áo dài truyền thống trong những dịp lễ đặc biệt không? Tại sao?

4. Bạn biết gì về cách phối màu cho quần áo bạn mặc hay chia sẻ cho bạn bè để họ ăn mặc đẹp hơn?

5. Khi thấy một phụ nữ mặc bộ quần áo quá ngắn hay quá mỏng để khoe thân, phản ứng của bạn như thế nào?

Bài 18: Học với người thầy tuyệt vời

Lời mở

Mỗi người chúng ta thường dành 10 hay 20 năm đầu tiên trong cuộc đời để học hành. Chúng ta tốn rất nhiều công sức, thời giờ, tiền của cho hoạt động giáo dục và đào tạo này, nhưng rất ít người tự hỏi: Học để làm gì? Học thế nào cho hiệu quả nhất? Học với ai cho xứng đáng nhất?

1. Học để làm gì?

Trong hơn 10 thế kỷ bị người Trung Quốc đô hộ (111 TCN – 938) và 10 thế kỷ độc lập (939-1945), người Việt học để làm quan, vì đó là cách tiến thân và khẳng định chính mình nhanh nhất trong một xã hội phong kiến với nền quân chủ chuyên chế. Nội dung học là bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh của Trung Quốc, và một số kỹ năng thơ phú vì nền giáo dục nước ta bị ảnh hưởng nặng nề của văn hoá Trung Quốc. Phương pháp học tập, cách thi cử cũng vì nội dung này mà bị hạn hẹp vào những cách ứng xử trong mối tương quan xã hội như: vua-tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè theo tam cương, ngũ luân hoặc theo những tiêu chuẩn: nhân, nghĩa, lễ, tín, trí hay công, dung, ngôn, hạnh.

Bước vào thời kỳ dân chủ cộng hoà cho cả hai miền Nam Bắc (1945-nay), dù nội dung học là những kiến thức thiết thực hơn, nhưng phương pháp học, cách thi cử không khác xưa bao nhiêu. Gần đây người ta mới nhận ra những hạn chế của nền giáo dục này và đang quyết liệt đòi phải “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế”[332].

Lý do là vì nền giáo dục hiện nay quá chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức, mang nặng tính cách nhồi nhét, trong khi lại coi thường việc vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra. Thật ra, khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, kho tàng kiến thức mỗi ngày một lớn, nên một số hiểu biết ta thuu nhận tử việc học cũng nhanh chóng trở thành lạc hậu và bị đào thải. Tin học và truyền thông thế giới lại đòi hỏi con người phải hoà nhập vào cộng đồng quốc tế, nếu không sẽ tụt hậu và bị bỏ rơi.

Vì thế, tham vọng muốn trang bị cho người học đầy đủ kiến thức cơ bản của nhân loại trong chương trình giáo dục là không thể, không cần thiết và không hiệu quả. Người học có thể tự đào tạo các kỹ năng và phẩm chất nhờ các phương tiện truyền thông và có thể tự học suốt đời.

Cũng vì tham vọng này nên nội dung giáo dục hiện nay mang nặng tính lý thuyết, không phù hợp với tâm sinh lý và khả năng tiếp thu của người học, nhất là học sinh ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Chương trình quá rộng, chế độ kiểm tra bằng số điểm và thi cử nặng nề, bệnh thành tích và gian lận trong việc cho điểm thi cử, không có thời giờ để suy tư, tìm hiểu nên chỉ còn một cách duy nhất là học thuộc lòng để làm bài, để thi cử, cách quản lý “cầm tay chỉ việc”, chế độ dành một số chỉ tiêu đào tạo tại các trường đại học cho những “con ông, cháu cha” gọi là “đền ơn đáp nghĩa” các người có công, có chức, có quyền… đã làm mất đi ý nghĩa cao quý, vô tư, công bằng của nền giáo dục chân chính.

Kết quả là học sinh miệt mài học tập, mất đi tuổi thơ, ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm sinh lý khiến cho năng suất làm việc của người Việt Nam gần như thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Lớp sinh viên vừa học vừa tìm cách đối phó cho đạt điểm số, hơn là thu nhận kiến thức đầy đủ. Do đó, thay vì đào tạo được những con người năng động, sáng tạo, biết phát hiện các vấn đề nảy sinh và giải quyết được chúng, thì nền giáo dục lại tạo ra những con người ham học vị, nhạy cảm với lợi ích của bản thân và tập thể nhỏ hơn là quan tâm đến lợi ích lâu dài của dân tộc và nhân loại[333].

Nếu có dịp hỏi các học sinh, sinh viên và phụ huynh học sinh học để làm gì, thì nhiều người sẽ trả lời rằng không biết học để làm gì, vì chỉ làm theo mọi người; hay học để có công ăn việc làm, để kiếm tiền, để sau này giúp đỡ gia đình. Chỉ có vài người trả lời học để mở mang kiến thức hay để hoàn thiện chính mình.

Năm 1997, Hội đồng Giáo dục của Unesco đã công bố một thông điệp mang tên: “Học tập – một kho báu tiềm ẩn” để xây dựng bốn trụ cột cho việc học và định hướng cho việc giáo dục thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” (Learning to know, to do, to live together and to be).

+ Học để biết là nắm được những kiến thức chuyên môn cần thiết.

+ Học để làm là có khả năng tác động vào môi trường sống của mình.

+ Học để sống chung là tham gia và hợp tác với người khác trong mọi hoạt động.

+ Học để tự khẳng định mình là phát triển được hết năng lực, phẩm chất của mỗi cá nhân, giúp làm chủ được cuộc đời, tìm được ý nghĩa cho đời sống, trở thành một con người cao quý, độc đáo trong cộng đồng nhân loại.

Bốn trụ cột này tạo nên một thể thống nhất vì chúng liên đới và tác động lên nhau để xây dựng thành “một con người có giáo dục”. Thiếu một trụ cột nào hay yếu kém một trụ cột nào thì nền giáo dục không toàn vẹn và hoàn hảo.

Công đồng Vaticanô II (1962-1965) đã ra tuyên ngôn “Gravissimum Educationis” ngày 28/10/1965 và nhắc nhở chúng ta về “vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục trong đời sống con người và tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của ngành giáo dục đối với sự phát triển của xã hội hiện nay”. Học không phải chỉ để biết, để làm, để sống, để khẳng định mình như một con người mà còn như một người con của Thiên Chúa, vì ta có thể hiểu biết vô cùng, hành động phi thường, tồn tại mãi mãi và hạnh phúc vô biên. Bạn có muốn học để được như thế không?

2. Học thế nào cho hiệu quả nhất?

Tuỳ theo mục đích học tập, người ta giới thiệu nhiều phương pháp học để đạt hiệu quả cao.

Nếu học để thu nhận được nhiều kiến thức, kỹ năng, người ta khuyên nên chọn thời điểm và không gian yên tĩnh, nên học vào buổi sáng, nên ngủ trưa và ngủ đêm đủ để hồi phục trí não, tập trung cao độ trong khoảng 1 giờ rồi nghỉ giải lao ít phút cho đầu óc thư giãn, tập ghi nhớ bằng các dàn bài tóm tắt, hạn chế nghe nhạc trong khi học, không học khi vừa ăn xong, tận dụng hai bán cầu não: não trái chủ yếu cho tư duy logic, não phải cho tưởng tượng hình ảnh[334].

Nếu học để hành động, người ta khuyên học sinh tập trung nghe giảng để tăng hiệu suất tiếp thu, ghi chép hiệu quả, tích cực thực hành và làm bài tập, học từ cơ bản đến nâng cao, tạo lập thói quen tự học, tự làm, học với thái độ tích cực[335].

Nếu học để sống tốt đẹp với người khác, người ta khuyên người học cần hiểu biết tâm lý con người, các môn khoa học xã hội nhân văn, quản lý nhân sự… Muốn thành công, người đó cần có nhận thức đầy đủ về con người, về cộng đồng nhân loại mình đang sống và luyện tập các đức tính xã hội.

Nếu học để tự khẳng định mình thật sự là ai khi phát triển được hết những năng lực và phẩm chất của con người như mục đích cao cả nhất của hoạt động giáo dục (học để làm người, để thành nhân), thì khẳng định mình để làm gì nếu không có người nào hay Đấng nào tồn tại mãi mãi để công nhận sự khẳng định đó? Thật ra, tận thâm tâm, con người luôn muốn tự khẳng định mình, lúc nào cũng muốn sống mãi, trẻ mãi, đẹp mãi. Vậy ta đi tìm phương pháp học nào để đạt được điều đó?

Tuy nhiên, trước khi đi tìm phương pháp để thu nhận những hiểu biết, kỹ năng làm, nghệ thuật sống, rèn luyện ý chí, đón nhận tình yêu và hạnh phúc bền vững, ta cần phải hiểu rõ chúng là gì trong con người mình.

Các nhà khoa học cho đến hôm nay, vẫn chưa tìm ra được chỗ chúng ẩn náu trong con người vật chất của ta. Người ta nói đến trái tim chứa đựng tình yêu, nhưng giải phẫu nó, không tìm thấy tình yêu trong mô tim, cơ tim nào cả. Người ta nói đến bộ não với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, nhưng lục tìm trong đó chỉ thấy những đơn chất C, H, O, N, sắt, đồng, chì, kẽm… Khi con người suy nghĩ hay có cảm xúc yêu thương, người ta chỉ thấy các dòng xung động điện chạy trong sợi trục của tế bào thần kinh, rồi đến cuối sợi trục, ở khe khớp thần kinh (synap) chúng phóng ra các chất dẫn truyền thần kinh là các túi hoá chất[336].

Kiến thức, cảm xúc, tình yêu chỉ là những phản ứng như thế. Khoa học cũng chưa thể nào đo được kiến thức thế nào là cao, cảm xúc thế nào là mạnh, tình yêu thế nào là đẹp! Chúng phải bắt nguồn từ đâu đó để chuyển đến ta và ta phải biết cách để đón nhận, lưu giữ và phát huy chúng, cho cuộc đời của mình phong phú, tươi đẹp, hạnh phúc.

Như thế, phương pháp học bằng tinh thần (chứ không chỉ bằng bộ não) lại tóm gọn vào vài điểm cơ bản sau đây:

– Trí vô tư

Giữ sao cho tâm trí ta được hồn nhiên, trong sáng để dễ dàng tiếp nhận những kiến thức hữu ích, những kỹ năng hữu dụng và nhất là những sự thật về mọi người, mọi vật quanh ta.

Trong thời đại thông tin kỹ thuật số này, nhiều người đã làm thương tổn, thậm chí huỷ hoại tâm trí của mình. Ký ức hay bộ nhớ của họ chứa đầy những hình ảnh đồi truỵ, bạo lực, ma quái hay những trò chơi vô nghĩa. Ta cứ tính thử xem: 1 giây có 24 hình ảnh động đi qua con mắt rồi lọt vào bộ nhớ, trong đó chứa các dữ liệu về màu sắc, tiếng nói, âm thanh, ngữ nghĩa, cử động, cảm xúc của từng ảnh. 1 giờ xem phim hay chơi game online là bộ nhớ phải chứa hàng tỉ tỉ dữ liệu. Còn đâu bộ nhớ thừa ra cho việc học!

Ta cần phải xoá những dữ liệu vô ích để cho tâm trí vô tư. Nếu giữ tâm trí vô tư, bạn sẽ học rất nhanh, thu nhận được nhiều nội dung lạ lùng vì Đấng là nguồn của khôn ngoan và tư tưởng sẽ chia sẻ cho bạn kho tàng của Ngài.

– Thở nhiều khí trời và khí thiêng

Khi học, bộ não cần rất nhiều khí trời để chuyển hoá các chất nuôi dưỡng từ máu và dịch não tuỷ cũng như khí oxy vào các tế bào thần kinh. Do đó, khi học nên ngồi thẳng, thỉnh thoảng hít thật dài hơi và xoa các vùng vỏ não như thị giác, thính giác, cảm xúc, vận động, vùng ngôn ngữ Broca, Wernicke, Geschwind, vùng điều hành trung tâm… cho máu lưu thông để kích thích hoạt động thần kinh[337].

Nếu bạn đã tin rằng tư tưởng, tình cảm, kiến thức của bạn bắt nguồn từ một nguồn là tinh thần tuyệt đối, thì bạn cần phải tiếp cận được với nguồn đó bằng các phương tiên được các tôn giáo đề nghị như cầu nguyện, suy niệm, tâm niệm, chiêm niệm, thiền định… Như thế, phương pháp học theo khoa học và học theo tôn giáo không có đối lập và mâu thuẫn với nhau như một vài nhà khoa học vô thần diễn tả[338]. Ngược lại, cả hai khoa học và tôn giáo bổ túc cho nhau để giúp cho tâm trí con người mở ra với Đấng Siêu Việt và hướng tới vô biên[339].

Có thể nói tinh thần của con người cũng có một nơi chứa đựng tất cả những gì thuộc về lĩnh vực thiêng liêng, nên ta cũng cần phải mở rộng tinh thần để có thể đón nhận được những ân huệ của Thánh Thần làm nên kho tàng thiêng liêng cho mình. Nếu khí ôxy ta hít vào buồng phổi để chuyển hoá máu đen thành máu đỏ, cần thiết cho bộ não tự nhiên của con người và nhờ đó có thể suy nghĩ, nhận thức, phân biệt, quyết định, sáng tạo…thì đó luồng khí thiêng cũng hết sức cần thiết để chuyển hoá được dòng máu thiêng liêng bị tội lỗi làm đen bẩn thành dòng máu đỏ tinh tuyền của Đức Giêsu. Kitô giáo gọi thần khí ấy là Chúa Thánh Thần, được Đức Giêsu Kitô Phục Sinh ban cho các môn đệ của Người khi thổi hơi trên họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22).

Chúa Thánh Thần ban cho những ai tin vào Ngài và thở thần khí của Ngài 7 hồng ân là khôn ngoan, thông minh, lo liệu, can đảm, hiểu biết, đạo đức, kính sợ Thiên Chúa[340]. Ngài cũng ban những ơn lạ lùng khác gọi là đặc sủng, đoàn sủng, hiện sủng để giúp con người thể hiện bản chất là con cái Thiên Chúa của mình (GLHTCG, số 1799, 2003) như ơn làm phép lạ, ơn chữa lành (số 1508), ơn thông thạo các ngôn ngữ, ơn tiên tri, ơn khiết tịnh (số 2345), tình yêu (số 733, 735, 2712)… Vì thế, người tín hữu Kitô không phải chỉ học bằng sức lực của con người mà còn bằng các ơn lành của Chúa Thánh Thần. Lịch sử khoa học nhân loại đã chứng minh điểu đó với những nhà bác học như Ampère, Volt, Newton, Marie Curie…

3. Học với ai cho xứng đáng nhất?

Trong đời sống con người, chúng ta đã được học với nhiều người thầy và cảm nghiệm rằng thầy nào càng yêu mến ta, càng dạy ta những điều tốt đẹp, ta càng quý trọng, biết ơn. Vị thầy nào càng dạy được nhiều người, ảnh hưởng và thay đổi lớn lao cuộc đời con người, thì càng được tôn vinh. Tuy nhiên, ta nên hiểu rằng mọi tư tưởng tốt đẹp, sự khôn ngoan, tình yêu, ân huệ và những gì thuộc về tinh thần đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng tạo thành con người giống hình ảnh Ngài và ban cho con người có tinh thần vượt ra khỏi những giới hạn của vật chất, không gian và thời gian.

Ngài đã sai Con Một của Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành con người, trở thành Đức Giêsu Nazareth, để cứu độ con người và toàn thể vũ trụ và chỉ cho muôn loài con đường tìm về sự thật toàn diện và sự sống vĩnh hằng. Ngài còn ban Chúa Thánh Thần cho con người để soi sáng tâm trí và giúp con người nhận ra con đường dẫn tới Thiên Chúa.

Khi nhận ra Thiên Chúa là vị thầy tối cao (x. Mt 23,8-9), nguồn của mọi tri thức, con người mới sẵn lòng chia sẻ cách quảng đại và vô vị lợi những gì mình khám phá được cho mọi người thay vì giấu nghề, giữ bí mật, đòi tác quyền quá đáng như hiện nay.

Khi nhận ra Đức Giêsu là vị Thiên Chúa cụ thể, là Người Thầy tuyệt vời[341], con người mới cảm thấy tự hào được làm môn đệ của Người Thầy và cũng là vị Chúa của mình (x. Ga 13,13,14). Người không chỉ dạy ta những mảnh sự thật nhưng là một sự thật toàn diện, hoàn hảo: về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật, về chính mình. Sự thật là chính Đức Giêsu sẽ giải thoát ta khỏi mọi u mê lầm lạc (x. Ga 8,32), đem lại cho ta sự tự do của con cái Thiên Chúa và chia sẻ cho ta sự sống vĩnh hằng. Đức Giêsu đã xác định điều đó khi Người nói: “Tôi là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6).

Vì thế, Đức Giêsu mời gọi ta: “Anh em hãy học với tôi” (Mt 11,29). Học với Đức Giêsu để biết, không phải chỉ một số kiến thức, nhưng đạt tới nguồn sự khôn ngoan. Lúc đó ta có khả năng vô tận để khám phá ra vạn vật vì tất cả thụ tạo được dựng nên nhờ Người và cho Người.

Học với Đức Giêsu để hành động như Người đã làm khi yêu thương đến nỗi chết cho tất cả và sống lại vì tất cả. Lúc đó ta có khả năng để nói cho gió im, biển lặng, bánh cá hoá nhiều, chữa lành bệnh tật và cho cả kẻ chết được sống lại.

Học với Đức Giêsu bài học sống với tha nhân cách quảng đại và cao thượng như Người yêu cầu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Lúc đó ta sẽ làm cho cộng đồng nhân loại bình an, hạnh phúc, phát triển vững bền.

Học với Đức Giêsu để khẳng định mình, không phải chỉ làm chủ được mình và tìm ra ý nghĩa của đời mình, như một con người sống tạm bợ ở trần thế, nhưng ta còn khẳng định mình là con cái vĩnh hằng của Thiên Chúa trong Nước Trời mà chúng ta cùng xây dựng với Người (x. Lc 11,20; 17,20-21).

4. Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân

Tôi xin chia sẻ với các bạn kinh nghiệm học hành của đời tôi như một bằng chứng cụ thể. Hy vọng có thể giúp các bạn nào muốn thăng tiến việc học hành của chính mình hay của người khác.

Tôi sinh năm 1948 ở miền quê Thái Bình rồi trở về Hà Nội sống với gia đình. Tôi học lớp mẫu giáo ở Nhà Thờ Hàm Long, Hà Nội, rồi theo gia đình vào Nam năm 1954. Tôi qua bậc tiểu học ở Trường Tiểu học Phú Thọ, quận 11, Tp.HCM với Thầy Toàn (lớp Ba), Cô Nghĩa (lớp Bốn ), Thầy Long (lớp Năm). Sau đó, tôi qua bậc Trung học với kỳ thi Trung học Đệ Nhất Cấp (hạng Bình thứ), Tú tài Một (hạng Bình Thứ), Tú tài Hai (Ban D, hạng Bình Thứ). Tôi vào học đại học ở Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt và tốt nghiệp cử nhân Triết học năm 1969. Sau một năm đi dạy học ở các trường Hồng Lĩnh, Tấn Đức vùng Bình Giả, tôi học tiếp 4 năm khoa thần học ở Giáo Hoàng Học Viện và tốt nghiệp cử nhân năm 1975. Theo đánh giá chung, tôi không phải là một người có trí khôn xuất sắc, có số IQ cao, nhưng chăm chỉ làm việc và cố gắng đưa những điều mình học được vào đời sống.

Từ năm 1975, tôi vào làm việc tại Công ty Ấn loát Nguyễn Bá Tòng, ở 63 Bùi Thị Xuân, Quận1 cho đến năm 1978 thì Nhà Nước tiếp quản công ty này để biến thành Nhà Máy In Tổng Hợp Thành phố HCM và LIKSIN (viết tắt của từ Liên hiệp Khoa học Sản xuất IN). Tôi thi đỗ bậc thợ chuyên môn 5/7 và làm việc tại Tổ Sắp chữ máy Monophoto trong suốt 21 năm, từ từ lên bậc thợ 6/7, 7/7, rồi lên bậc chuyên viên 1/8 đến nấc cuối cùng là 6/8. Trong tư cách là Tổ Trưởng sản suất, tôi có trách nhiệm phải sửa chữa hệ thống máy sắp chữ này khi bị hỏng, thay thế các bộ phận hư hao, tìm ra các nguyên lý vận hành, vì đây là giàn máy hiện đại độc nhất ở Đông Nam Á thời đó do nước Anh sản suất và các kỹ sư người Anh phụ trách máy đã bỏ về nước từ năm 1975.

Các bạn biết tôi không phải là một kỹ sư cơ khí, nhưng vì trách nhiệm nên phải nghiên cứu hệ thống máy mình phụ trách, sửa chữa và làm chạy lại tất các các máy trong hệ thống (11 máy), tìm ra nguyên lý chữ của Công ty Monotype, làm được những khuôn matrix chữ mới… Tất cả đều nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Sau này, tôi được các Đại học mời làm Thỉnh giảng viên: dạy 16 năm tại Đại học Sư phạm Kỹ Thuật Tp. HCM, khoa Kỹ Thuật In, 3 năm tại Đại Học Kiến trúc, Khoa Mỹ thuật Công nghiệp và 2 năm tại Đại Học Tổng Hợp Tp. HCM, Khoa Ngữ văn Báo chí với nhiều công trình nghiên cứu[342]. Tất cả đều nhờ sự cố gắng học hỏi và làm việc trong sự soi sáng của Người Thầy Giêsu và Thánh Thần của Người.

Tôi cũng dạy “chui” cho các chủng sinh già của giáo phận Vinh, Thái Bình, Bùi Chu trong những năm còn chưa được phép mở các đại chủng viện và đào tạo họ trở thành các linh mục. Trong 40 chục năm gần đây, tôi dạy môn Kitô học, Truyền giáo học, Hội nhập Văn hoá cho các học viện Công Giáo tại Tp.HCM và càng cảm nghiệm hơn sự soi sáng của Thầy Giêsu cho công trình đào tạo của Người. Thầy gửi cho tôi những chỉ dẫn, chia sẻ cho tôi những hiểu biết về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật để tôi có thể trợ giúp anh chị em tôi về nhiều lĩnh vực quá mới lạ đối với tôi, nhất là những người nghiện ma tuý và nhiễm HIV. Ngài cũng giúp tôi chuyển lời Người thành những bài giảng, những cuốn sách[343], những bản dịch[344] để chúng hấp dẫn hơn với các anh chị em khác.

Trong 10 năm làm Thư ký thường trực của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, thay mặt cho Hội đồng để dự các hội nghị quốc tế ở nhiều nước trên thế giới, tôi càng cảm nghiệm được mình cần đến ơn soi sáng của Chúa như thế nào. Trong 15 năm qua, tôi trực tiếp lo cho sức khoẻ, giúp đỡ những người nghèo, người nghiện ma tuý, người khuyết tật và trẻ mồ côi trong lĩnh vực y tế. Vài năm gần đây, chúng tôi đã đưa phương pháp neurofeedback (phản hồi thần kinh) với hệ thống máy Brainmaster do các nhà bác học Hoa Kỳ phát minh để chữa cho những trẻ tự kỷ và người bệnh tâm thần[345]. Chúng tôi đã cộng tác với các trường Đại học và càng cảm nghiệm được rằng khi chúng ta biết cộng tác với ơn Chúa, không có gì là không thể làm được.

Những chia sẻ này chỉ muốn diễn tả lòng biết ơn chân thành của tôi với người Thầy tuyệt vời nhất và bạn cũng đang được mời gọi tham dự vào lớp học tình thương của Người.

Lời kết

Vì thế, chúng ta hãy tin tưởng tuyệt đối vào Thầy Giêsu để chăm chỉ học hành và thực hiện lời dạy của Người trong mọi hoàn cảnh đời sống: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Chỉ Thầy mới có những lời ban sự sống” (Ga 6,68).

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn có nhận định gì về nền giáo dục của nước ta hiện nay?

2. Bạn có kinh nghiệm nào khi học với Thầy Giêsu?

3. Bạn có kinh nghiệm nào về sự soi sáng của Chúa Thánh Thần và ân huệ của Ngài?

4. Bạn học để làm gì?

5. Bạn nghĩ mình có thể thay đổi cách học như thế nào cho có kết quả hơn?

Bài 19 ; Nói lời cứu độ

Lời mở

Chúng ta sắp mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Nhiều nơi trên khắp thế giới người ta tổ chức Lễ hội Giáng Sinh, trưng bày những cây thông Noel với đèn sao rực rỡ, trao gửi thiệp mừng và quà tặng cho nhau để biểu lộ niềm vui. Nhiều tín hữu Công Giáo cũng hoà theo niềm vui đó. Nhưng ít người hiểu biết và cảm nhận được “niềm vui trọn vẹn” (x. 1Ga 1,4) của người tín hữu vì “Ngôi Lời sự sống” (x. 1Ga 1,1) mặc lấy thân xác con người, hoà nhập vào vũ trụ để biến đổi tất cả và cho tất cả được tham dự vào sự sống Thiên Chúa của Người. Kể từ đó lời nói của Kitô hữu không chỉ là những âm thanh, tiếng nói của con người mà có thể biến thành lời cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa.

1. Tiếng nói trong lịch sử con người

Xét theo lĩnh vực thông tin, người ta chia lịch sử văn minh của loài người thành 4 thời kỳ: tiếng nói (40.000 TCN – 4.000 TCN), chữ viết (4.000 TCN– 1000), ấn loát (1000-1900), tin học (thế kỷ XX – nay). Thời kỳ sau bổ túc cho thời kỳ trước và mỗi thời kỳ tiếp tục tồn tại và phát triển, như chúng ta đang ở trong thời kỳ tin học nhưng vẫn dùng tiếng nói, chữ viết, sách báo in để truyền thông tin cho nhau[346].

Con người, ngay từ khi xuất hiện trên mặt đất, đã biết kêu hú, la hét như nhiều sinh vật khác, nhưng càng ngày tiếng kêu càng phát triển, cải tiến để trở thành phương tiện diễn tả tình cảm, ý nghĩ của mình.. Tiếng kêu chỉ trở thành lời nói nhờ những con người biết suy tư (homo sapiens) xuất hiện cách đây khoảng 195.000 năm trước Công nguyên. Ngày nay nhiều sắc dân trong các vùng rừng rậm ở Nam Mỹ, châu Phi, châu Úc vẫn còn sống trong giai đoạn tiếng nói sơ khai như đồng bào Rục ở Việt Nam. Ngôn ngữ của họ, với khoảng 500 – 1000 từ, chỉ đủ diễn tả những sinh hoạt bình thường chứ không thể bày tỏ những cảm tình sâu xa và tư tưởng cao đẹp như tiếng nói của một số dân tộc văn minh khác[347].

2. Tiếng Việt trong lịch sử dân tộc

Dân tộc Việt gồm các bộ tộc sống trong những hang động ở miền núi phía Bắc cách đây hơn 4000 năm, từ thời Hồng Bàng cho đến 18 đời Vua Hùng, đã có tiếng nói và chữ viết riêng[348]. Trước bạo lực và thủ đoạn đồng hoá của người Trung Quốc, dân tộc Việt vẫn giữ nguyên được tiếng nói của mình trong suốt hơn 1000 năm bị đô hộ và đã phát triển thành một ngôn ngữ phong phú với trên 41.000 từ như hiện nay[349].

Người Việt luôn nhắc nhở nhau bảo tồn quốc ngữ vì “tiếng Việt còn là nước ta còn”, dạy bảo con cháu “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, cần phải “học ăn, học nói, học gói, học mở”, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”…[350]. Nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) trong bản tình ca Tiếng Nước tôi đã diễn tả tiếng Việt thấm nhập vào lòng người qua tiếng ru của mẹ, tiếng hò, tiếng hát của bao người trong cộng đồng xã hội và qua chính những lời nói tốt đẹp, trong sáng trong ngôn ngữ thường ngày của mỗi con người, thay vì những lời thô lỗ, tục tằn, nói dối, nói xấu như đang xảy ra trong đời sống hiện nay:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời

Mẹ hiền ru những câu xa vời.

À à ơi, tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi,

Nước ơi…[351]

Nhiều người Việt chưa ý thức tầm quan trọng của tiếng Việt trong việc gìn giữ và bảo vệ đất nước, trong việc hun đúc tinh thần dân tộc, trong việc phát triển tiếng Việt và chữ Việt giữa cộng đồng nhân loại. Có những đứa trẻ Việt sống trên đất nước mà phải dùng tiếng Anh, tiếng Pháp để nói với cha mẹ. Có những người Việt ở nước ngoài không nói được tiếng Việt vì cha mẹ chúng không còn biết đến quê hương. Rất nhiều người trẻ Việt Nam đang dùng những kiểu nói lai căng, lố lăng, sống sượng để thông tin cho nhau qua những dòng tin nhắn, mà không ngờ đang phá huỷ, hạ thấp tiếng nước mình.

3. Để nói nên lời

Có lẽ ta nên tìm hiểu sơ qua con người làm gì để nói nên lời. Từ nhiều thế kỷ qua, khoa học đã tìm hiểu tại sao con người biết nói và có ngôn ngữ riêng. Nhiều lý thuyết đã được nêu ra nhưng chưa làm sáng tỏ vấn đề. Năm 2009, một số nhà khoa học Hoa Kỳ đã nói đến sự đột biến gen FOXP2 khiến con người có thể nói chuyện, tạo ra ngôn ngữ, trong khi loài khỉ, chỉ biết kêu la[352].

Ngày nay, số trẻ tự kỷ không biết nói hoặc nói những từ vô nghĩa ngày càng tăng. Cách đây hơn 30 năm, cứ 3.500 trẻ sinh ra mới có 1 trẻ tự kỷ, 20 năm có 1/1.500 trẻ, hơn 10 năm trước có 1/500 trẻ. Hiện nay ở Hoa Kỳ cứ 58 trẻ sinh ra có 1 trẻ tự kỷ, ở Việt Nam là 68 trẻ có 1 trẻ tự kỷ. Chúng tôi đang nghiên cứu để chữa cho nhiều em chậm nói và thấy rằng để nói ra được một lời, con người phải thực hiện rất nhiều công việc, nhất là bộ não với các vùng vỏ não khác nhau.

Sự phát triển lời nói và ngôn ngữ là yếu tố sống còn cho khả năng tương tác với những người xung quanh của đứa trẻ. Một đứa trẻ sơ sinh bắt đầu hiểu các từ và các mệnh lệnh căn bản từ rất lâu trước khi đứa trẻ đó biết nói và học các kỹ năng về suy nghĩ và ngôn ngữ bằng cách bắt chước. Cha mẹ và những người chăm sóc cho trẻ càng nói chuyện với trẻ nhiều thì đứa trẻ càng phát triển về âm thanh và ngôn ngữ. Cùng với việc phát triển sự hiểu biết về thế giới, ngôn ngữ giúp đứa trẻ phát triển các kỹ năng khác như suy nghĩ, lý luận, hành động, giải quyết vấn đề[353].

Nhiều phụ huynh không dành thời giờ nói chuyện với trẻ. Nhiều người muốn tránh cho chúng phá phách, quấy khóc nên bật máy Ipad hay điện thoại cho chúng xem hình, trò chơi. Vì thế, nhiều trẻ không biết nói, nghe và hiểu được như các trẻ bình thường.

Để nói nên lời, trước hết con người thu nhận tất cả những âm thanh và lưu trữ chúng ở vùng vỏ não thính giác. Để phân biệt được tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu khác với từ “chó”, “mèo”, cần có sự trợ giúp của vùng vỏ não ngôn ngữ Broca. Vùng ngôn ngữ Wernicke giúp hiểu ý nghĩa của từ “chó”, “mèo” là các con vật. Vùng ngôn ngữ Geschwind nối kết 2 vùng Broca và Wernicke để từ “chó” được phát âm gắn liền với nghĩa “một sinh vật” chứ không phải là khẩu súng (chó lửa). Vùng vỏ não thị giác ở phía gáy lưu trữ tất cả các hình ảnh về chó, về mèo. Thể Tam giác ở phần não trắng lưu giữ các hoàn cảnh và từ ngữ “chó” dùng như thế nào. Vùng vỏ não vận động trên đỉnh đầu khởi động quá trình nhận thức hoặc cử động tay, chân, môi, lưỡi, răng để nói được từ muốn nói. Vùng điều hành trung tâm ở trán sẽ tổng hợp tất cả hoạt động của các vùng, kể cả cảm xúc về con chó, con mèo. Rồi lệnh từ trung tâm điều khiển đến thanh quản, khiến con người nói lên câu: “Con chó của tôi”[354].

Như thế, lời nói là một sản phẩm trí tuệ kỳ diệu, chỉ con người mới có thể thực hiện được trong muôn loài đang sống trên mặt đất này.

4. Lời của Thiên Chúa

Trong lịch sử các tôn giáo, người ta kể nhiều chuyện về việc thần linh giao tiếp với con người, soi sáng và dạy dỗ họ nhiều điều. Những lời dạy của thần linh, của Thiên Chúa có một giá trị siêu việt, cao cả mà con người phải tuyệt đối vâng theo. Thiên Chúa còn chọn ra một số người xứng đáng, soi sáng cho họ biết những ý định của mình và nhờ họ chuyển lời của mình đến cho dân tộc hay cho những con người khác. Vào thời điểm cuối cùng, Thiên Chúa sai Con Một của mình đến nói trực tiếp với con người để ai tin vào Người Con đó sẽ được cứu độ, được trở thành con cái Thiên Chúa và được sống mãi mãi như Thiên Chúa (x. Dt 1,1-2).

Người Con Một đó là Ngôi Lời Thiên Chúa đã tự nguyện trở thành người, mặc lấy thân xác người phàm để đưa bản tính Thiên Chúa vĩnh hằng, hạnh phúc vô tận, quyền năng vô biên, sự sống phi thường vào trong con người hữu hạn, vô thường, đau khổ và chết chóc này. Đó là lý do tại sao người Kitô hữu mừng lễ Chúa Giáng Sinh: vì lời Thiên Chúa đã trở thành Đức Giêsu Nazareth và ở giữa chúng ta (Ga 1,14). Sự kiện này đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm và người Kitô hữu vẫn cử hành kỷ niệm này.

Tuy nhiên, theo dòng lịch sử, người Kitô hữu quá tập trung vào ý nghĩa của Lời Chúa, như những tiếng nói, được ghi lại trong các cuốn Thánh Kinh Cựu-Tân Ước, quá tập trung vào các nghi lễ, bí tích, rồi trong những năm gần đây họ cũng hăng hái học hỏi, suy niệm để “Sống Lời Chúa”. Đường hướng sống này càng làm họ xa rời Đức Giêsu vì không gặp được Người như một Thiên Chúa sống động cụ thể đang hiện diện giữa con người và vạn vật, mà chỉ tìm thấy những ý nghĩa trừu tượng của chữ viết trong cuốn Thánh Kinh, được giải thích qua một con người hay một thánh nhân.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhiều lần nhắc đến lầm lẫn này khi trưng dẫn câu nói của Giáo hoàng Bênêđictô XVI: “Khi nói đến Tin Mừng, chúng ta không được chỉ nghĩ về nó như là một cuốn sách hay một tập hợp những lời giáo huấn. Tin Mừng là một cái gì nhiều hơn nữa, nó là một lời sống động và linh nghiệm, nói điều gì thì điều đó trở thành hiện thực. Tin Mừng không chỉ là một hệ thống các điều khoản đức tin và giới răn đạo đức… mà là một con người. Đó là Đức Giêsu Kitô, Lời của Thiên Chúa đã làm người…”[355].

Khi người tín hữu tin vào Đức Giêsu và kết hợp mật thiết với Người, họ được trở thành chi thể trong thân thể mầu nhiệm, trở thành chính Lời Thiên Chúa cho mọi người. Họ nhận được sức mạnh, quyền năng, tình yêu, ân sủng vô tận của Chúa Giêsu chuyển thông cho họ, để từng lời nói của họ có sức sáng tạo của Chúa Cha, sức cứu độ của Chúa Con và sức thánh hoá của Chúa Thánh Thần. Giống như Chúa Giêsu, lời của họ không còn là lời tự nhiên của con người, nhưng trở thành Lời sự sống, Lời sự thật, Lời cứu độ, Lời Tin Mừng như Chúa Giêsu. Lời đó phán ra có thể làm cho bánh cá hoá nhiều, gió yên biển lặng, chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ, làm cho cả kẻ chết sống lại như đã chứng minh trong đời sống của các tông đồ và môn đệ Chúa Giêsu.

5. Nói lời cứu độ

Muốn nói được những lời như thế, người tín hữu phải chuẩn bị những gì? Mẹ Maria là mẫu gương tuyệt vời nhất có thể dạy cho ta biết phải làm gì.

Trước hết, ta phải mở lòng ra cho Chúa Thánh Thần, phải thở hít được Thần Khí của Chúa Giêsu Phục Sinh đã thổi trên các môn đệ. Khi đón nhận được Thần Khí là Chúa Thánh Thần, ta biến đổi mình từ con người tầm thường, tội lỗi, ngu dốt trở thành người phi thường, thánh thiện như các môn đệ thời xưa để đi đến đâu, các ngài làm phép lạ đến đó (x. Mc 16,15-20).

Trong cuộc sống thường ngày, ta thở khí tự nhiên. Nhiều người chỉ chú ý đến ăn, nhưng chúng ta có thể nhịn ăn 30-40 ngày mới chết. Nước cần hơn mà chúng ta lại không chú ý đến, chúng ta có thể nhịn tối đa 3-4 không uống nước. Khí thở quan trọng nhất, chúng ta chỉ có thể nhịn tối đa 4 phút mà thôi và mỗi ngày chúng ta cần tối thiểu 10 ngàn lít không khí, trong khi chúng ta chỉ cần 1,5kg lương thực và 3-4 lít nước.

Từng giây phút ta cần oxy để biến dòng máu đen thành dòng máu đỏ nuôi sống từng tế bào. Khí tự nhiên rất cần trong đời sống, nhưng khí siêu nhiên là Chúa Thánh Thần còn cần hơn nữa vì biến đổi dòng máu đen tội lỗi thành dòng máu đỏ tinh tuyền của Chúa Giêsu. Muốn nói lời nào đó, ta phải hít khí vào trong buồng phổi, khi thở ra khí sẽ qua thanh quản để phát ra lời. Lời Chúa cũng vậy, ta phải hít linh khí vào trong người thì mới có thể phát ra lời sự sống như Chúa Giêsu. Vậy ta đã thở được Thần Khí đó chưa?

Như Mẹ Maria đã mở lòng ra cho Chúa Thánh Thần để Ngôi Lời hình thành trong lòng Mẹ, từ đó Mẹ sinh Chúa Giêsu cho thế giới. Ta cũng mở lòng ra như Mẹ: dâng hồn xác, mọi phương tiện vật chất cũng như tinh thần để hình thành nên Chúa Giêsu trong lòng ta. Khi nói Lời Chúa là ta sinh Chúa Giêsu cho người khác và thế giới. Vì thế ta phải tránh lời nói tục, nói dối, nói xấu, lời bất hoà, gây chia rẽ, làm thương tổn con người. Trong cơn nóng giận, ta đừng vội nói ngay. Hãy bình tâm vài giây để hít thở dài hơi và nói thầm: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí của Chúa cho con”. Nhờ thở như thế, nhiều khí oxy trong máu đưa lên não làm cho ta bình tĩnh lại, ta sẽ không nói theo cơn giận và làm chủ được lời nói của mình.

Đi xa hơn nữa, khi bắt đầu thở được Thần Khí của Chúa, lời của ta có thể làm cho người khác được chữa lành, được giải thoát khỏi ma quỷ. Đó là ơn mà Chúa Giêsu ban cho khi Người sai chúng ta: “Anh em hãy đi khắp nơi loan báo Tin Mừng, đặt tay chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ” (x. Mc, 16,15-18), bởi vì ta là hiện thân của Ngôi Lời Sự sống cho thế giới này.

Lời kết

Vì thế, gắn bó với Chúa Thánh Thần như Chúa Giêsu, chúng ta cố gắng chỉ nghĩ điều tốt đẹp, chỉ nói lời chân thành, chỉ làm việc chính đáng.

Câu hỏi gợi ý

1. Trong giao tiếp hằng ngày, bạn đang nói lời gì: nói dối, nói điêu, nói khoác, nói kháy, nói láo, nói ngang, nói quanh, nói suông, nói thách, nói tục, nói xấu, …hay nói ngon, nói ngọt, nói thật, nói tốt, nói thẳng, nói thầm, nói xa, nói gần…?

2. Bạn làm gì để sửa đổi lời nói của mình thành lời sự thật và sự sống, lời tạo nên niềm vui, hy vọng và cứu độ cho người khác?

Bài 20: Chữ cũng là người

Lời mở

Sống trong thời đại tin học, nhiều người ít quan tâm đến chữ viết tay vì chỉ cần gõ trên bàn phím của chiếc điện thoại hay máy vi tính là có thể gửi thư cho nhau rồi[356], hoặc chỉ cần ra lệnh cho máy in bàn là người ta có một văn bản đẹp với đủ loại kiểu dáng chữ in. Hơn nữa, vì cuộc sống vội vã, nên những gì cần viết tay, người ta thường viết rất nhanh, đường nét không chuẩn, dấu chữ đặt sai vị trí, nhưng vẫn có thể đọc được vì đã quen với chữ Việt và tiếng mẹ đẻ của mình. Trầm trọng hơn cả là người ta coi thường văn phạm trong những văn bản trên báo chí, truyền hình, sách vở, dùng những từ thông tục và thường đánh dấu các từ không chính xác theo ngôn ngữ học. Người Việt chúng ta hiện nay quả thật ít quan tâm đến văn hoá chữ viết và quên rằng chữ cũng là người!

1. Câu chuyện thực tế

Tôi làm giảng viên dạy môn Kỹ thuật Chữ cho các sinh viên ở khoa Công nghệ In của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, ở khoa Mỹ thuật Công nghiệp của trường Đại học Kiến Trúc TP.HCM, ở khoa Ngữ văn Báo chí của trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, cũng như các môn khác trong các học viện Công Giáo ở TP.HCM trong nhiều chục năm qua. Tôi đã thử cho các sinh viên viết 4 câu thơ sau đây trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Trong hơn 5.000 sinh viên tôi mời thử nghiệm, trong lần viết đầu tiên, chưa có một ai viết đúng chính tả và đặt dấu giọng chính xác. Họ thường sai ở một số lỗi chính tả khi đặt dấu hỏi ( ?) cho từ cõi, hay đặt dấu ngã (~) cho từ trải. Hầu hết là họ đánh dấu giọng sai vị trí: những dấu đó thường được đánh vào chữ sau, đặt lên trên các phụ âm, hay đánh vào phía sau từ chứ không trên nguyên âm hay phụ âm nào[357]. Người Việt chúng ta vì quen từ quen mắt nên đọc ra ngay được, nhưng đối với người nước ngoài đã học cách đánh dấu đúng chữ Việt, họ không thể nào hiểu từ đó là gì và tại sao lại đánh dấu như thế. Thí dụ: “Trăm năm trong coĩ ngươì ta…”.

2. Các em học sinh lớp 1 học viết tiếng Việt như thế nào?

Trở lại câu chuyện giáo dục, từ bao nhiêu năm nay, các thầy cô dạy tiếng Việt cho các em học sinh lớp 1 bậc tiểu học, vẫn dạy cách đánh dấu giọng hay dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) phải đặt trên nguyên âm chứ không đặt trên phụ âm (x. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tiếng Việt lớp 1, 2 tập , NXB Giáo dục Việt Nam, 2018).

Ngay từ bài đầu tiên của sách Tiếng Việt lớp 1, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các thầy cô dạy các em học sinh viết chữ với những nét chính, nét phụ theo các đường căn bản như đường nền, đường chữ hoa, đường chữ thường, đường trên, đường dưới, phân biệt chữ in và chữ viết tay[358].

Khởi đầu với những từ có 1 nguyên âm như: bé bè bẻ bẽ bẹ (Bài 3), đến 2 âm như: mía, bìa, hoặc 3 âm như: chiều, chuối, bưởi, diều, rượu (Bài 35-42), rồi đến các vần có âm tiết cuối với 1 nguyên âm như bàn, sàn (Bài 44), đến 2 nguyên âm như điện, yến, chuồn chuồn (Bài 50) hoặc hai âm tiết cuối như: võng, luống, trường (Bài 56). Những bài sau cùng dành cho các vần khó như hoa, hoà, xoè, khoẻ (Bài 91), hoặc thoại, xoay (Bài 92), hoài, hoàng, hoằng (Bài 94), hoạt, choắt (Bài 96), hoặc huệ, huý (Bài 98), hay thuở, khuya (Bài 99).

Chắc chắn ở tuổi 6,7 các em chưa thể phân biệt được các chữ i, o , u trong một số vần lúc này là nguyên âm, lúc khác là bán phụ âm theo khoa ngôn ngữ học hiện đại. Nhưng các bài dạy trong giáo trình Tiếng Việt lớp 1 là hoàn toàn chính xác, dù các em học theo phương pháp của Bộ Giáo dục hay theo phương pháp Công nghệ Giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại[359].

3. Người lớn chúng ta hiện nay đánh dấu ra sao?

Dù Việt Nam chúng ta đã có Viện Ngôn ngữ học, với những cuốn từ điển Tiếng Việt được coi như quy chuẩn cho việc sử dụng từ ngữ và viết chữ. Thí dụ như Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do giáo sư Hoàng Phê chủ biên[360], Từ điển Bách khoa Việt Nam[361] do Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn. Nhưng việc dùng từ ngữ và nhất là cách đánh dấu giọng trên các từ vẫn còn rất tuỳ tiện.

Hơn nữa, chúng ta còn có Quyết định số 240/QĐ ngày 5/3/1984 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành kèm theo bản “Quy định về Chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt”[362], và Quyết định số 09/1998QĐ-VPCP, ngày 25/11/1998 của Văn phòng Chính Phủ về cách viết hoa các tên riêng[363]. Tuy dù các văn bản pháp quy đó rất rõ ràng và cụ thể, nhiều văn bản của chính quyền cũng như của các tổ chức xã hội dân sự vẫn chưa giữ đúng các quy định đó. Các văn bản thường đánh sai dấu trên các vần oa, oe, uê, uơ, uy (Thí dụ: trong các từ hóa, lóe, hụê, thủơ, thúy,) vì không phân biệt được các chữ a, e, i, o, u, y có thể là nguyên âm và cũng có thể là bán phụ âm.

Chúng tôi đã phân tích vấn đề và đã trình bày trong cuộc Hội thảo Khoa học ở Bình Định, từ ngày 12-13/1/2016, với chủ đề Bình Định với chữ Quốc ngữ[364]. Cách đặt dấu giọng sai sót này đang phổ biến và lan rộng trong các sách vở, báo chí, truyền hình. Nó đi ngược với sự chuẩn hoá của tiếng Việt theo đúng khoa ngôn ngữ học được Nhà nước quy định. Nó cũng biểu lộ tính phân hoá của người Việt Nam, thái độ coi thường pháp luật và không tôn trọng khoa học của người Việt Nam, khiến cho người nước ngoài đánh giá thấp giá trị tiếng Việt và chữ Việt.

Nguyên nhân: thái độ này bắt nguồn từ những dữ liệu trong lịch sử như cách đánh dấu giọng chưa chính xác trong các cuốn từ điển như Từ điển Việt La của giám mục Adran biên soạn năm 1771-1772, của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, Từ điển Việt Pháp của A. Caspar Lộc xuất bản năm 1877, và của J.M. Génibrel năm 1898, cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của xuất bản năm 1895-1896, cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý và các bạn xuất bản năm 2013, và một số từ điển Tiếng Việt mới đây của Viện Ngôn ngữ do Hoàng Long chủ biên xuất bản năm 2007 hay do Quang Hùng, Minh Nguyệt biên soạn xuất bản năm 2007. Sự xuất hiện của các từ điển này đã gây rối loạn trong cách viết tiếng Việt hiện nay[365].

4. Văn hay chữ tốt

Cha ông ta thường nhắc nhở: văn hay chữ tốt, chứ không phải văn hay chữ đẹp. Có những người viết chữ rất đẹp giống như ông đồ xưa:

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay[366]

Tuy nhiên, nhìn nét chữ của người đó người ta có khi chỉ thấy tính bay bướm, ăn chơi phóng đãng của họ chứ không biểu lộ tâm hồn cao thượng, tốt đẹp . Vì thế người ta cần viết chữ tốt hơn là chữ đẹp. Văn là người và chữ cũng là người!

Khoa tâm lý học hiện đại đã căn cứ vào những nét chữ viết tay để đoán ra tâm tính, tư cách, tài năng của con người. Người ta áp dụng việc phân tích nét bút của người viết trong các ngành tuyển dụng nhân sự, lựa chọn nghề nghiệp, giám định tư pháp. Các nhà tâm lý học còn cho rằng có sự liên hệ, tương quan giữa nét chữ và sức khoẻ tâm lý. Căn cứ vào nét chữ to, nhỏ, đậm, nhạt, nét mạnh mẽ, thẳng đứng hay cong queo, chữ rộng hay hẹp, khoảng cách giữa các từ nhiều hay ít, chiều cao của chữ hoa vừa hay thấp, độ nghiêng của chữ về bên phải hay bên trái… mà người ta có thể đoán ra phần nào khả năng, trí tuệ, tâm tính của người viết[367].

Thật ra, việc phân biệt rõ chính tà, tốt xấu của một người không thể chỉ căn cứ vào chữ viết bên ngoài, dù rằng chữ viết có thể giúp phỏng đoán phần nào khi dùng nó như dấu hiệu. Con người là một mầu nhiệm sau thẳm vô cùng, nên cha ông ta vẫn nhắc nhở:

Dò sông dò biển dễ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người[368].

Người ta có thể sử dụng bút tích như một dấu hiệu để suy đoán, vì những nét chữ hình thành từ những thói quen lâu dài của con người, từ quan điểm về nghệ thuật, từ hoàn cảnh của người viết (cấp bách hay bình thường), từ tâm trạng (thư thái hay bất an). Nếu nét chữ chỉ là một dấu hiệu để suy đoán, thì ta cũng đừng dùng nó như một bằng chứng để quyết đoán về con người. Con người luôn mở ra tới vô biên và nét chữ có thể luôn thay đổi để việc suy đoán của ta không bao giờ tận cùng!

Có lẽ vì muốn cho con cái mình luyện được chữ tốt, nên cha mẹ thời xưa thường thúc giục con cái tập đồ các chữ theo các tập in sẵn để luyện chữ viết cho thẳng hàng, cân đối, hài hoà. Các cháu học sinh lớp 1 hiện nay cũng đang làm như vậy, nhưng nhiều cha mẹ lại ít quan tâm đến việc này, vì chữ viết của họ rất xấu, không dám làm gương cho con cái. Nhiều người viết mà người khác đọc không ra chữ khiến cho thi sĩ Nguyễn Khuyết phải than:

Văn hay chữ tốt ra tuồng

Văn dai như chão, chữ vuông như hòm!

5. Chữ Quốc ngữ – chữ nước ta

Chữ Quốc ngữ hiện nay là chữ ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh, có bổ sung một số dấu phụ của tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, được các linh mục Dòng Tên phương Tây như Francisco de Pina, João Roiz, Gaspar Luis, Cristo Forro Borri, Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Gaspar d’Amaral với sự cộng tác của người Việt Nam như Igesicô Văn Tín, Bento Thiệu sáng tạo ra trong khoảng 1620-1659[369].

Điều đáng ghi nhận ở đây là dù khoa ngôn ngữ học vào thời đó chưa được thành hình, nhưng trong các tác phẩm của Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) như Phép giảng Tám ngày, Văn phạm Annam, nhất là cuốn Từ điển Việt-Bồ-La xuất bản năm 1651 ở Rôma, các dấu giọng được đánh rất chính xác trên các từ như hoá, hoà, hoả (tr.329-330) phân biệt với hào, hảo (tr. 315,316) hoặc trên các từ thuế (tr. 782), lào (tr.402) léo (tr.411) và loã lồ (tr.417) theo đúng với Từ điển khoa Ngôn ngữ học. Riêng vần uy với từ hủy (tr.341) và thủy (tr.783)[370], chúng tôi hiểu rằng những con chữ sắp tay đúc bằng chì thời đó chưa đúc được theo đúng ý của tác giả vì độ đặt dấu “nặng” dưới chữ y (ỵ) không thể thực hiện được như ta thấy tác giả Gustave Hue đã nói đến lý do này trong lời mở đầu cho cuốn Từ điển Việt Hoa Pháp xuất bản năm 1937 của ông ở Huế[371].

6. Vài cách viết nên sửa đổi cho thống nhất

6.1. Đặt dấu giọng trên các vần oa, oe, uê, ươ, uy

Chúng ta không thể nói đến việc đặt dấu giọng sai hay đúng đối với các bậc tiền nhân thuở trước, vì tiếng Việt là một sinh ngữ luôn luôn phát triển và khoa ngôn ngữ học hiện đại mới chỉ có mặt trên thế giới cách đây khoảng 100 năm, và trong nước ta khoảng 50 năm mà thôi. Việc không thống nhất dấu giọng trong các từ điển, sách báo từ thời Alexandre de Rhodes cho đến nay là chuyện bình thường trong việc hình thành và phát triển tiếng Việt.

Tuy nhiên, một khi chúng ta đã có những nguyên tắc rõ ràng của khoa ngôn ngữ học để có cách đánh dấu chuẩn mực, được thể hiện qua các sách giáo khoa và từ điển như bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì chúng ta cần tiến tới sự thống nhất cách đặt dấu giọng trên toàn quốc và phổ biến cả ra nước ngoài để những ai học tiếng Việt tìm được sự trong sáng và hợp lý.

Việc thiếu thống nhất trong cách đặt dấu giọng trên các vần oa, oe, ue, uơ, uy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như do thói quen đánh dấu từ nhỏ, do việc tra cứu các từ điển không đánh dấu đúng theo ngôn ngữ hiện đại. Lý do quan trọng nhất là sự lầm lẫn giữa âm và chữ trong tiếng Việt.

Trong mỗi ngôn ngữ, người ta phân biệt phụ âm và nguyên âm. Tiếng Việt hiện nay có 33 chữ cái: A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z với 5 thanh điệu: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng[372]. Tiếng Việt có khoảng 55 âm vị.

Khi ngôn ngữ học hiện đại chưa phát triển, rất nhiều người Việt cho rằng các chữ a e i o u y đều là những nguyên âm, nên việc phát âm và đặt dấu giọng trên các từ giống như nhau. Thí dụ: từ hào và từ hoà gồm hai “nguyên âm” a và o, vì thế đặt dấu giọng vào giữa là giống nhau và hợp lý nên viết “hào” và “hòa”. Tương tự, các vần eo và oe với từ héo và hoè với hai “nguyên âm” e và o nên viết “héo” và “hòe”; vần iu và ui, uy với từ thiu, thúi, thúy vì cho rằng đó là các “nguyên âm” i, u và y. Khi đặt dấu giọng như thế, người ta thấy cân đối và đẹp nữa. Nhưng khi gặp vần êu và uê với từ tếu và tuế, người ta lại đặt dấu giọng khác nhau dù vẫn là “nguyên âm” ê và u. Các từ điển đều đặt dấu giọng ở âm sau trên các từ huệ, huề, Huế, cũng như khi gặp vần uơ trong từ thuở. Người ta không còn đưa ra lý do cân đối mà giải thích theo thói quen, như ta thấy đa số trong các từ điển, sách báo và trên các phương tiện truyền thông hiện nay.

Với ngôn ngữ học hiện đại, người ta phân biệt các chữ a e i o u y có thể là nguyên âm nhưng cũng có thể là bán nguyên âm (hay bán phụ âm) tuỳ theo cách đọc từ của mỗi dân tộc. Mỗi từ trong tiếng Việt được gọi là âm tiết. Đây là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất của lời nói. Âm tiết trong tiếng Việt gồm âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu được biểu lộ thành không dấu hay dấu giọng. Theo truyền thống, âm tiết tiếng Việt được chia thành 2 phần: âm đầu và vần. Căn cứ vào phương thức kết thúc, âm tiết tiếng Việt được phân thành bốn loại: âm tiết mở, âm tiết nửa mở, âm tiết nửa khép và âm tiết khép.

Trong tiếng Việt có 2 bán nguyên âm: /w/ và /j/ có đặc tính giống như nguyên âm /u/ và /i/ nhưng được phát âm lướt, không mở đầy đủ như /u/ và /i/ [373]. Dấu giọng chỉ được đặt trên nguyên âm của một từ, vì khi “nguyên âm kết hợp với các âm tố khác, nó luôn tạo thành đỉnh của vần”[374].

Trong các vần oa oe, uê, uơ, uy người ta không phân biệt được các âm đầu (chữ o và u) chỉ là bán nguyên âm /w/, còn các âm sau mới là nguyên âm và là âm chính, nên dấu giọng phải đặt trên nguyên âm này. Trong từ hoà /hwà/: chữ o là bán nguyên âm nên dấu giọng phải đặt trên nguyên âm a, còn trong từ hào /hàw/: chữ o là bán nguyên âm.

Tương tự, trong từ héo /héw/: chữ o là bán nguyên âm, còn trong từ hoè /hwè/: chữ o cũng là bán nguyên âm. Trong các từ tếu /tếw/, tuế /twế/ chữ u là bán nguyên âm, nên dấu giọng được đánh trên nguyên âm ê. Trong các từ thìu /θìw/, thúi /θúj/ hai chữ i ở đây rất khác nhau: chữ đầu là nguyên âm, chữ sau là bán nguyên âm /j/, nên dấu giọng được đánh trên nguyên âm i ở từ đầu và nguyên âm u ở từ sau. Nếu so sánh hai từ thúi /θúj/ và thuý /θwí/ ta sẽ thấy hai chữ u rất khác nhau: chữ u trong từ đầu là nguyên âm, chữ u ở từ sau là bán nguyên âm, nên vị trí đặt dấu khác nhau. Trong tiếng Việt, nhiều khi có 3 chữ được coi là nguyên âm viết liền nhau, nhưng phân tích về mặt ngôn ngữ học, ta chỉ thấy có 1 nguyên âm hay nguyên âm đôi. Thí dụ: ngoài /ηwàj/, tiêu /tiêw/, điều /điềw/.

Chính vì dựa trên cách phiên âm theo ngôn ngữ học hiện đại mà Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ và bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặt dấu giọng trên các nguyên âm trong các vần oa, oe, uê, uơ, uy như trong các từ hoà, hoả, hoá, hoạ, hoè, huệ, thuỷ, thuở. Khi đặt đúng dấu giọng như thế chúng ta mới giải thích cho những ai học các ngoại ngữ thấy sự hợp lý của các dấu giọng trong tiếng Việt.

Các âm trong từ còn được đo lường bằng dụng cụ để xác định đó là âm tiết chính hay âm đệm, mở hay khép, nửa mở hay nửa khép. Phụ âm còn được chia theo vị trí cấu âm thành âm môi-môi, môi-răng… hay theo phương thức cấu âm thành âm tắc, âm xát, âm tắc xát, âm rung, âm bật hơi…vì ngôn ngữ học hiện đại là một khoa học chính xác, căn cứ trên dữ liệu thực tế chứ không phải do thói quen hay do kiểu viết cân đối cho đẹp mắt. Ta có thể cảm nghiệm và phân biệt giữa nguyên âm và bán nguyên âm bằng cách khi đọc các vần oa, oe, uê, uơ, uy, môi và miệng chúng ta bó buộc phải chụm lại giống như nhau và đọc lướt nên đó là bán nguyên âm /w/.

Nếu so sánh với tiếng Anh ta cũng thấy có sự tương tự. Nhiều người Việt Nam cảm thấy khó phân biệt các âm với chữ viết, nhất là đối với bán nguyên âm /w/ và /ju/ trong các từ bắt đầu bằng chữ o hay u. Thí dụ: chữ o trong các từ onus, onyx, opinion… là nguyên âm, trong khi chữ o trong các từ one, once,.. là bán nguyên âm /w/. Hoặc chữ u trong các từ ulcer, umbrella, unbelief, unguis … là nguyên âm /ᴧ/ trong khi chữ u trong các từ unit, uniform, unicycle…là là bán nguyên âm /ju/. Điểm phân biệt này khá quan trọng để ta có thể dùng đúng các mạo từ a, an hoặc đọc đúng mạo từ the /ðe/ hay /ði/ trước các từ đó.

6.2. Thống nhất cách viết hoa các tên riêng

– Về cách viết tên riêng tiếng nước ngoài

Chúng ta cần tuân theo đúng Quy định số 240/QĐ, ngày 5/3/1984, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về Chính tả tiếng Việt, về Thuật ngữ tiếng Việt và quy định số 09/1998QĐ-VPCP, ngày 25/11/1998, của Văn phòng Chính phủ về Cách Viết hoa các Tên riêng.

Cụ thể là chúng ta viết nguyên ngữ theo tiếng Latinh, viết liền các âm tiết, không có dấu giọng và cũng không viết phiên âm trong ngoặc đơn. Thí dụ: Marcus, Aurelius, Washington, Bastille. Chúng ta giữ nguyên những địa danh đã được Việt hoá quá quen thuộc như: Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha… Chúng ta giữ hình thức chuyển ngữ sang tiếng Latinh đối với những tên bản ngữ không phải là tiếng Latinh như: Poutine, Araphat, Tagore như đã được Quy định trong các văn bản quốc tế của Liên Hiệp Quốc.

– Đối với các tên riêng của Công Giáo Việt Nam, chúng ta nên theo sát cách viết đã được giới thiệu trong cuốn Từ điển Công Giáo (gồm 2022 mục từ) của Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, xuất bản năm 2019. Thí dụ: Giêsu Kitô, Maria, Clara… thay vì viết Giê-su Ki-tô, Ma-ri-a, Cơ-la-ra…

– Về cách viết hoa các tổ hợp tên riêng

Chúng ta nên phân biệt tổ hợp chữ hoa gồm nhiều thành tố. Viết hoa chữ đầu âm tiết tạo nên tên riêng (yếu tố 1), viết hoa âm tiết đầu của các từ bổ nghĩa (yếu tố 2), viết hoa tất cả các âm tiết tạo nên tên riêng (yếu tố 3). Thí dụ:

Yếu tố 1 Yếu tố 2 Yếu tố 3

Bộ Văn hoá, Du lịch Việt Nam

Văn phòng Chính phủ Việt Nam

Nhà máy Sản xuất Phích nước Hoà Bình

Uỷ ban Công lý và Hoà bình Việt Nam

Hội thánh Tin lành Việt Nam

Ban Loan báo Tin Mừng Giáo xứ Trà Kiệu

Lời kết

Người tín hữu Công Giáo Việt Nam chúng ta có quyền tự hào vì đã đóng góp vào việc phát minh ra chữ Việt và đã chịu biết bao đau khổ, bách hại, thậm chí dâng hiến cả mạng sống để bảo vệ những giá trị văn hoá cao quý của Công Giáo. Tuy nhiên hình như chúng ta chưa biết bảo tồn và phát huy những giá trị của tiếng Việt và chữ Việt: rất nhiều sách báo Công Giáo hiện nay không tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn khoa ngôn ngữ học, chúng ta cũng chưa thúc đẩy việc sáng tác các thơ văn để có nhiều tác phẩm có giá trị văn học. Chúng ta cần cố gắng hơn nữa để khỏi thẹn với cha ông và có trách nhiệm nhiều hơn với thế hệ tương lai.

Câu hỏi gợi ý:

1. Bạn đã quan tâm thế nào với chữ viết của bạn?

2. Bạn nghĩ mình nên làm gì để cổ vũ cho việc phát triển văn học Công Giáo?

Bài 21: Làm tốt cho đời

Lời mở

Rất nhiều người hiện nay, nhất là các bạn trẻ, nghĩ rằng lao động chỉ xứng đáng nếu nó làm ra được nhiều tiền của vật chất, chỉ có ý nghĩa khi dùng tiền của ấy sắm sửa cho mình nhiều tiện nghi: quần áo, xe cộ, nhà cửa… Người ta đã hiểu lầm lao động khi thấy những cầu thủ bóng đá: chỉ chơi vài trận, đã kiếm được hàng tỉ đồng và được báo đài ca tụng như anh hùng của đất nước. Người ta coi thường lao động tay chân hay trí óc khi nhìn những ca sĩ, diễn viên biến hình thành thần tượng dưới ánh đèn sân khấu đủ mầu. Họ chỉ cần hát một bài, diễn một tiết mục ngắn, cũng nhận được cả trăm triệu đồng! Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng đó mới là những nghề nghiệp đáng mình theo đuổi và đó mới là cuộc đời đáng sống! Nhiều người quả thật đã không hiểu được ý nghĩa của lao động.

Vậy lao động là gì? Làm thế nào tìm được nguồn lực để ta làm việc luôn mãi và làm tốt cho đời? Đây mới thật sự là những câu hỏi đáng ta quan tâm.

1. Lao động là gì?

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội[375]. Lao động còn được hiểu là việc làm vụ cụ thể hoặc sức người bỏ ra để tạo ra sản phẩm, như khi ta nói: “trả lương theo lao động”, hoặc “nâng cao năng suất lao động”.

Người ta còn phân biệt Người lao động là người thợ hay nhân công, là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ. Người lao động (ở Việt Nam, theo khoản 1 điều 3 Bộ luật Lao động 2012) là người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Người lao động có thể là người:

– Lao động phổ thông, lao động chân tay như công nhân, thợ, nông dân làm thuê, người giúp việc.

– Lao động trí óc hoặc lao động văn phòng: nhân viên (công chức, tư chức), cán bộ, chuyên gia.

Đối với chính công việc phải làm: người ta cũng phân biệt các loại như lao động giản đơn, lao động phức tạp, lao động lành nghề, lao động cụ thể, lao động trừu tượng, lao động làm thuê, lao động nông nghiệp, lao động thặng dư, lao động theo mùa, lao động quá khứ, lao động xã hội cần thiết, lao động xã hội trực tiếp,[376]… Những từ chuyên môn này nói lên tính cách phong phú và đa dạng của lao động con người.

2. Lao động trong đời sống hiện nay

Ngay từ lúc xuất hiện trên mặt đất, lao động là định luật bắt buộc để bảo tồn sự sống cho muôn loài. Những cây cối, dù to hay nhỏ, đều cố gắng vươn những cành lá ra chỗ có ánh sáng để biến dòng nhựa nguyên, do những chiếc rễ con con mỗi ngày cắm sâu vào lòng đất nước rút ra, thành dòng nhựa luyện nuôi sống toàn thân để đến mùa mới nở hoa thơm, sinh trái ngọt cho đời. Những con ong, con kiến cần cù làm việc từng ngày mới có thể tồn tại và phát triển bầy đàn. Dù trái đất có cung cấp cho chúng đủ loại nguyên vật liệu nhưng nếu không lao động cần cù, chúng sẽ chết khô, chết đói như những chú ve ca hát suốt cả mùa hè[377].

Con người thời sơ khai sống theo bộ lạc cũng lao động không ngừng để bảo tồn sự sống. Công việc được phân chia cho mọi người một cách đồng đều để cùng làm cùng hưởng. Ai không làm thì cũng không đáng ăn, đáng sống, đúng như cha ông ta có câu tục ngữ: “Tay làm hàm nhai, tay quay miệng trễ”. Nhờ lao động, con người tách khỏi giới động vật, thực vật, có thể chế ngự được những sức mạnh của thiên nhiên như lấp sông, phá núi, lấn biển, thuần hoá gia súc để phục vụ mình. Nhờ lao động, con người biết chế tạo ra các công cụ, phát huy khả năng và kiến thức của mình để làm cho đời sống cá nhân được no đủ và xã hội phát triển.

Nhưng khi con người sản xuất ra nhiều hàng hoá dùng không hết, con người bắt đầu trao đổi và có những quan hệ sản xuất với nhau, phân chia công việc để có những loại lao động khác nhau. Con người vượt qua xã hội nguyên thuỷ cùng làm cùng hưởng, sở hữu chung tư liệu sản xuất và sản phẩm để chuyển thành xã hội có sự đối kháng giữa các giai cấp. Giai cấp nào chiếm hữu được nhiều tư liệu sản xuất, có nhiều đất đai, dụng cụ sản xuất thì sẽ sản xuất được nhiều hàng hoá sản phẩm và trở thành giai cấp hùng mạnh và bóc lột giai cấp yếu kém hơn.

Từ đó những loại lao động cần nhiều sức lực thể chất của con người như làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi gia súc và những thợ thủ công như thợ may, thợ rèn, thợ mộc… bị đánh giá thấp so với những loại lao động trí óc của những người lãnh đạo, quản lý, dạy học, chữa bệnh, làm các nghi thức tôn giáo… Những người làm việc tinh thần sống nhàn nhã và được trả lương cao hơn, nên người ta coi trọng lao động trí óc hơn lao động chân tay, dù rằng theo sự phân công trong xã hội cả hai đều cần thiết cho sự phát triển của cộng đồng con người và đáng lý phải được coi trọng như nhau. Con người dần dần thích nhàn nhã, “ăn trắng”, “mặc trơn” và coi thường những người phải làm các ngành nghề vất vả, bẩn thỉu, nguy hiểm như nghề thợ mỏ, nghề quét dọn vệ sinh. Đôi khi do ảnh hưởng của tôn giáo, người ta còn coi thường một số nghề như giết mổ động vật, phối giống động vật, diệt trừ sâu bọ… vì giới luật cấm sát sinh, phải thánh thiện.

Trong một số xã hội không coi trọng con người, không nhận ra mọi người là anh em của nhau, dù khác biệt về màu da, về tín ngưỡng, về tôn giáo, về giai cấp xã hội, về ngôn ngữ dân tộc… thì người lao động, hay sức lao động, trở thành một thứ hàng hoá để trao đổi, bán buôn. Con người bây giờ chỉ còn là một công cụ để sản xuất ra hàng hoá và những con người có chức quyền, có tiền của thường bóc lột sức lao động ấy để tạo ra đủ loại chế độ nô lệ và hình thức buôn người.

Dù chế độ nô lệ trực tiếp trong những đế quốc như Hy Lạp, La Mã và nhiều đế quốc châu Âu thời Trung cổ đã chấm dứt, nhưng những hình thức buôn người mới vẫn đang tồn tại giữa lòng xã hội văn minh hiện nay. Người ta buôn bán nội tạng như quả tim, quả thận với giá của vài trăm triệu đồng, mà đôi khi những người nghèo khổ liều mình bán đi để cứu gia đình. Người ta buôn bán thân xác để thoả mãn những bản năng thấp kém của con người bằng cách lừa dối những cô gái, chàng trai nghèo túng bán mình để làm việc trong những nhà hàng, quán bar, quán massage trá hình, hộp đêm… Người ta lừa dối những con người muốn mau chóng làm giàu bằng cách lén lút đưa họ qua những nước Âu, Mỹ giàu có để làm những công việc tay chân vất vả hay những nghề nghiệp nguy hiểm, phạm pháp như trồng cần sa, buôn bán ma tuý… khiến nhiều người phải chết oan như người ta mới tìm thấy 39 thi thể của người Việt chết tức tưởi trong một container để nhập lậu vào Anh quốc ngày 23/10/2019, ở hạt Essex.

Chủ nghĩa Cộng sản và Tư bản đã cố gắng đi tìm ý nghĩa của lao động để giới thiệu những loại hình xã hội không còn cảnh người bóc lột người, hay người buôn người, mà ai nấy đều làm việc với tinh thần tự giác, sáng tạo để cùng xây dựng một cộng đồng xã hội trong đó mọi người đều coi nhau là anh chị em của đại gia đình nhân loại. Tuy nhiên, cả hai chủ nghĩa này đều nhận ra rằng không thể nào xây dựng một xã hội lý tưởng nếu không giáo dục hay đào tạo được những con người hiểu rõ về giá trị lao động, làm chủ được những tham vọng, dục vọng của mình để nhận ra mọi người đều là con cái của Người Cha Tạo Hoá luôn làm việc không ngừng.

3. Vượt qua những lao động bất chính

Khi chúng ta hiểu lao động là định luật cần thiết để sống còn của con người, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc khi được làm chung với mọi người để thăng tiến sự sống của cá nhân mình và sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội. Do những áp lực của xã hội và thiếu hiểu biết về ý nghĩa của lao động nên nhiều người đã không muốn làm việc hay chỉ làm việc cầm chừng. Chúng ta đã biết đến cuộc hội nhập văn hoá của dân tộc Việt Nam hơn 10 thể kỷ khi bị người Trung Quốc đô hộ, đã làm cho người Việt hiểu lầm lao động là một hình thức khổ sai triền miên và chỉ làm việc cầm chừng dưới ánh mắt của người khác, cũng như sẵn sàng ngưng làm việc nếu không bị ai theo dõi hay bắt buộc. Hơn nữa, đời sống khó khăn thiếu thốn đã làm cho người ta tìm hết cách để thu lợi từ lao động của mình chứ không thật tâm làm việc vì công ích, vì liên đới với người khác. Kết quả là “trước khi làm việc, ai cũng ngại khó; khi đang làm việc, ai cũng sợ khổ; khi làm xong việc, ai cũng kể công”.

Vì không coi chủ thể và đối tượng lao động là những con người có phẩm giá cao quý, là anh em trong cùng một gia đình nhân loại, nên khi lao động, người ta chỉ coi nhau như những món hàng để mua bán hay như những phương tiện sản xuất ra hàng hoá để thu lợi cho mình. Từ đó chúng ta thấy có nhiều người lao động bất chính, nhiều nghề bất công, sản xuất ra những hàng hoá độc hại gây nguy hiểm cho cộng đồng xã hội.

* Người Việt Nam thường quan niệm: “một người làm quan cả họ được nhờ”, nên những ai tham gia vào chính quyền, trở thành công chức là nghề béo bở nhất. Vì thế chúng ta thấy nạn tham nhũng xảy ra khắp nơi, trở thành một quốc nạn, có thể dẫn dân tộc chúng ta đến chỗ diệt vong. Người ta lợi dụng những chức vụ trong chính quyền, trong đảng phái để thu lợi cho cá nhân, cho phe nhóm, mà không quan tâm đến công ích và vận mệnh dân tộc. Xã hội vẫn thường nói “nhất thân, nhì thế” nên người ta dùng chức vụ mình đang có để chiếm những nguồn lợi kinh tế lớn lao của đất nước, chiếm độc quyền trong một số ngành nghề, chiếm những tài nguyên thiên nhiên như đất cát, rừng núi, sông biển… để xây dựng cho cá nhân mình, cho gia đình mình, thậm chí bán cả đất đai cho kẻ xâm lăng.

* Rất nhiều nghề ở Việt Nam hiện nay không còn mang tính cao thượng, tốt đẹp như trước đây, do cơn lốc của chủ nghĩa hưởng thụ vật chất, kiếm tìm danh lợi bằng bất cứ giá nào. Không ít những bác sĩ khai thác bệnh nhân bằng những yêu cầu xét nghiệm, siêu âm, giải phẫu dù không cần thiết. Không ít những dược sĩ cố tình bán những loại thuốc kém chất lượng, thuốc giả. Không thiếu những giáo sư, giảng viên mua học vị tiến sĩ, thạc sĩ bằng tiền hay chép lại những luận văn của người khác để biến thành luận án của mình. Không thiếu những thầy giáo, cô giáo cho điểm học trò theo những quà cáp hay bó buộc học thêm trong những lớp dạy kèm ở nhà mình. Không thiếu những người tốt nghiệp với những bằng cấp mua được từ những trường đại học, học viện, cao đẳng bằng những đồng tiền bất chính hay bằng uy thế của cha mẹ là những người có chức quyền. Không thiếu những sinh viên, học sinh chỉ lười biếng, kém cỏi, nhưng vẫn nhận được điểm xuất sắc nhờ quà cáp hay chiều chuộng đủ kiểu để lấy lòng thầy cô. Như thế, nhiều nghề nghiệp cao quý trước đây đã bị bôi bẩn chỉ vì lòng tham và lòng dục của con người.

* Cũng từ lòng tham và lòng dục này, nhiều nghề nghiệp đã trở thành phương tiện để thu lợi bất chính khiến người dân Việt không biết tin vào ai, dùng hàng hoá nào để cuộc sống an lành. Những nông dân dùng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân bón độc hại khiến cho nông sản không còn an toàn; những người chăn nuôi dùng hoá chất tăng trọng, thuốc kháng sinh quá lượng, những ngư dân dùng hoá chất ướp cho thuỷ sản được lâu bền, dù biết rõ những hoá chất này rất nguy hiểm cho sự sống con người và sự phát triển của dân tộc.

Những nghề nghiệp này trước đây rất cao quý, bây giờ lại trở thành những cơ hội, tạo nên bất công và tội ác, nhưng xã hội hiện nay hầu như vẫn im lặng để mặc cho con người hành động. Nếu không có một sự giáo dục lương tâm nhạy bén nhờ sự giúp đỡ của các tôn giáo, thì những người làm các nghề nghiệp này vẫn coi hoạt động sai trái của họ là chuyện đương nhiên cần phải làm để sản xuất ra hàng hoá.

* Một số ngành nghề mới trong lĩnh vực thông tin đại chúng cũng là dịp gây hại cho con người, vì làm vẩn đục tinh thần của những người thụ hưởng. Việt Nam hiện nay có hơn 96 triệu dân và hơn 60 triệu người đang sử dụng phương tiện truyền thông xã hội như truyền thanh, truyền hình, báo chí, internet và các mạng xã hội. Rất nhiều người đang hành động gian dối, lừa bịp trong lĩnh vực này khi họ loan báo những tin tức sai lạc, cố ý lèo lái quần chúng theo ý đồ nào đó của chính quyền hay của các công ty thương mại, khi đưa ra những sản phẩm dối trá, kém chất lượng, cổ vũ bạo lực, những trò chơi trực tuyến lồng ghép những cảnh dâm ô, những phim ảnh đồi truỵ, những kiểu hài hước tục tĩu, thấp hèn.

* Khi con người tôn thờ tiền bạc như ông chủ của đời mình, như vị thần quyền năng có thể làm được hầu như mọi chuyện, thì sẽ có nhiều nghề nghiệp bất lương và nhiều người lao động trong lĩnh vực xấu xa này để kiếm thật nhiều tiền. Trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam, chúng ta thấy không thiếu những nghề bất chính như mãi dâm, buôn bán ma tuý, bảo kê của xã hội đen, môi giới đủ loại như chạy án giảm thuế, cho vay nóng, buôn bán hàng trộm cắp, in ấn sách báo lậu, làm bằng cấp giả, đòi nợ thuê… Không ít người sẵn sàng đánh đổi cả cuộc đời, dám mất hết danh dự và làm ô nhục gia đình để theo đuổi những nghề nghiệp bất lương đó.

4. Giáo huấn Xã hội của Công Giáo về lao động con người

Cuộc xung đột về ý nghĩa của lao động giữa chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Cộng sản kéo dài hơn một thế kỷ, kể từ khi Karl Marx (1818-1883) viết cuốn Tư bản[378]. Nhưng cuộc xung đột này tự nó kết thúc vào cuôi thế kỷ 20 khi các dân tộc nhận ra rằng chủ nghĩa nào cũng cực đoan và sai lầm khi chỉ phân tích và nghiên cứu con người lao động theo khía cạnh riêng lẻ chứ không tổng hợp, phiến diện chứ không toàn diện. Cuối cùng các nước theo hai chủ nghĩa đó đã đề cao nền kinh tế thị trường như ta thấy hiện nay.

Trong thực tế, không có một nền kinh tế thị trường nào hoàn toàn tự phát vận hành theo đúng luật thị trường, cũng như không có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung hoàn toàn. Thay vào đó, hầu hết các nước có nền kinh tế hỗn hợp. Tuỳ ở mỗi nước mà các yếu tố thị trường và yếu tố can thiệp của Nhà nước có nhiều hay ít. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của Việt Nam và gọi là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển chủ nghĩa xã hội. Nhưng cho đến nay, chính phủ Việt Nam cũng thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ ràng, cụ thể và đầy đủ về thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa[379]. Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/1/2008 về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế này. Theo chính phủ Việt Nam, nguyên nhân tình trạng này là do hệ thống kinh tế đó hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử[380].

Khi lao động, con người trước hết làm việc cho mình hay cho gia đình mình với tất cả những cố gắng sáng tạo, để có những sở hữu bảo đảm cho cuộc sống và tương lai như chủ nghĩa Tư bản bảo vệ. Tuy nhiên, con người luôn liên đới với xã hội, với cả cộng đồng nhân loại nên cũng cần phải điều hoà các quyền lợi cá nhân để tất cả cùng phát triển như chủ nghĩa Cộng sản đề cao. Chối bỏ một yếu tố nào của con người toàn diện đều làm cho nền kinh tế bị sụp đổ như thực tế lịch sử đã minh chứng đối với cả hai chủ nghĩa trên.

Giáo Hội Công Giáo đã trình bày học thuyết của mình về lao động con người ở chương 6 của cuốn Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, do Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình xuất bản năm 2004 (x. tr.191-230) và trình bày đặc biệt dễ hiểu cho giới trẻ trong chương 6 của cuốn Docat, xuất bản năm 2016 (x. tr.136-157, từ câu số 134-157) với tựa đề Nghề nghiệp và ơn gọi. Chúng ta có thể tóm tắt một số điểm cơ bản sau đây:

4.1. Bốn nguyên tắc hướng dẫn hành động

Lao động trước tiên là hành động có chủ ý của con người nên phải tuân theo 4 nguyên tắc hướng dẫn hành động mà chúng ta đã tìm hiểu trước đây:

– Nguyên tắc Nhân vị[381]: Chủ thể hành động và đối tượng của hành động là những con người có phẩm giá cao quý vì là con cái Thiên Chúa nên phải hành động đúng đắn, không được xúc phạm hoặc làm hại con người.

– Nguyên tắc Công ích[382]: chủ thể hành động phải nhắm đến ích lợi chung nghĩa là hướng đến thiện ích để giúp cho mình và cho mọi người được phát triển toàn diện và mỹ mãn.

– Nguyên tắc Bổ trợ[383]: hành động của chủ thể nhằm trợ giúp cho đối tượng phát triển để họ tự hành động chứ không làm thay họ.

– Nguyên tắc Liên đới[384]: hành động của chủ thể liên đới và nối kết với muôn người, muôn vật nên cần phải cẩn trọng và khôn ngoan cũng như dám hy sinh quyền lợi cá nhân để liên kết với người khác.

4.2. Vài nguyên tắc hướng dẫn lao động

Tuy nhiên, lao động còn là một hành động xã hội cụ thể tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần cho cộng đồng nên nó còn được quy định bởi một vài nguyên tắc căn bản sau đây:

+ Lao động là lời mời gọi của Thiên Chúa Tạo Hoá cho con người tham gia vào công trình sáng tạo của Ngài (x. St 2.2; G 38-41; Tv 104; Tv 147). Ngài đã tạo dựng vũ trụ vạn vật và con người theo hình ảnh Ngài và kêu mời con người lao động trên đất đai (x. St 2,5-6), canh tác và chăm sóc vườn Eđen mà Thiên Chúa đặt con người vào trong đó (x. St 2,15) để con người lao động như chính Thiên Chúa. Vì thế, Đức Giêsu nói với người Do Thái: “Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc thì tôi cũng làm việc” (Ga 5,17).

Như thế, lao động là một phần trong tình trạng nguyên thuỷ của con người và đã có trước khi con người phạm tội. Do đó, lao động không phải là một hình phạt hay một sự chúc dữ. Lao động chỉ trở thành vất vả và cực nhọc khi con người (qua Ađam – Eva) phá vỡ mối quan hệ tin tưởng và hoà thuận với Thiên Chúa (x. St 3,6-8), cắt đứt nguồn sức mạnh, sự khôn ngoan và tình yêu là Thiên Chúa. Vì thế, con người không còn đủ sức khoẻ để làm việc, không còn khôn ngoan để làm việc cho có hiệu quả tốt và không còn tình yêu để thấy lao động là nguồn của hạnh phúc vì làm được một điều gì đó cho người mình yêu thương. Người đó là chính Thiên Chúa và cũng là những con người mình sống với. Như thế lợi nhuận hay tiền của kiếm được từ lao động không phải là mục tiêu số 1 của lao động, nhưng mục tiêu đó là để làm sáng danh Chúa và mưu ích cho con người.

+ Lao động là dịp may để thăng tiến con người và phát triển xã hội[385]. Thiên Chúa dựng nên con người giống Ngài và từng giây phút Ngài ban cho con người sức lực, tài năng, ân sủng và tình yêu. Khi lao động, con người phát huy những ơn lành ấy để thăng tiến bản thân, cải tạo trái đất cho xanh tươi tốt đẹp, phát triển cộng đồng cho giàu mạnh, an lành. Tuy nhiên, khi lao động con người phải luôn biết tự chủ: để không bị lao động cuốn hút mình đến độ chỉ biết công việc, làm nô lệ cho công việc. Vì thế, luật nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật giúp cho con người được tự do đầy đủ hơn để không trở thành nô lệ cho lao động, dù là nô lệ tự nguyện hay bị cưỡng bức, cũng như không bị bóc lột, dù là bóc lột kín đáo hay công khai.

+ Lao động với Chúa Giêsu và như Chúa Giêsu là tham gia vào công trình cứu độ của Người. Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa. “Bản thân Người sau khi trở nên giống chúng ta mọi sự, đã dành phần lớn năm tháng sống trên đời này để lao động tay chân trên bàn thợ mộc”[386], tại xưởng của Thánh Giuse (x. Mt 13,55; Mc 6,3). Trong nhiều dụ ngôn, Đức Giêsu dạy chúng ta phải trân trọng lao động (x. Mt 25,14-30; 9,37-38), Người nói đến việc người thợ đáng hưởng lương (Lc 10,7). Chính trong lao động, chúng ta bắt chước Chúa Giêsu mang lấy thập giá hằng ngày của mình và bước theo Người trên con đường sự thật và sự sống để cứu rỗi con người và cứu độ vạn vật [387].

Trong những năm tháng sống trên trần thế, Đức Giêsu làm việc không ngừng, làm nhiều việc lớn lao để giải thoát con người khỏi bệnh tật, đau khổ và chết chóc[388]. Ngài lao động cả ngày “sabat”, không phải vì nô lệ cho công việc nhưng muốn xác định lại ý nghĩa nguyên thuỷ của ngày sabat: “được lập ra cho con người chứ con người không được dựng nên cho ngày sabat” (Mc 2,27). Điều đó muốn nói rằng sabat là ngày giải phóng con người khỏi nô lệ cho công việc, tìm được sự nghỉ ngơi, tìm về nguồn của sức lực lao động là Thiên Chúa và mục đích của lao động là tận hiến cho Thiên Chúa và tha nhân. Đó cũng là lý do tại sao người tín hữu đến nhà thờ tham dự thánh lễ và nhất là rước Mình Máu Chúa Giêsu Kitô để có sức lao động trong tuần sống.

+ Lao động theo những ngành nghề khác nhau nhưng chung một tình yêu. Đức Giêsu dạy chúng ta điều đó qua dụ ngôn “Những nén bạc” (x. Mt 25,14-30). Chúa giao cho mỗi người những nén bạc khác nhau: người 5, người 2, người 1. Nghĩa là từng người, theo ơn gọi khác nhau, Ngài trao phó những điều kiện vật chất, tài năng tinh thần và ân sủng khác nhau. Ngài mời gọi chúng ta lao động giống như Chúa Giêsu và dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta làm cho những nén bạc ấy sinh lời cho Chúa, đồng thời tạo nên hạnh phúc và ơn cứu độ cho muôn loài.

Những ngành nghề chính đáng, dù là lao động tay chân hay trí óc, chỉ là sự phân công trong xã hội để mỗi người mỗi việc, nhưng mọi người đều có chung một bổn phận là làm phát triển chính mình và xã hội, có chung một mục đích là cứu độ thế giới và có chung một phương tiện là tình yêu của Chúa Thánh Thần.

Dù ta chỉ là một người phụ nữ lo việc nội trợ trong gia đình, một công nhân làm những công việc giản đơn trong công ty, xí nghiệp, hay một người thất nghiệp đi bán vé số ngoài đường, thậm chí đi nhặt rác…nhưng nếu ta làm với tất cả tình yêu dành cho Chúa và cho anh chị em mình, như vậy là đã đủ rồi. Đó là ơn gọi của mỗi người chúng ta. Trong sự phân công xã hội, không thể tất cả đều làm giám đốc hay người quản lý. Mỗi người, qua ơn gọi lao động và tài năng Chúa ban, chúng ta đóng góp vào kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là đem tình yêu cứu độ thế giới.

Chúng ta đưa tình yêu vào trong từng công việc, qua từng nồi cơm ta nấu, từng chậu quần áo ta giặt, từng công việc học hành mà mỗi học sinh thực hiện hằng ngày. Thánh Thần Tình yêu sẽ thánh hoá mọi việc ta làm, làm cho chúng trở thành thánh thiện vì được kết hợp với Chúa Giêsu trong công trình cứu độ của Người.

Hơn nữa, qua dụ ngôn “Người thợ làm vườn nho” (x. Mt 20, 1-16), Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa là người chủ rất cảm thông những nỗi khó nhọc, vất vả của ta trong vườn nho cuộc đời. Do tính chất công việc, hoàn cảnh xã hội, điều kiện vật chất và tinh thần mỗi người khác nhau, nên công việc có thể nhàn nhã với người này, nhưng lại nặng nhọc với người kia. Vào ngày cuối cuộc đời, tất cả đều lãnh một quan tiền như nhau. Có thể khi so sánh nỗi cực khổ bên ngoài, có người thấy Chúa hình như đối xử bất công với mình vì họ phải chịu đựng gian nan khốn khó hơn nhiều người khác. Tuy nhiên tất cả chúng ta được mời gọi bỏ đi ánh mắt ghen tị đối với anh chị em để nhận ra tình yêu của Cha trên Trời từng giây phút ban cho ta muôn ơn lành hồn xác và cả trái đất này làm sản nghiệp chung, ban cho ta Người Con Một yêu quý để chết thay cho ta và sống lại vì ta, ban cho ta cả Thánh Thần Tình Yêu tràn ngập trong trái tim ta để ta thấy rằng những nỗi cực khổ ở đời này sánh sao được với phần thưởng là đời sống vĩnh hằng của Cha trên Trời ban đồng đều cho mọi người con của mình như quan tiền trao cho tất cả. Vì thế chúng ta hãy cố gắng làm tốt cho đời!

Lời kết

Hôm nay, chúng ta hãy dâng lên Chúa những công việc sẽ làm trong năm nay và trong suốt cuộc đời để xin Chúa thánh hoá, chúc lành. Xin Chúa Thánh Thần đổ tràn tình yêu vào lòng ta, để mỗi giây phút lao động trên đời, ta đều có ý nghĩ trong sáng, lời nói chân thành, hành động chính đáng mang lại niềm vui, hạnh phúc và ơn cứu độ cho mọi người.

Câu hỏi gợi ý

1. Trong các loại hình lao động, loại hình nào cao quý hơn cả?

2. Ngành nghề nào ở Việt Nam hiện nay đang được giới trẻ quan tâm học và hành trong đời sống?

3. Bạn hãy liệt kê những nghề bất chính, bất lương mà bạn biết.

4. Nguyên tắc nào là nền tảng và căn bản trong hành động và lao động của con người?

Bài 22: Chơi đẹp trong đời

(đang soạn)

—o0o—

Bài 23: Đứng vững trong bão tố

(đang soạn)

—o0o—

Bài 24: Nhẹ bước trên đường

(đang soạn)

—o0o—

Bài 25: Sống đẹp từng phút trong đời

Lời mở

Sống – chết là hai mặt phải-trái của một sinh vật, của một con người như bạn và tôi. Nhưng có nhiều người dù đang sống, mà không biết sống là gì? Sống để làm gì? Họ sống đau khổ, tủi nhục, thấp hèn, sống mà không bằng chết khiến nhà ái quốc Phan Bội Châu (1867-1940) phải nhắn nhủ: “Sống mà như thế đừng nên sống. Sống tủi làm chi đứng chật trời!”. Thật ra, ai cũng muốn sống hạnh phúc, cao thượng và phát huy những phẩm chất đặc biệt của con người, nhưng làm sao để sống được như thế mới là điều đáng chúng ta quan tâm.

1. Sống là gì?

Dù sự sống đã có mặt trên trái đất này cách đây một tỉ năm, khởi đầu từ những đơn bào, đa bào, đến thực vật, động vật và con người biết suy tư với hộp sọ phát triển có thể tích 1200-2000cm3, nhiều người vẫn chưa hiểu sống là gì[389]. Người ta thường nghĩ theo giả thuyết tiến hoá của Darwin (1809-1882): sự sống ngẫu nhiên mà có chứ không bắt nguồn đâu cả, dù khoa học luôn quả quyết có hậu quả thì phải có nguyên nhân!

Tìm trong bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam (TĐBKVN), bộ từ điển có giá trị nhất hiện nay, chúng ta không tìm được định nghĩa của từ “sống”[390]. Hàng trăm vị tiến sĩ và nhà khoa học soạn bộ từ điển này chưa hiểu được nghĩa sống!

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “sống là tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh sản, lớn lên và chết”[391]. Những lời giải thích này chỉ mô tả một số chức năng chung của các vật thể sống chứ không định nghĩa được sự sống.

Thật ra, sự sống là một cái gì hiển nhiên, không cần minh chứng vì nó đang ở trong ta, trong muôn loài sống động quanh ta. Nó lạ lùng, quý báu, thiêng liêng nhưng lại có vẻ mong manh, tạm thời, phi lý và dễ dàng biến mất nếu người ta không tìm về được nguồn của sự sống. Vì thế, sự sống là một mầu nhiệm cần khám phá không ngừng[392].

2. Những thái độ sống khác nhau

Chính vì không biết sống là gì nên người ta có những thái độ sống rất khác nhau. Có những người thấy sự sống có vẻ như rất mong manh, tạm thời và phi lý. Chỉ cần một cơn gió nóng thổi qua, bông hoa xinh đẹp kia cũng héo tàn. Chỉ cần một hành động như thải nước độc ra đại dương của Nhà máy Formosa ở Hà Tĩnh năm 2016, hàng triệu tôm cá bị giết chết. Chỉ cần một vài thay đổi trong cơ thể, con người trẻ trung, tài giỏi, xinh đẹp kia cũng biến mất sau một cơn nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não. Đó là mặt tối của sự sống nên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tự hỏi: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi?”[393].

Bao nhiêu năm làm kiếp con người,

Chợt một chiều tóc trắng như vôi.

Lá úa trên cao rụng đầy,

Cho trăm năm vào chết một ngày!

Vì không nhận ra những giá trị tích cực của sự sống, nên người ta hững hờ với nó, chẳng lo cho mình, chẳng giúp cho đời. Họ phung phí những năm tháng sống để thoả mãn những đòi hỏi của bản năng và dục vọng trong những cuộc vui thâu đêm. Họ tàn phá sự sống của mình bằng đủ thứ nghiện ngập và của người bằng những hành động ác đức như tham nhũng, bất công; buôn bán hàng độc hại; nói lời bất hoà, chia rẽ; bạo hành, gây chiến, phá thai…Họ nghĩ rằng chẳng ai nhìn thấy những tội ác xúc phạm đến sự sống của mình. Nhưng thật ra sự sống nào cũng mang tính vĩnh hằng, nên hành động nào dù tốt hay xấu cũng đều ghi lại những dấu ấn trong sáng hay bẩn thỉu của nó trên bản chất của con người, khiến họ phải tẩy xoá sạch mọi vết bẩn nếu muốn hạnh phúc trọn vẹn trong cõi vĩnh hằng.

Trái lại, không ít người nhận thức được sự sống lạ lùng, quý báu, thiêng liêng. Dù chỉ là một ngọn cỏ, một con bướm nhưng cấu trúc kỳ diệu của hàng tỉ tế bào chuyển động không ngừng trong chúng đã làm kinh ngạc bao nhiêu nhà bác học. Dù chỉ cần một vài giây phút sống, nhưng người ta vẫn sẵn sàng đánh đổi mọi thứ cho người thân được sống, để nghe được lời tha thứ yêu thương, xem được nụ cười mãn nguyện của người thân. Một nụ cười trong sáng dài chỉ 1 giây nhưng cũng có sức lan toả từ người này sang người khác và tồn tại lâu dài trong suốt dòng lịch sử con người. Một câu nói yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi.

Sự sống thiêng liêng vì nó được nối kết với giá trị tinh thần mà không một máy móc khoa học kỹ thuật nào có thể cân đo đong đếm được. Một nụ hôn đầu đời khiến người ta nhớ mãi về tình yêu. Một dấu bước chân của Neil Amstrong đặt lên mặt trăng ngày 20/7/1969 ghi nhớ mãi sự tiến bộ của loài người trong việc chinh phục không gian. Một nụ cười rạng rỡ ngày cưới làm cho lòng người ấm áp lâu dài vì nó chứa chan hạnh phúc. Tình yêu, tiến bộ, hạnh phúc là những thứ thuộc tinh thần, không lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian nên chúng tồn tại mãi mãi với sự sống. Đó là tính cách thiêng liêng, vĩnh hằng của sự sống mà nhiều khi con người chúng ta không biết đến hoặc biết nhưng chẳng quan tâm.

3. Sống là hiệp thông và liên kết

Xét về lĩnh vực sự sống, có thể nói muôn loài muôn vật đều liên kết và hiệp thông với nhau như các thành phần trong một thân thể nhiệm mầu.

Từng giây phút sống là ta nhận được khí Oxy từ những cây xanh toả ra, là ta ăn bát cơm, miếng thịt, cọng rau rút ra từ lòng đất nước này. Vật chất cũng như nhiều loài thực vật, động vật trở thành máu xương của ta. Rồi khí carbonic và cặn bã ta thải ra, qua sự chuyển hoá của vũ trụ, lại trở thành xương thịt cho muôn loài thực vật, động vật quanh ta.

Nhà bác học Amedeo Avogadro (1776-1856) đã đưa ra số N = 6,022 x 1023 với nguyên lý nổi tiếng: “Trong cùng một điều kiện nhiệt độ và áp suất, các khí khác nhau có cùng một thể tích, sẽ chứa cùng một số nguyên tử hay phân tử như nhau”. Nói cách dễ hiểu: nếu lấy 16 gram Oxy hay 18 gram nước và đếm chúng trong máy đếm điện tử, ta sẽ có 6,022 x 1023 nguyên tử Oxy thật và phân tử nước thật. Nếu chia đều theo đầu người cho 7 tỉ người đang sống trên trái đất, mỗi người sẽ nhận được hơn 9000 tỉ nguyên tử Oxy và phân tử nước.

Trong đời sống vài chục năm, ta thở hàng triệu lít Oxy và uống hàng trăm ngàn lít nước. Tất cả đều chuyển hoá và hoà trộn vào muôn vật muôn loài quanh ta. Vì thế, chúng ta đều là anh chị em ruột thịt của nhau xét về phương diện khoa học, chưa cần nói đến khía cạnh tôn giáo tâm linh. Nếu phân tích các gen trong nhiễm sắc thể, ta là con của ông bà này hay ông bà kia để đối xử với nhau theo huyết thống. Nhưng phân tích sâu xa hơn theo khía cạnh sự sống, ta là anh em ruột của mọi người và muôn loài trong vũ trụ này.

Vì thế, ta phải cảm thấy tự hào và hạnh phúc vì trong thân thể mỗi người đang có những nguyên tử, phân tử Carbon, Hydro, Oxy, Nitơ, Sắt, Đồng, Chì, Kẽm… đã từng ở trong thân thể của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, nên chúng ta là anh chị em ruột của nhau. Đó cũng là ý nghĩa cần hiểu khi Thánh Kinh Tân Ước của Giáo Hội Công Giáo luôn dùng từ anh chị em ruột để nói về những người thân của Chúa Giêsu, trong đó có chúng ta[394].

Triết gia Jean Paul Sartre (1809-1882), ông tổ của thuyết Hiện Sinh, cho cuộc sống là phi lý, vô nghĩa vì một con người được sinh ra nhiều khi chỉ vì cha mẹ họ làm tình với nhau mà chẳng có ý thức và trách nhiệm về sự sống của một bào thai mình tạo nên. Rồi đứa trẻ đó lớn lên, đi học, đi làm với bao nhiêu cố gắng mỗi ngày để có thể sống còn trong xã hội đầy bất an và bất công. Cuối cùng, người đó chết như một con chó, con mèo, bị mọi người quên lãng. Sống như thế thật là phi lý. Vì thế, ông chủ trương hãy “sống giây phút hiện tại” theo sự chọn lựa hoàn toàn tự do của mình, để rồi chết mà không hối tiếc. Ông đã chứng tỏ sự tự do chọn lựa bằng việc từ chối cả giải thưởng Nobel Văn chương cao quý mà bao người mơ ước. Ông cho cuộc sống phi lý, đáng nôn mửa như người ta nhìn thấy chiếc rễ cây trồi lên mặt đất trong công viên qua tác phẩm “Buồn nôn” (La nausée) viết vào năm 1938 của mình. Rất nhiều người đang sống theo chủ nghĩa Hiện sinh của ông.

Tuy nhiên, có lẽ ông nhìn cuộc sống quá gần, quá ngắn nên liên tưởng đến bãi phân chó khô, còn rễ cây là thực tại, giống như sự sống là một thực tại, cần khám phá. Nếu ông nhìn sâu hơn, xa hơn, ông sẽ thấy những chiếc rễ con con đang đâm sâu vào lòng đất để hút lên từng dòng nhựa sống. Dòng nhựa nguyên ấy, qua tác động chuyển hoá của ánh mặt trời trên lá cây, sẽ làm cho cây lớn lên từng ngày, biến thành hoa thơm, trái ngọt giúp cho ong bướm, sâu bọ, con người được sống, được vui, được che mát dưới bóng cây. Từng giây phút sống của cây còn ý nghĩa như thế, huống chi là sự sống của con người!

Ta hãy vào phòng cấp cứu của bệnh viện để thấy các bác sĩ, y tá điều dưỡng giành giật từng giây phút sống cho bệnh nhân như thế nào, chỉ vì sự sống vô cùng quý giá linh thiêng. Bạn cũng có thể đến quán bar để thấy người ta quay cuồng theo sóng nhạc, mơ màng theo khói thuốc, điên cuồng gào thét trong cơn say của rượu bia, của ma tuý để thấy con người phung phí sự sống ra sao, dù là những người khoẻ mạnh, xinh đẹp, tài năng, giàu có.

Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn đã sáng tác bài Khát vọng để mời gọi ta: “Hãy sống như đời sông để biết yêu nguồn cội. Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao. Hãy sống như biển trào để thấy bờ biển rộng. Hãy sống và ước vọng để thấy đời mênh mông. Và sao không là gió là mây, để thấy đời bao la? Và sao không là phù sa dâng mỡ màu cho hoa? Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa? Sao không là mặt trời, gieo hạt nắng vô tư?”.

Rất nhiều bạn trẻ đang sống hào hùng, quảng đại, bao dung như gió mây, giông bão, như phù sa, mặt trời… để thấy đời mình có ý nghĩa, có giá trị vì làm đẹp cho đời, cho người. Tiếc rằng nhạc sĩ không đặt câu hỏi: “Sao không là con người…..” vì sự sống đó là mầu nhiệm rất khó diễn tả. Nếu ta không biết sự sống con người là gì, ta cũng không thể nào biết khát vọng sống của mình có thể vươn cao và vươn xa đến đâu.

4. Vươn tới sự sống dồi dào và sung mãn

Nhìn vào vạn vật quanh ta, ngoài những vật chất bất động không có sự sống như các chất hoá học, người ta thường phân biệt ba dạng sống: sự sống của loài thực vật, động vật và của con người. Chỉ con người mới tổng hợp được trong mình các dạng sống khác nhau để đưa sự sống vươn xa tới vô biên và phát triển đến vô cùng.

Người ta đã nghiên cứu sự tiến hoá của loài người so sánh với những loài khỉ dạng người xuất hiện cách đây khoảng 20 triệu năm[395] và tinh tinh cách nay khoảng 5-8 triệu năm: loài người đã phát triển hai đặc điểm chính: đi thẳng đứng trên hai chân, và não bộ lớn (từ 1100-1700 cm3, trong khi tinh tinh 300-500 cm3). Nhưng còn nhiều sự khác biệt nữa, như con người là loài duy nhất có thể truyền đạt suy tư và cảm xúc qua các hệ thống ngôn ngữ phức tạp[396].

Trong cơ thể con người, tế bào là đơn vị sống nhỏ nhất. Có khoảng 75 ngàn tỉ tế bào. Chúng được tạo nên từ các phân tử hoá học. Có hơn 20 nguyên tố hoá học hiện diện trong cơ thể, trong đó chỉ 4 nguyên tố Oxy, carbon, Hydro và Nitơ đã chiếm khoảng 96% khối lượng cơ thể. Mỗi nguyên tố được cấu tạo từ các nguyên tử. Các nguyên tử lại kết hợp với nhau để tạo nên các phân tử. Chẳng hạn như nước từ nguyên tử Oxy và Hydro. Những phân tử hữu cơ được xây dựng xung quanh một bộ xương là các nguyên tử carbon liên kết lại với nhau[397].

Các phân tử hoá học định hình lớp bao phủ bên ngoài và cấu trúc bên trong của tế bào và vận hành các phản ứng chuyển hoá giúp tế bào sống. Có hơn 200 loại tế bào trong cơ thể người, mỗi loại thích nghi để thực hiện một vai trò chuyên biệt nhưng không tách biệt nhau. Nhóm các tế bào tương tự có cùng chức năng tạo nên và hợp tác trong các cộng đồng gọi là mô. Bốn loại mô căn bản của cơ thể là biểu mô (bao phủ bề mặt và lót các khoang), mô liên kết (nâng đỡ và bảo vệ cấu trúc cơ thể), mô cơ (tạo ra chuyển động) và mô thần kinh (tạo cho việc truyền thông trong cơ thể được nhanh chóng)[398].

Các cơ quan như tim, gan, não là những cấu trúc riêng rẽ được xây dựng nên từ hai ba loại mô khác nhau. Mỗi cơ quan có một hay nhiều vai trò đặc biệt mà không có cơ quan nào khác có thể làm thay. Khi các cơ quan có chung một mục đích, chúng được liên kết với nhau trong một hệ cơ quan, chẳng hạn như hệ tim mạch vận chuyển Oxy và chất dinh dưỡng đi khắp cơ thể. Cơ thể con người có 11 hệ cơ quan chính: ngoài hệ ngoài da lông tóc móng, ta có các hệ xương, cơ, thần kinh, hô hấp, tim mạch, bạch huyết và miễn dịch, tiêu hoá, tiết niệu, sinh sản, nội tiết[399]. Tất cả các hệ này làm việc chặt chẽ với nhau. Sức khoẻ tốt và hoạt động hiệu quả của cơ thể dựa trên việc các hệ thống khác nhau trong cơ thể cùng làm việc hài hoà với nhau.

Hệ thần kinh trung ương gồm não và tuỷ sống, tiếp nhận thông tin từ tất cả bộ phận của cơ thể và đáp lại bằng các chỉ thị đến mọi mô và cơ quan[400]. Bộ não với khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh, gọi là neuron, điều hành mọi thứ ta cảm nhận và thực hiện[401]. Hệ thần kinh cho phép ta thích nghi được với hoàn cảnh chung quanh vì chúng ta cảm nhận được thế giới quanh mình và hài hoà với nó[402].

Bộ não cũng giúp cho con người ghi nhớ và lưu trữ trong ký ức đủ loại thông tin, sự việc, kinh nghiệm, hoàn cảnh kèm theo những cảm xúc vào thời điểm xảy ra. Người ta phân biệt 5 loại ký ức: về công việc, ngữ nghĩa, tình tiết, quy trình và ẩn tàng. Các cảm xúc nằm trong hệ viên nằm ở trên đỉnh của thân não, bên dưới và bên trong vòm của não gồm hạnh nhân, đồi thị, vùng dưới đồi và thể núm[403].

Nghiên cứu kỹ hơn về sự sống trong cơ thể con người, chúng ta sẽ thấy sự sống con người đã được nâng lên một bậc sống mới, kỳ diệu và phi thường hơn hẳn loài thực vật và động vật. Các con tinh tinh có thể bắt ve bọ cho nhau, có thể học sử dụng ngôn ngữ dấu hiệu, nhưng chỉ có con người mới biết suy tư (homo sapiens), ước mơ và hy vọng. Con người có thể ăn uống, hành động, vui chơi như loài động vật, và nhiều người đang sống theo đó nên thấy cuộc sống là phi lý, tạm thời, vô nghĩa. Nhưng khi con người hành động kèm theo suy tư và cảm xúc thì họ không còn là “con” nhưng đã là “người”. Vì thế mà các triết gia Hy Lạp như Plato (427-347), Socrates (470-399), Aristotle (384-322) định nghĩa: “Con người là con vật biết suy tư” (homo est animal rationabile).

Con người chỉ được nâng lên một bậc sống mới nhờ “tinh thần” khi con người biết vượt qua chính mình, vượt qua vật chất, không gian và thời gian để đưa những suy tư và cảm xúc tự nhiên của mình vào một tầng cao mới, một thế giới mới: thế giới của tinh thần với các giá trị phi thường, siêu việt.

Các nền triết học như duy tâm, duy vật, duy lý tranh luận gay gắt về định nghĩa “tinh thần”. Tuy nhiên, đời sống thực tế cho phép ta tự do chọn lựa nó. Người ta có thể giao hợp như một con vật theo bản năng, hay như một con người có suy tư và cảm xúc, hoặc như một “con người có tinh thần” vì biết đến “tình yêu”, “hạnh phúc”. Tình yêu, hạnh phúc và muôn vàn giá trị khác của tinh thần không lệ thuộc vào vật chất, không gian và thời gian. Nhờ thế con người có thể biết đến tình yêu, hạnh phúc mà không cần phải làm tình giống như ông bà, cha mẹ già của ta đang cảm nhận hay như các tu sĩ, đạo sĩ của các tôn giáo.

5. Sự sống tinh thần

Nhờ khả năng biết suy tư, con người nhận biết có một sự sống mới mà mình có thể tham dự: sự sống tinh thần. Sự sống này bao gồm những giá trị tích cực mà con người có thể cảm nhận được ngay trong đời sống tạm bợ, nhất thời, phi lý của mình: đó là giá trị của tình yêu, tự do, niềm vui, hạnh phúc, hoà bình, cái đúng, cái tốt, cái đẹp… Con người muốn sống mãi, trẻ mãi, đẹp mãi, tốt mãi, vui sướng trọn vẹn, hạnh phúc sung mãn, tự do hoàn toàn, hoàn thiện vô biên. Khát vọng này đưa con người vượt ra ngoài vũ trụ vật chất, đang bị lệ thuộc vào thời gian và không gian ba chiều, để bước vào thế giới linh thiêng chỉ dành cho loài có tinh thần. Đó cũng là khát vọng trở thành thần linh mà tôn giáo gọi là “được giải thoát”, “cứu độ”, được “vào thiên đàng”, “vào Niết Bàn”, …

Trong suốt dòng lịch sử, con người đã thể hiện khát vọng kéo dài sự sống bằng cách tìm ăn các củ nhân sâm ngàn năm, tạo ra các mỹ phẩm để làm cho mình đẹp hơn, trẻ hơn, thay đổi gen để kéo dài tuổi thọ… Thất vọng về các giải pháp vật chất, con người tìm đến tôn giáo vì hy vọng tìm ra các giải pháp tinh thần thoả mãn được khát vọng của mình. Quả thật, một số người đã tiếp xúc được với thần linh, đã tham dự vào đời sống tinh thần và chứng minh cho những người khác thực tại của đời sống này. Vì thế, hầu hết 7 tỉ con người đang sống trên trái đất đang theo một tôn giáo nào đó. Đây chỉ là một dấu hiệu nhắc nhở ta quan tâm đến sự sống tinh thần.

Như thế, tôn giáo không phải là thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng như người Cộng sản lên án, cũng chẳng phải là thứ thuốc mê làm tha hoá con người như người Hiện sinh Vô thần đã nêu ra. Tôn giáo chỉ là một trong những phương tiện đưa con người vào đời sống tinh thần, khi cổ vũ nền văn hoá sự sống, mà chỉ con người mới có thể xây dựng để vũ trụ đạt tới cùng đích của nó trên con đường tiến hoá. Vì thế phải trân trọng tôn giáo vì đó là hình thái cao nhất của nền văn hoá sự sống khi cổ vũ một sự sống tinh thần hoàn hảo và vô biên. Tôn giáo sẽ giúp con người được tự do hoàn toàn và phát triển trọn vẹn khả năng tinh thần của mình. Lúc đó ta mới thật sự là người có thể xác và tinh thần, được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng là Cội Nguồn Sự Sống, với tinh thần luôn mở ra cho siêu việt và hướng tới vô biên[404].

Lời kết

Trong cộng đồng các tôn giáo, hơn 2 tỉ người hiện nay đang đi theo Đức Giêsu Kitô, đang cố gắng xây dựng nền văn hoá sự sống khi giới thiệu Đức Giêsu là nguồn sống bất diệt. Chính Người đã xác định: “Tôi là Sự sống” (Ga 14,6), “Ai tin vào tôi sẽ được sống đời đời” (Ga 11,25-26). Người đã chứng minh điều này bằng nhiều phép lạ cho kẻ chết sống lại (x. Lc 7,11-17; Mc 5,21-43: Ga 11,1-44). Chính Đức Giêsu đã tự nguyện chết và sống lại. Người cũng đã cho những ai tin vào Người quyền năng làm cho người chết sống lại (x. Cv 9,36-41; 20,9-12) để chứng tỏ con người đã thật sự được tham dự vào sự sống tinh thần.

Đức Giêsu đã tự xưng mình là “con người” để bạn và tôi có thể hát tiếp bài Khát Vọng: “Sao không là con người để sống với Giêsu?”.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn đang giữ thái độ nào đối với sự sống của chính mình: hững hờ, phung phí, lãng quên, tàn phá, huỷ hoại hay kinh ngạc, ngưỡng mộ, tôn trọng, yêu quý, tôn thờ?

2. Bạn có thái độ nào đối với vạn vật như tôm cá, rau cỏ, khí trời… đang tạo nên xương thịt của bạn?

3. Bạn đang làm gì để phát triển sự sống của gia đình nhân loại khi hiểu rằng mọi người đều là anh chị em ruột của nhau khi cùng chia sẻ cho nhau sự sống thể chất và tinh thần?

4. Bạn làm gì để phát triển đời sống tinh thần của bạn?

5. Bạn giữ thái độ nào đối với tôn giáo và tại sao bạn lại có thái độ đó?

Bài 26: Đi tìm nguồn đẹp

Trong bài “Sống đẹp từng phút trong đời” (Bài 25), nhiều người chúng ta muốn sống tốt đẹp mãi như Đức Giêsu Kitô. Muốn thế chúng ta phải xác định được nguồn chân thiện mỹ là gì, phải tìm nguồn ấy ở đâu và làm thế nào biến đổi mình thành đẹp trong đời sống.

1. Xác dịnh nguồn chân thiện mỹ

Trong suốt dòng lịch sử nhân loại, con người đi tìm cái đẹp, cảm nhận được cái đẹp trong từng cánh hoa, ngọn cỏ; từng ánh mắt, nụ cười; từng ý nghĩ, lời nói; từng cử chỉ, hành động của mọi người và vạn vật quanh mình. Ai ai cũng có thể thấy cái đẹp, muốn cái đẹp, nhưng lại rất khó để có một khái niệm rõ ràng và định nghĩa chính xác về cái đẹp. Vậy đẹp là gì?

Cái đẹp là “cái có hình thức hoặc phẩm chất đặc biệt làm cho người ta thích nhìn ngắm hoặc kính nể, là cái có sự hài hoà, tương xứng”[405]. Như thế, “cái đẹp tồn tại trong thiên nhiên như trời, biển, núi sông, chim muông, hoa lá hay trong xã hội, được thể hiện qua những quan hệ giữa người với người, những hành vi đạo đức, những thái độ ứng xử. Cái đẹp còn tồn tại qua các hình tượng thẩm mỹ trong các tác phẩm nghệ thuật”[406]. Cái đẹp hay “mỹ”, theo giáo huấn Công Giáo, “là cái làm vui lòng người nhìn ngắm. Bất cứ hữu thể nào, xét như là hữu thể, đều đẹp theo mức nó đạt tới hoặc gần đạt tới sự toàn hảo của bản tính nó. Trong các sự vật hoặc trong các hành động được coi là đẹp, cái đẹp có nền tảng nơi thế quân bình hoặc sự cân xứng của các thành phần cùng với một mức trong sáng được nhận biết. Là vẻ rực rỡ của cái Chân (đúng), cái Đẹp (mỹ) phần nào thực hiện sự tổng hợp của Chân và Thiện, người ta coi nó là một sự thiện mà chỉ hưởng được khi nhận thức và hội nhập nó”[407].

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Cái đẹp là chìa khoá mở cửa mầu nhiệm và là tiếng gọi mời ta vươn lên cao. Đó cũng là tiếng nói mời gọi ta cảm nếm cuộc sống và mơ về tương lai. Chính vì thế, cái đẹp của thụ tạo không bao giờ có thể làm ta cảm thấy thoả mãn hoàn toàn. Nó khơi dậy nỗi nhớ nhung thầm kín về Thiên Chúa, một sự thật mà chỉ có người mê say cái đẹp như thánh Augustinô mới diễn tả một cách tuyệt vời như sau: “Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới! Con yêu Chúa quá muộn màng”[408].

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng: cái đẹp là một trong 3 thuộc tính cơ bản của hữu thể: đúng-tốt-đẹp, mà chúng ta vẫn gọi là chân-thiện-mỹ, vì bất cứ một hữu thể nào có thật thì đều tốt đẹp. Dù người ta còn tranh luận nhiều về mối quan hệ hỗ tương của chân thiện mỹ trong hữu thể, nhưng ta có thể nói rằng: “Đẹp là hình thức bên ngoài của cái tốt, cũng như tốt là điều kiện siêu hình của cái đẹp và cả hai cái tốt và đẹp đều phải nằm trong cái thật của hữu thể” [409].

Thiếu một trong 3 yếu tố này thì bất cứ một hữu thể nào cũng không được coi là đẹp và nếu có ai cho đó là đẹp thì cái đẹp ấy sẽ gây nguy hại cho người đón nhận nó cũng như cho các hữu thể khác. Điều này có thể cho ta hiểu tại sao trong việc thẩm định giá trị đẹp của một hoa hậu, người ta không chấp nhận những cái giả (từ bằng cấp giả, trình độ học vấn giả cho đến lông mày, lông mi giả, tóc giả, ngực giả…) hoặc những cái không tốt như người đó như nghiện rượu, nghiện ma tuý, có con ngoại hôn…

2. Tìm nguồn chân thiện mỹ ở đâu?

2.1. Cái đẹp qua góc nhìn của một vài tôn giáo

Trong hàng chục thế kỷ bị người Trung Quốc đô hộ, sống nghèo khổ, người Việt chỉ mong sao ăn no, mặc ấm chứ chưa nghĩ đến ăn ngon mặc đẹp. Từ thể kỷ X, sau khi giành được độc lập, người Việt mới có cơ hội mở ra với văn hoá Trung Quốc và từ thế kỷ XVI với văn hoá phương Tây để đón nhận cái đẹp trong nghệ thuật và mỹ thuật nước ngoài.

Trong dòng lịch sử dân tộc, người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các ý thức hệ hay các tôn giáo đã được du nhập vào Việt Nam nên ít người quan tâm đến cái đẹp. Theo quan điểm Phật giáo, vẻ đẹp của con người và của thiên nhiên vạn vật thì vô thường, tạm bợ vì chúng luôn thay đổi như thời tiết sáng nắng, chiều mưa. Bám vào những vẻ đẹp vô thường đó sẽ làm cho con người bị trầm luân khổ ải. Con người chỉ nên đi tìm cái tốt trong đạo chứ không nên đi tìm cái đẹp ở bất cứ nơi đâu.

Lão giáo chú ý nhiều đến cái đẹp của vạn vật nên gắn bó nhiều với thiên nhiên. Người ta học được bài học sống an nhiên tự tại như trời đất, bất kể những thăng trầm của cuộc đời, của vạn vật. Lão giáo đi tìm cái hồn của vạn vật và nhận ra mỗi loài trong vũ trụ đều có thần chi phối cái tốt, cái thật, cái đẹp của muôn vật muôn loài, từ đó phát sinh ra việc tôn thờ những vị thần cai quản chúng vì “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”.

Khổng giáo là ý thức hệ mạnh nhất chi phối tư tưởng các nhà trí thức trong xã hội Việt Nam, bắt đầu từ các triều đại Lý, Trần, nhất là khi chiếm địa vị độc tôn từ triều Lê (1428-1788) đến triều Nguyễn (1802-1945). Khổng giáo là một học thuyết đạo đức xã hội chính trị hơn là một tôn giáo vì không có lễ nghi, tổ chức, kinh nguyện, không tin có sự hiện diện của thần thánh hay ma quỷ dù có nhắc đến “Thiên” như một nguyên lý tối cao[410]. Khổng giáo quan tâm đến đời sống xã hội với các mối tương quan của con người, nhưng theo ý nghĩa của cái tốt, cái đúng, chứ không theo cái đẹp, vì chỉ muốn tổ chức xã hội được quy củ theo đúng tam cương, ngũ luân, ngũ thường. Cái đẹp của xã hội là theo đúng kỷ cương phép nước, cái đẹp của con người là sống theo đúng lễ nghĩa gia phong, chứ không phải là những nét đẹp trên hình hài, thể xác (Tốt gỗ hơn tốt nước sơn; Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người). Như thế, cái đẹp được hoà nhập vào cái đúng, cái tốt, chứ không phân biệt rõ ràng, tách biệt nhau[411].

2.2. Cái đẹp qua góc nhìn thần học Công Giáo

Nền mỹ học thật sự nói lên mối quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực và rút ra được những quy luật chi phối những mối quan hệ đó chỉ xuất hiện với Công Giáo cách đây khoảng 2.000 năm.

Trước đó, Do Thái giáo, với những cuốn kinh trong bộ Thánh Kinh Cựu Ước, cũng đã nhận ra cái đẹp bắt nguồn từ Đức Chúa Giavê. Ngài là nguồn của chân thiện mỹ (x. Kn 13,5). Ngài dựng nên toàn thể vũ trụ rất tốt đẹp và tạo thành con người tốt đẹp hơn cả theo hình ảnh của Ngài và giống như Ngài (x. St 1-2). “Chính Đấng sáng tạo mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp… Vì các thụ tạo càng lớn lao, đẹp đẽ thì càng giúp nhận ra Đấng tạo thành” (Kn 13,3-5). Nhưng tội lỗi của con người đã huỷ hoại tất cả và làm cho con người phải tàn tạ, xấu xí, chết chóc, cũng như vũ trụ phải lâm vào cảnh hư ảo, tan nát, khổ nhục (x. Rm 8,20-23). Tất cả đều mong đợi ngày được giải thoát, được tự do và vinh quang, được sống mãi như Thiên Chúa. Vì thế, toàn thể lịch sử Do Thái giáo hướng về Đấng Mêsia, Đấng Kitô, Đấng Cứu thế.

Kitô giáo đã chỉ rõ Đấng ấy là Đức Giêsu Nazareth. Người là Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở thành con người để đưa thần tính vĩnh hằng, đưa chân thiện mỹ của Thiên Chúa vào trong vũ trụ vật chất, nên từ nay tất cả vạn vật cũng như từng con người đều phản ánh cái đẹp vĩnh hằng của Thiên Chúa và có giá trị vô biên. Con người không phải chỉ khám phá ra Đấng Toàn Mỹ tạo nên vẻ đẹp của vạn vật[412], từ đó suy ra Thiên Chúa là cái đẹp tuyệt đối[413], nhưng còn nhận ra “cái đẹp là thuộc tính phổ quát của mọi hữu thể” (omne ens est pulchrum). Đó là luận đề căn bản của triết học Công Giáo.

“Người tín hữu Công Giáo không phải chỉ khám phá vẻ đẹp của vũ trụ, của con người, nhưng họ cần khám phá ra vẻ đẹp của đức tin, vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô”[414]. Chính trong cuộc gặp gỡ này, đôi mắt tinh thần của họ sẽ được Người chữa lành để nhận ra chính Người đã làm cho mọi người, mọi vật trở nên tốt đẹp vô cùng nhờ cuộc phục sinh của Người.

Từ khởi điểm “Thiên Chúa trở thành người để đưa chân thiện mỹ vào trong con người và vũ trụ vật chất” đó, Công Giáo đã “rửa tội”, nghĩa là “công nhận” các nền nghệ thuật và mỹ thuật của mọi dân tộc, khởi đầu là nghệ thuật, mỹ thuật của Hy Lạp và Rôma. Nhiều công trình kiến trúc được biển đổi thành nơi thờ tự, nhiều đền thờ, thánh đường, tu viện được xây dựng ở các nước châu Âu ngay từ thế kỷ IV và còn tồn tại đến ngày nay. Nhiều tượng đài, điêu khắc, hoạ phẩm nổi tiếng của các thiên tài như Michelangelo (1475-1546), Leonardo da Vinci (1452-1519), Fra Angelico (1395-1455), Raphael (1483-1520), Titian (1485-1576), Guido Reni (1575-1642), Rembrandt (1606-1669), G. Battista Tiepolo (1696-1770), Antonio Canova (1757-1822), Pablo Picasso (1881-1973), Vincent Van Gogh (1853-1890), Edouard Manet (1832-1883),… đã được nền nghệ thuật và mỹ thuật Công Giáo đón nhận vì chúng phản ánh cái đúng, cái tốt, cái đẹp của Thiên Chúa, của con người và vạn vật.

Nghệ thuật từ đó mang tính chất thánh thiêng: “Khi nhờ hình thức thích hợp, đáp ứng với ơn gọi riêng của nó, trong đức tin và sự tôn thờ, nghệ thuật thánh gợi lên và tôn vinh mầu nhiệm siêu việt của Thiên Chúa, vẻ đẹp siêu phàm vô hình của chân lý và của tình yêu, đã xuất hiện nơi Đức Giêsu Kitô”[415].

“Mỹ thuật, chủ yếu là nghệ thuật thánh, tự bản chất nhằm diễn tả vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa, được cảm nghiệm một cách nào đó qua những tác phẩm của con người. Nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm mục đích nào khác, ngoài sự góp phần tối đa để quy hướng tâm trí con người sốt sắng về cùng Thiên Chúa”[416]. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Thư gửi các nghệ sĩ, đã nhắc nhở: “Thế giới chúng ta đang sống cần đến cái đẹp để không rơi vào thất vọng. Cái đẹp cũng như sự thật, đem lại niềm vui cho tâm hồn con người và là hoa trái quý giá có thể chịu được sự sói mòn của thời gian, nối kết được các thế hệ và làm cho họ hợp nhất trong cùng một tâm tình ngưỡng mộ”[417].

3. Diễn tả cái đẹp trong đời sống

Sau khi biết Thiên Chúa là nguồn của chân thiện mỹ và Đức Giêsu Kitô là phản ánh rõ ràng chân thiện mỹ này thì người Công Giáo chúng ta có sứ mạng và trách nhiệm diễn tả “cái đúng, cái tốt, cái đẹp” đó trong đời sống hằng ngày “để mọi người trông thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha anh em ở trên trời” (Mt, 5,16) và nhờ đó họ nhận được sự cứu độ là niềm vui, bình an, hạnh phúc và sự sống vĩnh hằng.

Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ, người Công Giáo ít quan tâm đến cái đẹp thể xác vì sợ rơi vào việc tôn sùng cái đẹp thân thể của người Hy Lạp và người Roma. Họ hầu như chỉ chú tâm đến cái đẹp tinh thần với những tài năng, đức tính và ân huệ Chúa ban. Trên con đường tìm về với Thiên Chúa là nguồn chân-thiện-mỹ, có những giai đoạn người tín hữu Công Giáo đã bỏ quên cả con người để dồn tất cả danh dự, vinh quang cho Thiên Chúa. Có những thời kỳ người tín hữu Công Giáo bị ảnh hưởng của phái Khắc kỷ, thuyết Nhị Nguyên nên hạ thấp giá trị thân xác con người, coi nó là nguồn của tội ác để chiều theo dục vọng. Người ta đã phải vẽ thêm các lá cây che kín những phần thân thể nhạy cảm trong các hoạ phẩm, tượng đài[418]. Công đồng Vaticanô II đã sửa sai điều này khi xác định: “con người là một chủ vị duy nhất có thân xác và linh hồn…Vì thế, không được khinh miệt đời sống thể xác con người, trái lại phải coi thân xác là tốt lành và đáng tôn trọng vì được Thiên Chúa tạo thành và sẽ được sống lại trong ngày sau hết”[419].

Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Thư gửi các nghệ sĩ, cũng đã nhắc đến câu nói của nhà văn Dostoevsky (1821-1881): “Cái đẹp sẽ cứu độ thế giới”[420]. Cái đẹp này không phải chỉ là lý tưởng của Thiên Chúa giáo như giáo sư Lê Ngọc Trà đã hiểu[421], sẽ giúp nhân dân Nga thoát cảnh đau khổ và bế tắc của xã hội vào thế kỷ XIX. Cái đẹp đó được hiểu là chính Thiên Chúa, như nguồn chân thiện mỹ và là chính Đức Giêsu đầy quyền năng để đưa toàn thể nhân loại và vũ trụ đi vào con đường tình yêu và giải thoát thật sự.

Đứng trước sự suy đồi của nền luân lý vì con người loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống, người Công Giáo có sứ mạng phải diễn tả cái đẹp trong đời sống để cứu độ thế giới, cứu độ dân tộc mình. “Đạo đức, lối sống, nhân cách, văn hoá của người Việt Nam chúng ta nhiều nơi, nhiều lúc đang làm xấu hình ảnh đất nước, con người, văn hoá Việt Nam” [422]. Cái dối trá, gian ác, xấu xí, rõ ràng cứ diễn ra trước mắt mọi người trong mọi lĩnh vực xã hội, trên các phương tiện truyền thông, trong chính quyền, thậm chí trong cả các lĩnh vực tôn giáo tâm linh, chứng tỏ nhiều người Việt Nam đang vô cảm, hờ hững, lạnh lùng với chân thiện mỹ.

Nếu không có những hành động kịp thời để diệt trừ cái sai, cái ác, cái xấu, và thúc đẩy cái đúng, cái tốt, cái đẹp phát triển trong đời sống cộng đồng xã hội, thì sợ rằng một ngày nào đó dân tộc thân yêu và hào hùng này sẽ không tồn tại. Đó là lời cảnh báo tha thiết của chúng tôi trước nguy cơ và thách đố đối với cái đẹp trong xã hội hiện nay.

Để hoàn thành sứ mạng này, chúng ta không phải chỉ cầu nguyện, ăn chay và làm các việc bác ái. Chúng ta cần phải học hỏi chân thiện mỹ thật sự là gì, rồi diễn tả ra như thế nào thành ý tưởng, lời nói, cử chỉ, hành động trong đời sống cá nhân, gia đình, xã hội. Việc này cần phải nhờ đến các uỷ ban của Hội đồng Giám mục Việt Nam về nghệ thuật thánh, giáo lý đức tin, phụng vụ, gia đình, giới trẻ, giáo dân…. nghiên cứu các bài học và giảng dạy, rồi phổ biến trong các tầng lớp giáo dân và hội đoàn Công Giáo. Giáo Hội Công Giáo Hàn quốc đã làm được điều này từ 20 năm nay và đã biến đổi dân tộc Hàn để từ một đất nước nghèo khổ, lạc hậu trở thành một trong 10 nước phát triển hàng đầu thế giới và số tín hữu tin vào Đức Giêsu Kitô từ 1% vào năm 1949 nay tăng đến 33% dân số.

Khi hiện ra với ông Môsê trên núi Khoreb (x. Xh 3,1-8. 13-15), Thiên Chúa đã tự giới thiệu mình là Đấng Hiện Hữu, để nhắc nhở chúng ta rằng tất cả những gì “đang có” đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Chính Ngài là nguồn của sự sống, hạnh phúc, tình yêu, nguồn của chân thiện mỹ và ơn cứu độ. Ngài đã chia sẻ những gì mình có cho mọi loài nên cái đẹp của Ngài chan hoà trong vạn vật. Nhưng trong thời đại gần đây, người ta muốn chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một trong những giả thuyết gây nên sự chối bỏ ấy, đó là Thuyết Tiến hoá của Darwin (1809-1882). Rất nhiều ý thức hệ và chủ nghĩa đã dựa vào giả thuyết này như một tiền đề để xác định rằng: vạn vật, và ngay cả những gì thuộc về tinh thần, đều bắt nguồn từ sự tiến hoá ngẫu nhiên của vật chất chứ không phải do tác động của một ai khác sáng tạo nên.

Ý thức hệ Hiện sinh vô thần và Cộng sản duy vật đã dùng ngay giả thuyết khoa học đó để chối bỏ nguồn của hiện hữu là Thiên Chúa. Nhiều người hiện nay, nhất là các em học sinh, sinh viên trong đất nước chúng ta, tin thuyết tiến hoá như là một chủ thuyết của khoa học, một sự thật trong đời sống mà không ngờ đó chỉ là một giả thuyết và giả thuyết này đang bị các nhà khoa học chống đối kịch liệt vì nó phản khoa học, tự mâu thuẫn và gây tác hại nặng nề trong đời sống con người [423]. Chúng ta không thể sống đẹp nếu chối bỏ nguồn đẹp là Thiên Chúa!

Lời kết

Vì vậy, người tín hữu Công Giáo Việt Nam chúng ta quyết tâm từ nay sống đẹp và diễn tả cái đẹp của Chúa trong cách ăn nói, trang điểm, học hành, làm việc, vui chơi của mình. Chúng ta sẽ tích cực dấn thân trong mọi môi trường xã hội, kết kợp với nhau để làm chứng cho chân thiện mỹ, cộng tác với mọi người để phục vụ lợi ích chung, sẵn sàng chịu những thua thiệt, mất mát trong đời sống để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, nguồn đẹp cụ thể của Chúa Cha.

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn có nghĩ rằng mình nên ăn mặc và trang điểm thật đẹp khi đi dự thánh lễ không? Tại sao?

2. “Sống đẹp như Giêsu” bao gồm những điểm cụ thể nào?

3. Bạn nghĩ gì về thuyết tiến hoá của Darwin?

Bài 27: Tẩy sạch bụi trần

(đang soạn)

Bài 28: Giấc ngủ bình an

Lời mở

Ngủ là một hành động hết sức cần thiết cho sức khoẻ con người. Qua giấc ngủ, các tế bào có thời gian để phát triển, các mô có thời gian để phục hồi, nhất là các mô thần kinh, các hệ cơ quan như hệ tiêu hoá, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp có thời gian được nghỉ ngơi. Tuy nhiên, nhiều người chúng ta đã coi thường giấc ngủ, ngủ không đủ giờ, hoặc ngủ không đúng giờ theo đồng hồ sinh học của cơ thể do áp lực của công việc, do những đam mê thúc đẩy, nên đã làm thương tổn đến sức khoẻ toàn diện của mình. Vì thế, trong phạm vi bài này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về giấc ngủ để có thể tìm được một giấc ngủ bình an.

1. Ngủ là gì?

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, Ngủ là nhắm mắt lại, tạm dừng mọi hoạt động chân tay và tri giác, bắp thịt dãn mềm, các hoạt động hô hấp, tuần hoàn chậm lại, toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi – một trạng thái sinh lý thường có tính chất chu kỳ theo ngày đêm[424].

Phân tích định nghĩa trên đây chúng ta thấy người ta chỉ mới mô tả ngủ như một hoạt động thường có của con người, nhưng chưa định nghĩa thật sự ngủ là gì. Ngủ không phải là nhắm mắt, vì có một số người khi ngủ chỉ khép hờ đôi mắt hay có khi mở to mắt như Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí chương 81, khiến hai thuộc hạ lo sợ không dám giết ông.

Ngủ là hoạt động tự nhiên theo định kỳ mà những cảm giác và vận động tạm thời bị hoãn lại một cách tương đối, với đặc điểm dễ nhận thấy là cơ thể bất tỉnh hoàn toàn hoặc một phần và sự bất động của hầu hết các cơ bắp[425]. Giấc ngủ là một trạng thái đồng bộ cao, tăng cường sự tăng trưởng và trẻ hoá hệ thống miễn dịch, thần kinh, xương và hệ thống cơ bắp. Rất cần thiết cho sự sống đối với tất cả các động vật có vú, tất cả các loài chim, nhiều loại bò sát.

Có người ngủ mà đầu óc vẫn suy nghĩ nên khi thức dậy cảm thấy mệt mỏi hơn khi thức. Có những người không ngủ, nằm hay ngồi, giữ nhịp thở đều, tâm trí thanh thoát, nên cảm thấy thoải mái, khoẻ khoắn, giống như tâm trạng của những thiền sư hầu như không ngủ trong ba tháng an cư kiết Hạ.

Nếu đo bằng điện não đồ, ta sẽ phân biệt được ngủ nông và ngủ sâu. Điện não đồ sẽ báo trên màn hình để ta thấy những bước sóng ngắn và dày khi ta thức và có suy nghĩ, bước sóng rộng và thưa khi ngủ nông, bước sóng rộng nhất và thưa nhất khi ngủ sâu. Ngủ nông là tình trạng của người đã đi vào giấc ngủ nhưng trí não vẫn hoạt động một cách nào đó. Còn ngủ sâu là trí não hầu như ở trong trạng thái thư dãn hoàn toàn.

Giấc ngủ sâu, đó là giấc ngủ với trạng thái thần kinh thư dãn hầu như hoàn toàn. Chúng ta có thể kiểm tra qua biểu đồ của những làn sóng thần kinh trên màn hình khi dùng những dụng cụ để đo điện não đồ. Những cơ bắp không bị căng cứng, khí thở đầy đủ. Lúc thức dậy ta cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, không rơi vào tình trạng mệt mỏi, đau nhức.

Chu kỳ thức ngủ hằng ngày của ta bị tuyến tùng chi phối. Đây là tuyến nhỏ chỉ dài khoảng 8mm, nằm gần trung tâm não, phía sau đồi thị, có hình dạng một quả thông. Tuyến này tiết ra hormon melatonin có liên quan trong việc điều hoà nhịp ngày-đêm hay chu kỳ thức-ngủ của cơ thể[426].

Tuyến này có liên quan với đường thị giác, mắt càng thu nhận nhiều ánh sáng thì hoạt động của tuyến tùng giảm đi khi có ánh sáng mạnh, do đó vào ban ngày, nồng độ melatonin thấp. Nồng độ này tăng cao vào ban đêm với lượng tiết ra tăng khoảng 10 lần làm cho ta cảm thấy buồn ngủ. Vì thế chúng ta nên nhắm mắt và tắt đèn hoặc giảm ánh sáng trong phòng cho dễ ngủ[427].

2. Nguyên nhân gây mất ngủ

Chúng ta có thể phân biệt nhiều nguyên nhân gây mất ngủ trong những lĩnh vực khác nhau. Mất ngủ thể lý: do tuổi tác, thiếu oxy não, bệnh cường giáp, bệnh tim, bệnh dạ dày, suy giảm nội tiết tố,… Mất ngủ tâm thần: áp lực, căng thẳng, chơi game, trầm cảm,… Mất ngủ tâm lý: lo sợ, tức giận, ghen tuông…. Mất ngủ tâm linh: do tác động của tinh thần khác.

Vì thế, chúng ta phải tìm ra được nguyên nhân gây mất ngủ cho mình.

– Nguyên nhân dễ gây mất ngủ nhất là thiếu khí trong bộ não. Người Việt thường thở rất yếu, có tới 90% người thở không đủ lúc hoạt động ban ngày. Ban đêm ta thường thở ít hơn ban ngày khoảng 25% nên tình trạng thiếu khí còn nặng nề hơn. Để tránh tình trạng chết vì ngạt khí, cơ thể tự bảo vệ bằng cách không cho ta ngủ sâu, ta cứ ngủ chập chờn cho đến lúc tình trạng thiếu khí cao nhất thì cơ thể sẽ vùng chỗi dậy để lấy lại hơi thở. Khi bộ não thiếu khí thì những hình ảnh, tư tưởng, âm thanh hoà trộn với nhau một cách lộn xộn tạo ra những giấc mơ đủ loại. Ví dụ: ta mơ chạy nhanh, té ngã, rớt xuống sông, xuống biển, bị tai nạn… Chính lúc khủng khiếp nhất, ta vùng chỗi dậy. Đó là lúc cơ thể lấy lại hơi thở.

– Nguyên nhân mất ngủ cũng có thể bắt nguồn từ những hoạt động làm cho bộ não tỉnh, dù rằng thời điểm đó đồng hồ sinh học đã yêu cầu ta ngủ. Thí dụ: 10 giờ tối ta bắt đầu buồn ngủ. Những hoạt động như tắm bằng nước quá lạnh, tập trung trí não cho những trò chơi trực tuyến trên mạng, những bộ phim gay cấn, những trang sách kích động, bài ca hay điệu nhạc sôi động, thậm chí những món ăn, đồ uống quá khuya làm cho bao tử phải vận hành để tiêu hoá cũng làm ta khó ngủ và mất ngủ.

– Chứng khó ngủ cũng có thể bắt nguồn từ tình trạng tâm lý khi nằm trên giường. Thí dụ: khi ta gặp biến cố đau thương như người thân mới mất, hoặc khi tâm trí bị kích thích với những cảm xúc mạnh (giận quá, vui quá) làm ta khó ngủ. Tình trạng này liên hệ đến nhịp tim: khi nhịp tim nhanh, ta cần nhiều oxy nên không thể ngủ khi thiếu khí.

– Chúng ta không thể không nói đến chứng mất ngủ do tình trạng tâm linh. Điều này nghe có vẻ như mê tín, nhưng các bệnh viện hiện đại trên thế giới đã ghi nhận và chúng tôi cũng đã từng chữa trị cho những bệnh nhân có chứng mất ngủ loại này.

Thí dụ điển hình: Chúng tôi gặp một bệnh nhân là một phụ nữ khoảng 30 tuổi, luôn thức giấc vào khoảng 1 giờ sáng. Sau khi chữa trị tại nhiều bệnh viện, xét nghiệm, điện não đồ, tâm đồ và các trắc nghiệm tâm thần, tâm lý… các bác sĩ không tìm ra nguyên nhân. Chị được mẹ ruột dẫn đến với chúng tôi. Khi ngồi ở phòng đợi, chị vui vẻ cười nói với các bệnh nhân khác. Nhưng khi bắt đầu ngồi trước mặt chúng tôi, chị đột ngột im lặng. Người mẹ, khoảng 60 tuổi, liền nói: “Đây là lúc con ma xuất hiện, xin ngài đuổi nó đi”. Tôi nói với bà rằng chúng tôi không xua đuổi ai cả; và nói với người bệnh: “Chị có tâm sự gì, xin kể cho chúng tôi nghe để có thể giúp chị”.

Chị bỗng oà khóc nức nở, chỉ tay vào bà cụ rồi nói: “Bà ngoại cứ dẫn mẹ con đi thầy pháp để trục xuất con”.

Tôi hỏi: Con là ai? – Con là Hoàng.

Con mấy tuổi? – Con 7 tuổi.

Bà cụ nghe trả lời, liền nói với tôi: “Đúng là đứa nhỏ đã bị phá thai cách đây 7 năm”.

Chúng tôi hiểu, theo lời khai báo của bệnh nhân, vì cha của đứa bé bỏ chị, nên chị phải phá thai. Mỗi đêm cháu về với chị. Cháu không muốn chị quen biết bạn trai nên nhiều lúc đi ăn uống với họ chị đột ngột trở nên hung dữ, nói những lời khó nghe.

Sau khi an ủi đứa bé, chúng tôi hứa dâng lễ cầu nguyện mỗi tuần để bé được siêu thoát và yêu cầu em ra khỏi người mẹ để cho mẹ được an lành. Đứa bé nghe lời chúng tôi, an tâm và mỉm cười qua khuôn mặt của người mẹ. Rồi chị đột ngột đứng lên. Nhắm mắt lại, ngã người ra sau và bất tỉnh trong vòng một vài giây. Chúng tôi biết ý nên dìu chị ngồi xuống ghế. Chị lấy tay quệt nước mắt và hỏi: “Tại sao tôi khóc?”. Tôi trả lời: “Con chị vừa mới về nói chuyện với chúng tôi, cháu bé đã khóc và kể lại cho chúng tôi biết tại sao cháu lại về với chị”. Sau khi chúng tôi cầu nguyện và làm phép xức dầu, chị hoàn toàn lành mạnh và sau đó không còn thức dậy vào 1 giờ sáng. Chị cũng không còn những thái độ giận dữ đột ngột như trước kia.

3. Một số thói quen gây nên chứng khó ngủ

* Nằm ngủ không đúng cách: nằm sấp, nằm nghiêng, gối đầu quá cao, gối quá cứng, vắt tay lên trán, nằm suy nghĩ… Tư thế ngủ tốt nhất vẫn là nằm thẳng, tay xuôi, các cơ bắp thư dãn không căng cứng.

* Môi trường: phòng kín, thiếu cửa sổ, ô thông gió, phòng nhỏ nhưng đông người ngủ, chưng hoa tươi và cây cảnh to trong phòng. Trong phòng ngủ không nên trưng bày hoa tươi, cây cảnh vì thán khí của hoa, cây cảnh toả ra gây khó ngủ, có thể chết ngạt. Phòng khô quá, nhất là vào mùa Đông ở các miền lạnh, thường mở máy sưởi. Vì thế người ta thường đặt một ấm nước nóng trong phòng, để hơi nước toả ra giúp phòng không quá khô.

* Một nguyên nhân bí ẩn thường bị quy về “phong thuỷ”: một số người có dòng điện mạnh không nằm theo hướng từ trường Nam Bắc của trái đất hay nằm ngủ dưới sàn nhà sát mặt đất, có dòng nước ngầm chảy bên dưới mà lại nằm ngược dòng hoặc nằm cắt ngang dòng nước.

* Đi tiểu đêm nhiều lần do uống nhiều nước trước khi ngủ, nhất là khi van dẫn nước tiểu ở bàng quang suy yếu. Ta có thể chạy chữa chứng này bằng cách tập thể dục và uống vừa đủ nước trước khi ngủ.

* Mặc quần quá chật khi ngủ. Nên mặc những quần áo ngủ rộng, nhất là đồ lót, để các cơ bắp được thư dãn.

* Cố tình vận dụng não khi ngủ. Có thời kỳ người ta ứng dụng khám phá về cõi vô thức để học trong khi ngủ, vì lập luận rằng thời gian ngủ chiếm đến một phần ba ngày sống nên lợi dụng học trong lúc ngủ để tiết kiệm thời giờ. Hơn nữa khi ngủ, cõi vô thức vẫn có thể tiếp tục làm việc, nên người ta nghe những đoạn ghi âm học ngoại ngữ, học kỹ thuật, những sách truyện ghi âm… để tiết kiệm thời giờ ban ngày. Đây là một hành động sai lầm gây nguy hại, tổn thương cho bộ não.

Quả thật, bộ nhớ trong não cho phần ký ức vẫn tiếp tục làm việc để sắp xếp dữ liệu mà ta thu nhận ban ngày. Các vùng của não như nhân đuôi, hồi đai, vùng điều hành trung tâm, vùng dưới đồi, hành khứu giác, thể núm, thể tam giác, nhân vỏ hến, đồi thị, hồi hải mã, cầu não, tiểu não luôn hoạt động khi ta ngủ để lưu trữ và gợi nhớ lại các sự kiện gồm đủ loại thông tin, sự việc, kinh nghiệm, hoàn cảnh, trạng thái cảm xúc của ta vào thời điểm xảy ra sự kiện[428]. Vì thế những người có giấc ngủ tốt thường có trí nhớ tốt.

Nhưng khi chúng ta nghe những bài học lúc ngủ thì không phải chỉ có phần ký ức làm việc mà toàn thể bộ não phải vận hành theo âm thanh lọt vào tai. Âm thanh được phân tích trên các vùng thuộc vỏ não ngôn ngữ, vỏ não cảm xúc, vỏ não điều hành trung tâm nên vẫn cần năng lượng để hoạt động[429].Hành động học trong khi ngủ này lâu dài sẽ ảnh hưởng nặng nề đến thần kinh vì bộ não trong lẫn vỏ não bên ngoài không được nghỉ ngơi.

Một ít người có thói quen mở những băng nhạc nhẹ nhàng, êm dịu hay nghe những sách truyện ghi âm sẵn để ru ngủ. Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, tiếng nhạc hay tiếng đọc truyện đều đều có thể dẫn ta vào giấc ngủ nhưng nó vẫn kích thích những phần khác của bộ não hoạt động. Ta nên tập thói quen ngủ trong bầu khí yên tĩnh, không có bất cứ tiếng động của âm thanh là tốt nhất.

4. Đố ai nằm ngủ không mơ!

Nhạc sĩ Phạm Duy đã diễn tả trong bản tình ca “Đố ai” nằm ngủ không mơ”? và xem giấc mơ như là một hoạt động bình thường khi nằm ngủ. Bác sĩ Lương Lễ Hoàng còn cho giấc mơ khi ngủ là sinh hoạt cần thiết của người bình thường[430] .

Thật ra, mơ trong lúc ngủ có thể nói là một hoạt động bất thường của tình trạng ngủ không sâu. Khi đó trí não vẫn còn tiếp tục làm việc hoà trộn các âm thanh, hình ảnh, ý nghĩ, mơ ước, cảm xúc và cảm tình đã thu nhận được trong ngày hay trong quá khứ. Khi bị thiếu khí thở trong giấc ngủ trưa hay tối, những giấc mơ hỗn độn, gọi là ác mộng, có thể xuất hiện do những dữ liệu trong bộ não phối hợp lộn xộn với nhau. Thí dụ: ta mơ bị ma đuổi, chó đuổi phải cắm đầu chạy rồi rớt xuống hố sâu, vực thẳm, chính lúc rớt xuống thì giật mình tỉnh dậy. Đấy là lúc cơ thể, nhất là bộ não, bị thiếu khí trầm trọng, chức năng tự động bảo vệ của cơ thể đã thúc đẩy để ta vùng dậy lấy lại hơi thở, nếu không sẽ bị chết ngạt trong khi ngủ. Có những hiện tượng mà ngôn ngữ bình dân gọi là “bóng đè”, cảm thấy tức ngực, khó thở. Đó hầu như chỉ là những biểu hiện của tình trạng thiếu khí khi ngủ mà thôi.

Khoa tâm lý cũng giải thích những giấc mơ như một cách để giải toả những bản năng, khát vọng bị dồn nén. Thí dụ: những “giấc mơ ướt” khi bản năng sinh lý được giải toả qua những giấc mơ được âu yếm, giao hợp với người mình yêu thương. Giấc mơ còn là một dịp để diễn tả những mơ ước, tình cảm hoặc những cảm xúc bù trừ khi trong cuộc sống thực tế người ta không thực hiện được. Thí dụ: mơ thấy kẻ thù phải quỳ xuống xin lỗi mình, được ăn những bữa cơm hết sức thịnh soạn, được tham dự những hội nghị quan trọng trong khi mình chỉ là một người yếu đuối, đói khổ, thấp hèn. Giấc mơ cũng là nguồn tưởng tượng cho những sáng tác văn chương hay những phát minh khoa học như mơ một con ngựa bay khi hoà trộn hình ảnh của con ngựa và con chim có cánh vào nhau.

Rất nhiều những giấc mơ mang tính cách tôn giáo khiến người ta tưởng như mình thật sự được gặp thấy Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Đức Phật Thích Ca, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát… hiện ra với mình, an ủi và dạy dỗ mình. Khuôn mặt hiền từ, sáng láng do những ánh điện, hào quang trong đời sống thực tế hoà trộn với niềm tin, mong ước, đau khổ, đồng thời do tình trạng thiếu khí khiến các dữ liệu trong quá khứ hoà trộn vào nhau có thể tạo nên những giấc mơ đạo đức. Chúng ta đừng vội hành động theo những giấc mơ đó, tưởng lầm những đấng thiêng liêng ra lệnh cho mình, nhưng cần phải thận trọng, khôn ngoan, phân tích rõ ràng! Nhất là hành động theo những giấc mơ để mua vé số, chơi số đề, số đuôi… thì có ngày sạt nghiệp!

Xét về mặt tâm linh, không phải giấc mơ nào cũng là hiện tượng thiếu khí. Có những giấc mơ bắt nguồn từ sự tác động thật sự của Thiên Chúa, thần linh hay ma quỷ. Thiên Chúa có thể hướng dẫn con người qua những giấc mơ. Thánh Kinh Cựu Ước (x. St 20,3; 28,12; 31,11; 31,24; 1Sm 3,1) và Tân Ước (x. Mt, 1,19-25; Mt 2, 13-14; Mt 2,19-20; Lc 2,26) cũng nói nhiều việc Chúa hiện ra với con người qua những giấc mơ của Giuse (x. St 37,5-11), những lời giải mộng của Giuse (x. St 40,1-22; 41,1-36), của Daniel (x. Đn 2,1; 4,19, …). Các thần thánh cũng có thể tác động đến chúng ta qua những giấc mơ để hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống trần thế (x. Mt 1,20; 27,19). Ma quỷ cũng có thể tác động, ảnh hưởng đến con người qua những giấc mơ, qua những cơn cám dỗ khi chúng thôi thúc họ hành động xấu xa (x. Mt 1,11; Mc1,12-13; Lc 4,1-13;…). Điều này nói ra có vẻ như mê tín, nhưng thật sự chúng tôi đã chữa khá nhiều những bệnh nhân mất ngủ vì những lý do tâm linh. Vì thế, đối với những giấc mơ tôn giáo, chúng tôi vẫn khuyên bảo cần phải thận trọng, khôn ngoan và được hướng dẫn bởi những nhà chuyên nghiệp.

5. Ngủ theo văn hoá Công Giáo

Khi nói đến giấc ngủ, nhiều bản văn Thánh Kinh đồng hoá nó với cái chết là giấc ngủ ngàn thu (x. Tv 13,4; Ga 11,11; 1Cr 15,20; Ep 5,14; 1Tx 4,14) hoặc là ngủ mê trong sự lười biếng (Cn 6,9; 20,13), mất ý thức (x. Is 29,10; Gr 51,39; Lc 9,32) cho những tham vọng, dục vọng (x. 1Cr 11,30; 1Tx 5,6). Vì thế, Chúa mời gọi con người “hãy tỉnh thức” (x. Mc 13,36; Lc 22,46; Rm 13,11) như Đức Giêsu nhắc nhở: “Sao anh em lại ngủ? Dậy mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,46) và thánh Phaolô cũng mời gọi: “Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ” (1Tx 5,6).

Người Công Giáo được mời gọi quan tâm đến giấc ngủ của mình để không những tạo được sự nghỉ ngơi cho thể xác sau những giờ làm việc vất vả (x. Cn 20,13; Hc 5,11) mà còn tìm lại sự an bình cho tâm hồn. Các Thánh vịnh Công Giáo như muốn nhắc nhở chúng ta đi tìm một giấc ngủ an bình: Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho con được sống yên hàn (Tv 4,9; x. Cn 3,24). Hình ảnh Chúa Giêsu thiếp ngủ trên con thuyền chòng chành giữa cơn sóng dữ đã gợi ý cho ta giữ tâm hồn bình an giữa muôn vàn biến động trong cuộc sống (x. Mc 4,35-41; Lc 8,22-25).

Trong cuộc sống đầy náo động hiện nay, nhiều người chúng ta thường để cho công việc lôi kéo hay những đam mê, giải trí cuốn hút khiến ta không giữ được sự điều độ để có thể ngủ đúng giờ và đủ giấc mỗi ngày. Chúng ta cần phải nhắc nhở mình rằng dù có thức khuya để làm thêm thì việc cũng vẫn còn và đam mê cũng không dứt. Đây chính là lúc ta phải dùng ý chí để ngưng việc, ngưng trò giải trí chuẩn bị cho giấc ngủ cần thiết mỗi ngày.

Để tìm được giấc ngủ an bình, điều quan trọng nhất chính là giữ được tâm hồn bình an, phó thác mọi sự, mọi việc trong tay Chúa. Thiên Chúa là người cha nhân từ muốn cho con cái của mình nghỉ ngơi như chính Ngài đã ra luật cho con người và vũ trụ với vòng quay sáng-tối của trái đất, và chính Ngài cũng dành ngày thứ bảy để nghỉ ngơi trong tuần (x. St 2,1-3). Khi ta quyết tâm làm cho xong việc, bất kể giờ ngủ nghỉ, là chúng ta làm buồn lòng người cha nhân hậu và gây nên những tổn thương cho thể xác cũng như tinh thần của mình.

Tâm thế tiếp theo là giữ cho tinh thần và thể xác nằm yên trong trạng thái thư giãn trọn vẹn với cách nằm thẳng, xuôi tay chân và cơ bắp thư giãn. Một ít người lớn hiện nay vẫn còn thói quen khi ngủ ôm gối. Có những gối ôm rất to khiến cơ bắp người ôm căng cứng và sống lưng không thẳng khi họ nằm nghiêng. Thật ra, thói quen này bắt nguồn từ khi mẹ chèn những gối ôm cho các bé để chúng không lật sấp và úp mặt vào gối nhằm tránh bị ngạt thở.

Giữ cho bộ não thư giãn mới là điều khó, nhất là những ai có thói quen nằm suy nghĩ trước lúc ngủ. Tâm trí lúc đó đặt ra nhiều câu hỏi, trí nhớ lại gợi ý rất nhiều sự kiện xảy ra trong ngày khiến người ta khó ngủ. Một phương thế giúp ta loại bỏ những ý tưởng hiện lên trong trí là ta nằm thẳng, tập thở theo nhịp sau đây:

– Hít vào từ từ bằng mũi: thể xác ta hít dưỡng khí vào thì tinh thần cũng hít thần khí. Ta hãy tưởng tượng một luồng khí mãnh liệt đi vào trong con người mình từ đỉnh đầu, chạy dọc theo xương sống và lan toả khắp người. Đó là Thần Khí Đức Kitô thổi trên các môn đệ khi Người hiện ra với họ (x. Ga 20,19-23). Đó cũng là thần khí mà Chúa Thánh Thần ban cho ta qua ân sủng, tình yêu, bình an.

Vừa hít vào ta vừa đọc thầm lời nguyện: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí của Chúa cho con”. Ta sẽ cảm nghiệm được ơn bình an, sức mạnh, tình yêu của Chúa tràn ngập trong ta, giúp ta phó thác mọi sự cho Chúa trong giấc ngủ.

– Thở ra từ từ bằng miệng: thể xác ta thở thán khí ra thì tinh thần ta cũng đẩy những uế khí, tà khí, hay khí dơ của tinh thần ra bên ngoài. Khí dơ của tinh thần là những buồn phiền, chán nản, giận hờn, thất vọng, ghen tuông, sợ hãi và tất cả những gì tiêu cực trong con người ta. Vừa thở ra ta vừa nói với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin xua đuổi tà khí ra khỏi người con”.

Mỗi lần thở như thế là ta vừa nhận được sức mạnh thần thiêng, vừa thanh tẩy con người dơ bẩn của mình. Thở được 3-5 phút như thế chúng ta sẽ chìm vào giấc ngủ an bình. Việc thở hít thần khí này còn nói lên hiệu quả thanh tẩy tâm trí, vượt qua những cơn cám dỗ của ma quỷ muốn lôi kéo ta tìm đến những hoài niệm, hình ảnh dâm đãng cũng như dẫn đến thủ dâm.

Lời kết

Tìm hiểu về giấc ngủ tự nhiên và siêu nhiên, chúng ta thấy mình nhiều lúc còn xem thường giấc ngủ khiến cho thể xác không khoẻ mạnh và tâm trí chưa phát huy được những sức mạnh kỳ diệu của tinh thần. Chúng ta cần lập lại thời gian biểu cho hoạt động, ngủ nghỉ của mình và quyết tâm thực hiện để cảm nghiệm được những hiệu quả lớn lao của giấc ngủ trong đời sống điều độ của mình.

Câu hỏi

1. Mỗi ngày bạn dành được bao nhiêu giờ cho ngủ đêm và ngủ trưa?

2.Giấc ngủ của bạn như thế nào? Hãy tìm ra nguyên nhân khiến bạn mất ngủ.

3. Bạn thường có những giấc mơ nào?

4. Khi thức dậy, bạn thường có tâm trạng nào: thoải mái, vui vẻ, năng động, tích cực hay ngược lại?

Bài 29: Về với cội nguồn

Lời mở

Cuộc hành trình của mỗi người chúng ta ở trần thế kết thúc với cái chết như một cánh cửa để ta bước qua với niềm tin tưởng và hy vọng vì được trở về với Thiên Chúa là nguồn hiện hữu của mình và với lòng thanh thản vì được giải thoát không còn bị ràng buộc bởi vật chất, không gian, thời gian. Cha ông ta vẫn thường nói: “sống gửi, thác về” (sinh ký, tử quy), nhưng lại chưa xác định được sẽ về đâu và về như thế nào nên hầu như mọi người đều sợ hãi khi bước vào cuộc hành trình bất định.

Hơn nữa, khi nghĩ đến những sự việc đi kèm với cái chết như phán xét, thiên đàng, hoả ngục, luyện ngục, …, người ta lo sợ, ngại ngùng, vì không biết chúng thật sự là gì và sẽ được thực hiện ra sao do hiểu sai về chúng. Vì thế ta muốn tìm hiểu về chúng để luôn sống trong niềm vui và hy vọng.

1. Chết là một cuộc thăng hoa

1.1. Chết là gì?

Theo định nghĩa truyền thống, chết là khi tim ngừng đập và không còn hô hấp, tiếp theo là sự hư hỏng và phân huỷ của cơ thể. Tuy nhiên, với các kỹ thuật y khoa hiện đại săn sóc người hấp hối, người ta có thể duy trì hoạt động của các cơ quan hô hấp, tuần hoàn trong khi các chức năng não đã bị mất một cách vĩnh viễn. Người bệnh chỉ duy trì một đời sống thực vật, vô tri giác, hôn mê kéo dài có thể vài năm. Do đó ranh giới giữa sự sống và cái chết ngày càng trở nên mờ nhạt[431].

Vì thế, y khoa thường phân biệt chết lâm sàng và chết não. Chết lâm sàng là khi các phương pháp khám lâm sàng cho phép xác định là chết với các dấu hiệu như tim ngừng đập, phổi ngừng thở. Chết não là khi dùng máy đo hoạt động của não, người ta thấy đường biểu diễn sóng não chỉ còn là một đường thẳng, chứng tỏ não không còn hoạt động, các mô bắt đầu phân huỷ. Căn cứ vào tiêu chuẩn chết não, người đó được cho là chết thật và từ đó mới được phép lấy đi các cơ quan có thể chưa phân huỷ của họ như gan, thận, tim… để cấy ghép cho những người khác. Như thế, chết theo khoa học là chấm dứt tất cả các chức năng sinh lý.

Cái chết bắt nguồn do bệnh tật, do chấn thương, do thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết và cuối cùng là do tuổi già. Với những tiến bộ của khoa học, người ta hy vọng trong vài chục năm nữa có thể kéo dài tuổi thọ con người đến 150 hay 200 năm. Nhưng có một điều chắc chắn là ai cũng sẽ chết!

1.2. Cái chết có thật không?

Sở dĩ khó định nghĩa được cái chết mà chỉ có thể mô tả vì nó không có thật. Chết không phải là một thực tại, một cái gì có thật như cái nhà, cái xe hay như tình yêu, hạnh phúc, mà chỉ là mặt trái của sự sống. “Chết là hết sống”. Vì thế, sự sống mới là thực tại, mới là thật để ta quan tâm và thể hiện trong cuộc đời. Một người đang sống vui vẻ khoẻ mạnh, tự nhiên lăn đùng, giãy vài cái, rồi nằm im bất động. Sờ vào người, thấy tim không còn đập, không còn thở, ta bảo người đó vừa chết. Chết bởi vì người này không còn sống. Vậy nếu chết không có thật thì ta sợ nó làm gì?

Có người nói cái chết là do Thiên Chúa tạo nên vì “Chúa làm cho sống và cũng làm cho chết”. Có người lại nghĩ cái chết là do Tử Thần quyết định hay do Diêm Vương cai quản. Thật ra, đó chỉ là những kiểu nói nhân cách hoá cái chết, chứ không có vị thần nào làm chủ cái chết cả. Còn Âm phủ, địa ngục cũng chỉ là nơi chốn tưởng tượng do con người vẽ ra để ngăn ngừa người ta làm ác.

Theo Thần học Công Giáo, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa hằng sống, nên không ai chết cả. Mọi người đều đang sống và sống mãi mãi, dù thân xác vật chất của họ đã tiêu tan. Thân xác đó sẽ sống lại vào ngày tận thế khi vật chất được ổn định, không còn chuyển hoá từ vật này sang người khác và thăng hoa nhờ cuộc sống lại của Đức Giêsu Kitô. “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống”[432] “vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống”[433].

1.3. Tại sao có cái chết?

Các tôn giáo khác không giải thích được tại sao có cái chết vì không hiểu cái chết thật sự là gì. Chỉ Kitô giáo mới nói rõ cho ta về nguồn gốc của cái chết: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Bởi vì Ngài sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, và mọi loài trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu”[434].

Thiên Chúa là nguồn sự sống nên mọi loài được Chúa tạo dựng đều sống động, riêng con người và các thiên thần còn được chia sẻ sự sống vĩnh hằng của tinh thần. Tuy nhiên, vì con người được Chúa ban cho tinh thần tự do để đáp lại tình yêu, thì cũng được tự do chối từ tình yêu ấy. Giống như một số Thiên Thần dùng tự do để chối từ Thiên Chúa nên biến thành quỷ dữ thì con người cũng đã chiều theo cơn cám dỗ của quỷ dữ để chối từ tình yêu Thiên Chúa, cắt đứt sự hiệp thông với Thiên Chúa là nguồn sống bất diệt, nên con người phải chết cả xác lẫn hồn. Rồi vạn vật vì liên hệ mật thiết với con người, nên cũng phải chịu sự hư nát vì tội lỗi của con người[435].Thánh Kinh nói rằng: “Thiên Chúa đã sáng tạo con người, cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết”[436].

Thiên Chúa không tạo nên cái chết và quỷ dữ cũng không gây nên cái chết, chính tự do của con người khi cắt đứt với nguồn sống đã tạo nên cái chết cho mình và vạn vật.

1.4. Cái chết có đáng sợ không?

Chúng ta được mời gọi để nhìn thẳng vào cái chết, đối mặt với nó để xem nó có đáng sợ không.

Chết thật ra chỉ là việc thay đổi tình trạng sống của con người. Chết giống như một ngưỡng cửa để ta bước vào cõi vĩnh hằng. Nó không đưa ta vào cõi tiêu diệt và cũng không làm ta mất mát bất cứ thứ gì hay xa cách một ai. Trái lại, chết làm ta gần gũi hơn, hiệu quả hơn, năng động hơn vì chúng ta không còn bị giới hạn bởi không gian, thời gian và vật chất nữa. Một người chết ở bên Mỹ, ở ngoài Bắc, ở trong Nam, tất cả đều gần nhau vì không còn bị ngăn cách bởi không gian. Một người chết cách đây chục ngàn năm, vài trăm năm như tổ tiên hay vài chục năm như ông bà cha mẹ: tất cả đều đang có mặt bên nhau vì không còn bị thời gian chi phối.

Vì thế, trong thánh lễ, tất cả đều hiện diện, đều sống động bên Chúa: các thiên thần, các thánh nhân, các linh hồn đã khuất, cùng với ông bà, cha mẹ, bạn bè ta. Nhờ vậy, khi hiểu cái chết làm cho ta gần gũi nhau hơn, tác động lên nhau cách hiệu quả hơn thì chúng ta phải vui mừng thay vì e ngại, sợ hãi.

Nhiều người không hiểu được điều đó nên đã than khóc, lăn lộn bên xác người vừa chết như là mất mát tất cả. Có người còn muốn nhào xuống huyệt để được chôn táng theo người thân, người tình. Đó là những thái độ không đúng. Có người lại cố gắng sắm sửa những bộ áo quan mắc tiền, tổ chức tang lễ hết sức hoành tráng, thuê cả những người khóc mướn,… nhiều khi chỉ để khoe của, khoe danh. Họ không ngờ người mới chết đang hiện diện bên họ và rất buồn vì thấy rõ những hành động giả dối, hoang phí, trong khi nhiều người khác đang đói khổ. Người ta thường không hiểu rằng người đã khuất có thể giúp đỡ bạn bè thân thuộc cách hiệu quả hơn khi họ sống ở trần thế, nhờ lời họ chuyển cầu cùng Chúa. Nền văn hoá Kitô giáo luôn mời gọi nên tổ chức tang lễ đơn sơ, thương tiếc nhẹ nhàng, giữ vững niềm vui và hy vọng đối với người đã khuất.

1.5. Chết cách hào hùng thánh thiện

Chúng ta được mời gọi để vượt qua nỗi sợ hãi cái chết, vì qua bài Tin Mừng[437], Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết. Người làm cho cô con gái của ông Giairô sống lại. Người nhắc bảo mọi người rằng: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!”. Chết chỉ là một giấc ngủ để rồi chúng ta đều thức dậy, sống lại với nhau như Đức Giêsu đã vượt qua cái chết để chia sẻ cho chúng ta sự sống vĩnh hằng, kỳ diệu, phi thường của Thiên Chúa.

Khi gắn bó với Đức Giêsu, chúng ta mới coi thường cái chết vì nó không có thật, mới dám hy sinh vì đại nghĩa. Thậm chí có nhiều người chưa biết Chúa Giêsu cũng đã tự nguyện chết để bảo vệ quê hương, chết cho những giá trị cao quý, cho những công trình nghiên cứu khoa học… Nhà ái quốc Phan Bội Châu[438] đã nhắc nhở chúng ta: “Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh, chết tựa Trưng Vương phách hoá thần”. Khi gắn bó với Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể chết cách hào hùng, thánh thiện như Người đã chết tủi nhục trên thập giá vì yêu thương ta và muốn cứu độ ta. Người chết như thế để giúp ta hiểu được ý nghĩa của sự sống: vì “nếu ta cùng chết với Chúa Giêsu Kitô, ta sẽ cùng sống với Người”[439].

2. Tận thế là vũ trụ trở về với cội nguồn của mình

2.1. Tận thế như một chuyện đương nhiên

Nhiều người lo sợ không biết bao giờ sẽ xảy ra tận thế. Như chúng ta đã tìm hiểu, vũ trụ chắc chắn sẽ có tận cùng vì nó là vật chất và bắt nguồn từ hư không. Cách đây gần 14 tỉ năm vũ trụ xuất hiện từ vụ nổ Big Bang với hàng triệu thiên hà và hàng trăm triệu ngôi sao trong mỗi thiên hà bắt nguồn từ vụ nổ đó và tiếp tục thành hình cũng như biến mất vào những lỗ đen của vũ trụ.Thuyết tiến hoá của Darwin cũng giới thiệu cho ta con đường phát sinh của muôn loài trên trái đất này. Thiên Chúa đã dựng nên tất cả vũ trụ này từ hư không, tạo thành loài người chúng ta và đặt vào trong trái đất này, ban cho ta tình yêu, hạnh phúc, ơn cứu độ để một ngày nào đó, vào lúc tận cùng của thời gian, tất cả cùng với vũ trụ trở về nguồn gốc của mình là Thiên Chúa Tạo Hoá, và hoà nhập vào sự sống vĩnh hằng của Ngài để tạo thành một trời mới đất mới[440] với những con người mới[441]. Khi đó, “Ngài sẽ lau sạch nước mắt họ sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa vì những điều cũ đã biến mất”[442]. Như thế, tận thế không đáng cho ta lo sợ, nhưng là lẽ đương nhiên mà ta phải hy vọng vì cả vũ trụ được trở về với nguồn gốc hoàn hảo tuyệt vời của mình.

Thật ra, tận thế và cái chết không phải là những điều đáng cho ta lo sợ trước những đổ vỡ, huỷ diệt, xa cách, mất mát, nhưng là một cuộc lên đường trở về nhà Cha, một cuộc thăng hoa để biến đổi tất cả những gì ta có, ta làm, ta đạt được trong trần thế này thành vĩnh hằng, vô tận, tuyệt đối, nhờ được gắn bó với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Nhập Thể và Vượt Qua của Người. Nhờ cái chết, ta bước vào thời gian vĩnh hằng, nên dù tận thế có xảy ra vài tỷ năm sau này, nó cũng không xa cách với cái chết của ta. Do đó, các nhà thần học xác định tận thế trùng hợp với cái chết của mỗi người, và cuộc phán xét riêng cũng đồng thời với phán xét chung.

2.2. Ba lần Chúa đến

Giáo Hội thường nhắc nhở ta về 3 lần Chúa đến. Lần đến thứ nhất, trong quá khứ, cách đây hơn 2000 năm, khi Ngôi Lời Thiên Chúa trở thành người qua mầu nhiệm Nhập Thể để đến với muôn loài qua cuộc giáng sinh tại Bêlem. Người đến để cứu độ khi hoà giải chúng ta với Chúa Cha. Người đã yêu thương chúng ta cho đến cùng và để lại cho ta gương mẫu tình yêu tuyệt vời của Người.

Lần đến thứ hai đang thực hiện trong hiện tại. Chúa đến với mỗi người chúng ta mang theo ơn lành, tình yêu, quyền năng để ta có thể gắn bó với Người và làm chứng cho Người.

Lần đến thứ ba thực hiện trong tương lai. Người sẽ đến trong vinh quang với tất cả thần thánh như lời kinh Tin Kính ta đọc mỗi Chúa Nhật: “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Lần Chúa đến này rất bất ngờ nên đòi hỏi ta phải canh thức. Nhưng đó lại là đích điểm cho cuộc hành trình của mỗi người để ta gặp gỡ được Chúa cách trọn vẹn và mãi mãi.

Như thế, ta sẽ luôn chờ đợi Chúa đến với mình trong một Mùa Vọng, được gọi là vĩnh hằng.

2.3. Cuộc đời chúng ta là một Mùa Vọng Vĩnh Hằng

Cuộc đời chúng ta là một Mùa Vọng Vĩnh Hằng bởi vì lúc nào ta cũng sống trong niềm hy vọng rằng Chúa đến với mình để giải thoát mình khỏi bị lệ thuộc vào vật chất, không gian và thời gian.

Chúa đến để nối kết những điểm của thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai. Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất cùng với không gian, trong đó vật chất vận động, phát triển liên tục không ngừng. Chúng ta có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, bạn bè sống ở những khoảng thời gian khác nhau. Khi vượt qua thời gian là chúng ta sẽ gặp gỡ được tất cả những người ấy trong Chúa. Đó phải là một niềm vui vô cùng lớn lao và chúng ta luôn hy vọng sẽ đạt được niềm vui này.

Chúa còn đến để nối kết mọi không gian xa cách. Như chúng ta vừa nói, không gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, trong đó vật chất có những độ dài, lớn khác nhau, vật này ở cách xa vật kia, nước này ở cách xa nước nọ… Không gian ấy trải rộng ra cả vũ trụ bao la. Khi Chúa đến, Ngài sẽ nối kết tất cả những không gian xa cách đó để làm cho chúng xích lại gần nhau và hoà nhập trong nhau! Lúc đó chúng ta không còn xa lạ vì người Bắc, kẻ Nam, không còn phân biệt chủng tộc vì là người Việt Nam, Hoa Kỳ hay Trung Quốc, không còn khác biệt vì là công dân của trái đất này hay là những người ngoài hành tinh nữa vì tất cả đều là anh chị em ruột thịt của nhau trong đại gia đình Thiên Chúa. Chúng ta hy vọng được nối kết trọn vẹn với nhau, không còn lo sợ vì những cuộc xâm lấn đất đai hay chiến tranh giữa các vì sao nữa. Như thánh Phaolô đã đã từng gợi ý: “Anh em không còn là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô”[443].

Vậy Mùa Vọng chính là thời điểm dẫn ta đi vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa để Ngài đưa ta vượt qua những ngăn cản của vật chất, hoà nhập vào thời gian vĩnh hằng của Thiên Chúa và vào không gian kỳ diệu của Ngài. Tất cả chúng ta có bao giờ mơ ước điều đó không?

Khi đến lần thứ nhất Người đã thực hiện điều đó trong con người của mình để đem thân xác hữu hạn của con người vào không gian vô tận và thời gian vĩnh hằng của Thiên Chúa. Khi đến lần thứ hai Người đưa mỗi người chúng ta hoà nhập với Người để biến đổi những gì của ta thành của Người. Khi đến lần thứ ba trong vinh quang, Người đưa toàn thể vũ trụ vạn vật vào trong sự sống vĩnh hằng, kỳ diệu của Thiên Chúa. Cả ba lần Chúa đến đều hoà nhập nơi Đức Giêsu nên Thánh Phaolô mới quả quyết rằng: “Chúa Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời”[444]. Đó chính là hoàn thành chung cuộc kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là “quy tụ muôn loại trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô”[445].

3. Phán xét là biểu lộ tình yêu cứu độ

Những điều người ta lo sợ nhất khi nghĩ đến cái chết là cuộc phán xét công minh của Thiên Chúa, là những hình khổ khủng khiếp ở hoả ngục hay luyện ngục vì đời sống tội lỗi của mình. Nhưng ai sẽ xét xử loài người và vũ trụ, xét xử theo luật lệ nào và thưởng phạt muôn loài ra sao?

Trong lời rao giảng của mình, Chúa Giêsu cũng loan báo về cuộc phán xét vào ngày tận thế giống như các tiên tri[446] và Gioan Tẩy Giả[447] . Lúc đó cách sống của mỗi người [448]và những bí mật trong tâm hồn[449] sẽ được đưa ra ánh sáng. Lúc đó cách đối xử với đồng loại, đúng hay sai, tốt hay xấu, sẽ được xét xử để chứng tỏ người ta đón nhận hay từ chối ân sủng của Thiên Chúa[450]. Lúc đó Chúa Giêsu sẽ nói với mỗi người rằng: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”[451].

Chúa Giêsu Kitô, với tư cách là Đấng Cứu chuộc trần gian cũng là Vua của vũ trụ vì “mọi sự được dựng nên nhờ Người và cho Người”[452], có thẩm quyền để phán xét nhờ cuộc chiến thắng qua thập giá của Người. Hơn nữa Chúa Cha cũng “đã ban cho Người Con mọi quyền xét xử vì Người là Con của Ngài”[453]. Nhưng Chúa Con không đến để xét xử mà đến để cứu độ[454] và để ban sự sống của Người[455]. Qua việc từ chối ân sủng, từ chối tình yêu khi còn sống ở đời này, mỗi người tự xét xử chính mình[456], rồi lãnh nhận phần thưởng hay hình phạt tạm thời hoặc vĩnh viễn tuỳ theo các công việc của mình[457].

Nhiều tín hữu đã tưởng lầm cuộc phán xét sẽ được tổ chức như hoạ sĩ Michelangelo[458] đã mô tả trong hoạ phẩm của ông. Chúa không sai thiên thần ghi chép từng hành vi của con người trong một cuốn sổ để tra cứu và căn cứ vào đó để kết án. Chúa cũng chẳng cân tội phúc của con người theo mức nặng nhẹ để thưởng phạt. Nhưng vì con người được dựng nên theo hình ảnh Chúa, nên ngay sau khi bước qua ngưỡng cửa cái chết, con người sẽ thấy Chúa là nguyên mẫu tốt lành, trong sáng, thánh thiện của mình. Dưới ánh sáng phản chiếu của Chúa, con người cũng thấy ngay những điểm sáng và điểm tối trong toàn bộ đời mình qua từng tư tưởng, lời nói, hành động của mình trong mỗi không gian và thời gian khác nhau như soi mình trong một tấm gương huyền bí. Rồi tức khắc con người cũng xác định ngay được tình trạng của mình để vào được thiên đàng, luyện ngục hay hoả ngục. Đó là cuộc phán xét do chính con người xét xử mình.

Có người tính toán rằng gia đình nhân loại lúc đó có vài trăm tỷ người thì lấy đâu ra chỗ đủ rộng để Chúa phán xét mọi người. Nhưng khi con người không còn lệ thuộc vào vật chất thì muôn loài, muôn vật đều được quy tụ trong không gian vô tận của Thiên Chúa. Vì thế, khi ta không để cho vật chất giam hãm, trói buộc ta vào trong thời gian và không gian của nó theo lòng tham và lòng dục của con người, là ta sẽ cảm nhận ngay được sự hiện diện của muôn loài ở gần mình cũng như cảm nghiệm được Chúa đang ở với mình trong từng giây phút sống.

Có người đã tự hỏi Chúa sẽ xét xử theo luật pháp nào hay con người tự xét xử theo luật pháp nào, như người ta vẫn thường thấy trong các toà án ở trần thế, khi những thẩm phán dựa vào các bộ luật với những điều khoản khác nhau để xét xử và kết án tội nhân. Người tín hữu đã nghĩ đến những bộ luật như Mười Điều Răn, Tám Mối Phúc, bộ luật của Giáo Hội. Chúa không dùng những bộ luật ấy để kết tội con người. Như Chúa Giêsu đã trình bày trong dụ ngôn về cuộc phán xét chung[459], Người chỉ yêu cầu một tiêu chuẩn duy nhất đó là tình yêu hay lòng bác ái đối với những con người khốn khổ quanh ta.

Người nói với những người được khen thưởng rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”. Những người bị kết án chịu cực hình muôn kiếp cũng thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu!”. Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đac không làm cho chính Ta vậy”.

Như thế cuộc phán xét riêng hay chung chính là dịp biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa và khen thưởng tình yêu của con người. Do con người được dựng nên nhờ tình yêu Thiên Chúa thì họ cũng bị xét xử bằng chính tình yêu này vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu[460]. Khi soi mình vào tấm gương tình yêu, con người sẽ có dịp để thấy ngay những điểm tối điểm sáng trong tình yêu của họ đối với muôn loài. Chính vì thế khi con người biết yêu thương thì họ không quan tâm đến việc mình sẽ bị xét xử như thế nào[461].

4. Những tình trạng sống sau khi chết

Ngay sau cuộc phán xét con người đón nhận được tình trạng sống của mình mà chúng ta thường gọi là thiên đường, luyện ngục hay hoả ngục. Tình trạng sống này đã bị hiểu lầm do sự pha trộn về ý niệm và hình ảnh giữa các tôn giáo với nhau. Nhiều tín hữu Công Giáo đã nhầm lẫn hoả ngục với địa ngục, luyện ngục với âm phủ, thiên đường với Niết Bàn (Nirvana) của Phật giáo, Ấn Độ giáo, Bà La môn giáo và nhiều tôn giáo khác[462].

Qua dụ ngôn Tin Mừng[463], Chúa Giêsu cũng mô tả cho chúng ta thấy hai thái độ sống đối lập nhau: thái độ sống buông thả, hưởng thụ của người giàu và thái độ sống âm thầm chịu đựng của anh Lazarô nghèo khó trong đời sống ở trần thế. Người giàu mặc toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình, khiến ông không nhìn thấy bất cứ ai ngoài mình. Ông chẳng ngó ngàng đến người nghèo Lazarô nằm ngay trước cửa nhà ông, mụn nhọt đầy mình, đói đến độ thèm được ăn miếng cơm thừa, canh cặn ở bàn tiệc của ông mà cũng chẳng ai cho. Anh không buồn sầu, khóc lóc, van xin ai. Anh chỉ âm thầm chịu đựng trong niềm vui và bình an vì anh tin tưởng Chúa nhìn thấu tất cả và sẽ trả công cho tất cả những gì anh chịu đựng cho Ngài. Kết thúc cuộc đời, anh được hưởng hạnh phúc tuyệt vời là ở trong lòng Abraham để dự tiệc Nước Trời. Còn ông nhà giàu lại ở dưới âm phủ, bị lửa thiêu đốt, bị khát đến nỗi chỉ mong vài giọt nước từ bàn tay Lazarô nhỏ xuống lưỡi cho mát.

Câu chuyện trong dụ ngôn khiến chúng ta liên tưởng tới thiên đường, luyện ngục và hoả ngục, mà mỗi người chúng ta sẽ nhận được sau cuộc phán xét của Chúa, như kết quả cuộc sống ở thế trần. Nhưng chúng thật sự là gì và ta sẽ sống như thế nào để đạt được hạnh phúc thiên đường như Lazarô.

4.1. Thiên đường, luyện ngục, hoả ngục là gì?

Chúng là những tình trạng sống của con người sau khi chết, chứ không phải là những nơi chốn cố định, rõ rệt như ta vẫn quan niệm trong không gian ba chiều hiện nay. Nếu ta mở lại sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, ở số 1023-1029 nói về thiên đường, số 1030-1032 nói về luyện ngục, số 1033-1037 nói về hoả ngục, cũng như mở lại những tài liệu của Công đồng Vaticanô II nói về Nước Trời[464], ta sẽ học được nhiều điều mới mẻ về các tình trạng sống này.

Trước hết, Thiên Chúa không tạo nên các toà nhà lớn với tường cao như ngục tù để những ai vào đó không thể thoát ra ngoài. Trong dụ ngôn Tin Mừng, ông nhà giàu và Lazarô, dù ở hai tình trạng khác biệt, vẫn trông thấy nhau, nói chuyện với nhau, nhưng có một vực thẳm vô hình ngăn cách đôi bên. Ông ta còn xin Abraham gửi Lazarô về trần thế để nhắc bảo anh em mình thay đổi đời sống cho khỏi sa vào cực hình như ông. Những điểm này chứng tỏ mọi người vẫn có thể gặp gỡ nhau, dù sống trong bất cứ tình trạng nào. Đây là tình trạng sống thanh thoát, không còn bị giới hạn bởi vật chất, không gian và thời gian. Đây cũng là đời sống của chính Thiên Chúa, của các thiên thần, các hồn người đã khuất, trong đó có cả quỷ dữ lẫn tà ma.

Tiếp đến, thiên đường là tình trạng sống của những ai được kết hợp trọn vẹn với Chúa, không bị bất cứ một vết nhơ tội lỗi nào ngăn cản. Từng giây phút họ được Chúa chuyển thông cho họ sự sống kỳ diệu, hạnh phúc vô biên, niềm vui vô tận và nguồn chân thiện mỹ vô cùng.

Luyện ngục là tình trạng sống của những người muốn thanh tẩy những điểm tối trong đời sống của mình để có thể kết hợp trọn vẹn với Chúa. Tuy nhiên vì không còn tự do nên những hành động sau khi chết của họ như chiêm ngưỡng và ca tụng lòng nhân từ thương xót của Chúa không còn đem lại cho họ những công phúc nữa. Nhiều bản thánh ca và những bản văn đạo đức, thậm chí của các thánh nhân, đã làm cho các tín hữu hiểu lầm về tình trạng sống này như thể là một chỗ tối tăm, đầy tiếng khóc than của những người chịu cực hình. Có người còn nghĩ họ bị lửa thiêu đốt, dù rằng ngọn lửa ấy không nóng nảy và đau đớn như lửa ở hoả ngục! Thật ra, những linh hồn ấy rất vui vì đang được thấy Chúa trong vùng ánh sáng tuyệt vời, được ca tụng Chúa với toàn thể thần thánh, nhưng niềm vui của họ chưa trọn vẹn. Họ thiết tha mọng được hoà nhập hoàn toàn với Chúa, nhưng lại tự nguyện xa cách Chúa để thanh luyện chính mình. Đấy là ngọn lửa tâm linh thiêu đốt tâm hồn họ. Nhưng họ vẫn hy vọng vì nhờ lời cầu nguyện, hy sinh, nhất là những thánh lễ của Giáo Hội và người thân, họ sẽ thanh luyện mình dần dần, để cuối cùng sẽ đạt được tình trạng thiên đường.

Hoả ngục là tình trạng của những người, cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, dù với bao ân huệ Chúa ban, tiếng lương tâm nhắc nhở, người thân khuyên bảo, Giáo Hội cầu nguyện, họ vẫn cương quyết cắt đứt mối dây liên lạc với Chúa. Nên khi vừa vượt qua cái chết, họ thấy ngay Chúa tốt đẹp, nhân từ, hoàn hảo vô cùng. Vì thế họ tiếc xót, tự dằn vặt chính mình, đau khổ và tuyệt vọng vì đã cắt đứt với nguồn tình yêu, sự sống và chân thiện mỹ. Nỗi đau khổ này chính là ngọn lửa thiêng liêng thiêu đốt họ muôn đời, chứ không phải Chúa ném họ xuống biển lửa, ở chung với quỷ dữ tà ma, như ta vẫn thấy được mô tả trong sách Thánh Kinh, hay qua hình ảnh về các tầng địa ngục của các tôn giáo khác.

Thật ra, Chúa ở khắp mọi nơi với tất cả lòng từ bi, thương xót, tình yêu và quyền năng của Ngài. Vì thế, dù ở trong tình trạng thiên đường, luyện ngục hay hoả ngục, mọi thụ tạo gồm thiên thần, con người hay quỷ dữ tà ma đều thấy Ngài y như nhau. Như thế, không phải Chúa tạo thành thiên đường, luyện ngục hay hoả ngục để thưởng công hay hành hạ muôn loài, nhưng là chính thụ tạo dựng nên cho mình.

4.2. Làm sao để nhanh chóng được vào thiên đường

Đó là niềm mơ ước của nhiều người chúng ta. Khi biết mình tội lỗi, xúc phạm đến Thiên Chúa và anh chị em mình, biết mình phải sống trong luyện ngục để tẩy rửa các vết đen bẩn của linh hồn, ta chỉ mong được mau chóng ra khỏi đó để bước vào thiên đường.

Tuy nhiên, việc thánh Phaolô được đưa lên tầng trời thứ ba[465] và nhiều vị thánh đã cảm nghiệm được thiên đường ngay trong cuộc đời trần thế, như nhắc bảo ta rằng: mình có thể và phải xây dựng Nước Trời hay thiên đường bằng thái độ sống tích cực trong tinh thần yêu thương của Chúa Giêsu.

Chúng ta rất giàu về thời giờ, ân huệ, tài năng và có khi cả tiền của. Tuy nhiên, nhiều người lại đang có thái độ sống hưởng thụ, ích kỷ, chỉ biết có mình, phung phí các nguồn lực đó cho những đam mê, nghiện ngập như ông nhà giàu trong dụ ngôn. Ta không quản lý tốt gia sản của Cha Trên Trời nên không phát huy được hiệu quả của chúng để tạo nên thiên đường.

Ta sống mỗi ngày 24 giờ, mỗi giờ có 3.600 giây. Một nụ cười, một lời thân tình kết nối yêu thương, một lời xin lỗi để tạo lại hoà khí, một cử chỉ ân cần để cảm thông, một hành động bác ái để chia sẻ… thường chỉ tốn một vài giây, vài phút. Nhưng thử hỏi mỗi ngày ta làm được mấy lần để tạo nên hạnh phúc thiên đường cho người thân hay cho cộng đồng quanh ta? Nhiều khi ta đang tạo nên hoả ngục cho họ từ những thái độ im lặng giận hờn, những lời thô tục dối trá, những cử chỉ lãnh đạm, những hành động loại trừ nhau. Chính khi tạo nên hoả ngục cho người thì ta cũng giam hãm mình trong đó. Còn khi ta tạo nên hạnh phúc cho người thì ta cũng tạo thành thiên đường cho mình.

Thánh Phaolô khuyên nhủ ta[466]: “Hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta xuất hiện”. Bằng những hành động, cử chỉ, lời nói, tích cực và trong sáng, chúng ta tạo nên thật nhiều điểm sáng trong từng ngày sống còn lại của đời mình. Nhờ đó chúng ta sẽ loại trừ và tẩy rửa những điểm tối bẩn trong hồn ta, để một ngày nào đó, có khi ngay trong cuộc đời trần thế, ta đã tạo nên thiên đường cho mình và cho những ai sống gần mình.

Lời kết

“Chúng ta không biết được trái đất và nhân loại, sẽ kết thúc vào thời điểm nào[467], chúng ta cũng chẳng biết cách thức vũ trụ biến đổi ra sao. Quả thật, bộ mặt của một thế giới bị biến dạng vì tội lỗi đang qua đi[468], nhưng chúng ta được biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một thế giới mới, nơi công lý ngự trị. Hạnh phúc ở nơi ấy sẽ thoả mãn và lấp đầy mọi ước vọng hoà bình đang trào dâng trong lòng con người[469]. Khi ấy sự chết sẽ bị đánh bại, con cái Thiên Chúa sẽ phục sinh trong Chúa Kitô… và toàn thể thụ tạo mà Thiên Chúa đã dựng nên cho con người sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ phù vân[470]. Tuy nhiên sự trông đợi thế giới mới này không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích, nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà thân thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một số hình ảnh nào đó của thời đại mới. Vào thời điểm cuối cùng Chúa Kitô sẽ trao lại cho Chúa Cha Vương Quốc vĩnh cửu và phổ quát: “Vương Quốc của sự thật và sự sống, của thánh thiện và đầy ơn phúc, của công lý, tình yêu và hoà bình”[471].

Câu hỏi gợi ý

1. Bạn có thường nghĩ đến cái chết của người thân hay của chính mình không? Bạn có tâm trạng nào khi nghĩ đến nó?

2. Bạn nghĩ gì về tận thế?

3. Soi mình vào tấm gương của Chúa, bạn thấy được những gì?

4. Bạn làm gì để tạo nên thiên đường cho mình và cho những người sống với mình?

PHẦN IV PHỤ LỤC

Bài 1

Chữa trị những trẻ chậm nói

Lời mở

Hiện nay số trẻ tự kỷ tăng lên rất nhiều khiến cho những nhà giáo dục lo lắng. Trong số những trẻ tự kỷ, hiện tượng chậm nói, nói không thành câu so với độ tuổi càng làm cho các phụ huynh và nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ xảy ra cho những trẻ tự kỷ, mà nhiều trẻ không có hội chứng tự kỷ vẫn có thể rơi vào tình trạng này nếu cha mẹ và những nhà giáo dục không để ý chăm sóc con trẻ của mình.

1. Thiếu quan tâm tới khả năng suy nghĩ và nói năng của trẻ

Sự phát triển lời nói và ngôn ngữ là yếu tố sống còn cho khả năng của đứa trẻ tương tác với những người chung quanh. Một trẻ sơ sinh bắt đầu hiểu các từ và các mệnh lệnh căn bản từ rất lâu trước khi nó biết nói, và học các kỹ năng căn bản bằng cách bắt chước. Cha mẹ và những người chăm sóc cho trẻ càng nói chuyện với nó nhiều thì đứa trẻ càng phát triển về âm thanh và ngôn ngữ. Cùng với việc phát triển sự hiểu biết về thế giới, ngôn ngữ giúp đứa trẻ càng phát triển các kỹ năng suy nghĩ, lý luận và giải quyết vấn đề.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay, rất nhiều cha mẹ và những nhà giáo dục trẻ thơ đã không biết hay ít quan tâm đến việc tiếp xúc với trẻ. Phần lớn cha mẹ khi thấy trẻ sơ sinh ngủ li bì (khoảng 14 giờ một ngày) nên cứ để mặc cho chúng ngủ vì khi thức dậy đòi ăn là nó bắt đầu khóc và người ta rất sợ tiếng khóc của trẻ, trong khi tiếng khóc giúp cho trẻ xả được cái hơi trong người của nó và kích thích phổi hoạt động cũng như khi được bế bổng lên các phần khác của cơ thể cũng được tác động. Nhiều cha mẹ khi thấy con bắt đầu nhận thức vào 1-2 tuổi đã vội vàng đưa cho chúng một thứ đồ chơi có cử động hay phát ra một âm thanh nào đó để làm chúng ngưng khóc. Nhưng những cử động lặp đi lặp lại vô nghĩa và những âm thanh đều đều đã làm cho trẻ không phát triển được sự nhận thức và ngôn ngữ.

Tệ hơn nữa, khi trẻ được 2-3 tuổi, để làm chúng hết khóc, cha mẹ đã đưa cho các bé những chiếc điện thoại, ipad chứa những trò chơi và phát ra những âm thanh, điệu nhạc. Những chuyển động đầy màu sắc trên màn hình, những âm thanh điệu nhạc trẻ thu nhận hầu như hoàn toàn vô nghĩa đối với chúng. Trong khi bộ nhớ non nớt của chúng lại tiếp nhập hàng tỷ dữ liệu về màu sắc, âm thanh, hình ảnh vô nghĩa đó. Nhiều đứa trẻ ngay từ lúc 2-3 tuổi đã rơi vào chứng “nghiện” ipad, iphone và chúng dần dần mất khả năng về ngôn ngữ và nhận thức. Như thế khả năng suy nghĩ và nói năng của trẻ đã bị thương tổn ngay từ lúc ấu thơ.

2. Khả năng suy nghĩ và nói năng của trẻ phát triển như thế nào?

Chúng ta có thể mô tả khả năng suy nghĩ và ngôn ngữ phát triển theo những bước sau đây:

Từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi. Trong những tháng đầu tiên trẻ sẽ có những hành động:

– Cười khi nghe cha mẹ gọi: đứa trẻ nhìn vào cha mẹ và cười khi nghe tiếng của cha mẹ. Nếu trẻ cười và nhìn ra chỗ khác hoặc chúng không phản ứng khi nghe cha mẹ gọi, ta phải để ý về khả năng nghe của trẻ (có thể bị tự kỷ hoặc bị điếc).

– Đưa tay lên miệng mút, bú.

– Dùng tay cầm nắm các đồ vật.

– Một vài tháng sau, trẻ đã biết với tay đến các đồ vật, lăn mình khi nằm. Vì thế ta phải thận trọng và chèn gối kỹ lưỡng khi để trẻ ngủ một mình, vì trẻ có thể nằm úp mặt xuống gối và ngạt thở. Khi giữ trẻ ta thấy hai chân trẻ đã có thể chịu được trọng lượng của cơ thể, trẻ nhún nhảy trên chân, ta có thể giữ hai bên nách của trẻ để trẻ tập đứng.

– Vào tháng thứ 8-12, trẻ có thể nhận biết tên của chính nó khi tên này được lặp đi lặp lại nhiều lần. Trẻ đáp ứng với các mệnh lệnh đơn giản như cười, cúi đầu, khi người thân làm cử điệu đó trước mặt trẻ. Trẻ sử dụng được những từ đầu tiên như ba, má, nước, sữa, ngủ, ăn… Đây là những từ rời đáp ứng những nhu cầu của trẻ. Trẻ bắt chước các hành vi đơn giản mà cha mẹ hay người thân dạy cho chúng như vỗ tay, cúi đầu cảm ơn, cúi đầu chào…

Từ tháng 13. Trẻ làm được những hành động sau đây:

+ Trẻ bắt đầu uống bằng ly thay vì trước đây bú bằng bình.

+ Chỉ tay gọi tên các đồ vật quanh mình như gối, xe…

+ Biết phân loại hình dáng và màu sắc như đĩa tròn màu vàng với đồ chơi màu xanh, quả chuối màu vàng, quả táo màu đỏ…

+ Nói được những cụm từ đơn giản: “Con uống nước, cho con bánh, cảm ơn ông, cảm ơn mẹ…”

+ Làm theo những chỉ thị đơn giản như đứng lên, ngồi xuống, cúi đầu, cầm bát, ăn cơm…

+ Tham gia vào những trò chơi mang tính tưởng tượng như: con bướm bay (hai tay vung lên vẫy vẫy giống như con bướm).

Từ tháng 25

+ Sử dụng các câu đơn giản: “cái gì đây mẹ”, “ba đâu rồi mẹ”,…

+ Có thể nói tên, tuổi, giới tính.

+ Sử dụng các đại từ nhân xưng (tôi, bạn, chúng ta, anh ấy, họ).

+ Hiểu được vị trí trong không gian (trong, ngoài, trên, dưới).

+ Bắt đầu hiểu được các số đếm.

Từ tháng 37

+ Hiểu được văn phạm căn bản: nói một câu có chủ từ, động từ, túc từ.

+ Bắt đầu biết đếm.

+ Bắt đầu biết thời gian.

+ Biết kể chuyện.

+ Thực hiện theo các mệnh lệnh có ba phần: “Con phải ở nhà”. “Con không được khóc!”…

Từ tháng 49

+ Hiểu được thì tương lai.

+ Có thể nói tên và địa chỉ.

+ Kể tên bốn màu sắc hay nhiều hơn.

+ Có thể tô màu các hình.

+ Có thể đếm được nhiều hơn 10 đồ vật.

+ Có khả năng phân biệt được sự tưởng tượng với sự thật.

+ Hiểu khái niệm tiền bạc.

+ Nhận thức được giới tính.[472]

3. Để nói thành một câu tròn nghĩa, bộ não của trẻ phải vận động như thế nào?

Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sự vận động của bộ não khi muốn nói một câu hoàn chỉnh như: “cái bàn đẹp”, “con uống nước”. Từ đó ta có thể giúp đỡ những đứa trẻ chậm nói hay nói ngọng, nói đớt. Ngoại trừ một vài khiếm khuyết ở lưỡi và họng như lưỡi quá ngắn, dây chằng ở đầu lưỡi quá dày, hầu hết các trẻ đều thiếu sự nối kết giữa các vùng của vỏ não khiến nhiều khi chúng chỉ có thể nói những từ đơn giản và dùng tay làm dấu hiệu, như khi muốn uống nước, ăn bánh, chúng chỉ nói được một từ “nước”, “bánh” hoặc chỉ vào đồ vật chúng muốn có, chứ không thể nói được một câu hoàn chỉnh.

Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích các tiến triển trong bộ não của trẻ để khám phá ra những giai đoạn nào còn thiếu sót hay những mối liên kết nào chưa trọn vẹn.

– Vùng vỏ não thính giác

Đầu tiên, đứa trẻ ghi nhớ những âm thanh ở vùng vỏ não thính giác. Âm thanh mà chúng ta nghe được là những sóng âm lan truyền qua không khí được tai ta thu nhận. Âm thanh chạm vào màng nhĩ tạo thành những sóng âm khi đi qua tai giữa, rồi tạo thành những rung động ở các tế bào lông biến đổi thành các tín hiệu thần kinh, đi lên vùng vỏ não thính giác sát cạnh bên tai chúng ta[473]. Các xung động thần kinh được phân tích theo những tần số (cao, thấp), cường độ (lớn, nhỏ) của các sóng ban đầu, nhờ đó ta nghe được.

Tất cả những tín hiệu thính giác ấy lại được phân loại thành những tiếng động và từ ngữ. Tiếng động như tiếng gió thổi, tiếng chó sủa, tiếng xe…Từ ngữ là những sóng âm thanh có ý nghĩa. Thí dụ từ “chó”. Chó có nghĩa là con vật kêu gâu gâu, “giường” là đồ vật để nằm ngủ.

Vỏ não ngôn ngữ

Tất cả những từ ngữ được đưa lên vùng vỏ não ngôn ngữ nằm dọc theo thái dương, gồm ba vùng khác nhau: vùng Broca, vùng Wernicke, vùng Geschwind[474].

Vùng Broca, do tiến sĩ Pierre Broca (1824-1880) khám phá, vùng này đón nhận tất cả các từ ngữ để tạo ra lời nói và phát âm. Thí dụ từ “chó”, “mèo”, “ăn”, “thích”, “tự do”, “hạnh phúc”…

Vùng Wernicke, do tiến sĩ Carl Wernicke (1848-1905) khám phá, chứa đựng các nghĩa của từ phát âm. Thí dụ: “con vật kêu gâu gâu”, “con vật kêu meo meo”…

Vùng Geschwind do tiến sĩ Nornam Gechwind (1926-1984) khám phá, nối từ ngữ và ý nghĩa của từ ngữ thuộc hai vùng trên lại với nhau. Thí dụ “Chó” là “con vật kêu gâu gâu”. Nếu nối với “con vật kêu meo meo” là sai.

Cả ba vùng ở vỏ não còn liên kết với một vùng nằm sâu ở trong phần não trắng, gọi là thể tam giác, có vai trò quan trọng trong việc hình thành ký ức và nhận ra khung cảnh và sử dụng từ ngữ cho thích hợp[475]. Thí dụ: Cùng một từ nước, nhưng trẻ phân biệt được nước nóng, nước lạnh, nhớ được uống những thứ nước ấy trong hoàn cảnh nào, dù rằng trẻ chỉ nói “con muốn uống nước”.

Có một sự liên kết đặc biệt giữa ba vùng vỏ não ngôn ngữ, vì khi nói, trẻ sẽ lấy ra hàng ngàn từ khác nhau từ ở vùng Broca; người lớn có thể chứa hàng chục, hàng trăm ngàn từ khác nhau, tuỳ theo trình độ văn minh của từng dân tộc. Những từ ngữ này, trẻ và người lớn chúng ta, thu nhận dần dần trong kinh nghiệm cuộc sống. Vì thế, trong những tháng đầu đời, những năm đầu đời của trẻ, khi chúng ta đưa một ipad, iphone cho trẻ cho bớt khóc, bớt quậy phá, trẻ sẽ thu nhận những âm thanh vô nghĩa vào các vùng ngôn ngữ sẽ và lưu trữ ở đó, khiến cho những từ “ba/mẹ”, “chó mèo”, “sữa, nước”… mà cha mẹ muốn dạy cho trẻ bị chìm vào trong các âm thanh hỗn độn đó khiến cho trẻ không hiểu, không nhớ được các từ ngữ và cuối cùng là không nói được.

Mỗi từ ngữ có nghĩa khác nhau, số từ ngữ càng nhiều thì ý nghĩa cũng càng tăng, và hoàn cảnh của từng từ, từng nghĩa càng nhiều hơn theo dòng thời gian. Tất cả được lưu trữ trong vùng Wernicke. Thí dụ cùng một từ “chó”, nhưng trẻ sẽ thu nhận thêm nghĩa của từ này là “con vật sủa gâu gâu”, “con vật có lông xù”, “con vật có lông trắng, lông vàng, cao thấp khác nhau”.

Vùng Geschwind nối từ và nghĩa của từ, nhưng khi số từ và nghĩa tăng lên nhiều, trẻ bắt đầu có những sai lầm và rối loạn. Thí dụ: “chó là đồ vật để nằm”, “giường là con vật kêu meo meo”. Vì thế, nếu không sửa chữa kịp thời, trẻ sẽ rối loạn về ngôn ngữ. Cha mẹ phải nhắc đi nhắc lại hàng chục lần, hàng trăm lần một từ “nước”, trẻ mới nhớ được từ này và nối đúng nghĩa của nó là thứ để uống. Nếu người lớn để mặc cho trẻ chơi những trò chơi trong ipad, iphone, chúng sẽ không học được từ mới nên sẽ yếu kém về số lượng từ và nghĩa của từ cũng như những hoàn cảnh khác nhau của từ nên không thể kết nối đúng để nói thành một câu trọn nghĩa được. Thí dụ: “Con muốn uống nước”.

Vùng vỏ não vận động

Để trẻ có thể nói được một từ như “bàn”, “ghế”, “nước”… ngoài việc ghi nhận những âm thanh ở vùng vỏ não thính giác và vỏ não ngôn ngữ như ta vừa nói trên đây, trẻ còn phải cần tới vùng vỏ não vận động thân thể. Đây là vùng khởi động quá trình nhận thức hoặc các cử động tự ý của tay, chân, mắt, môi, miệng, lưỡi, răng, họng… khi trẻ quan sát cha mẹ phát âm các từ ngữ, chỉ trỏ các đồ vật, thú vật quanh mình để học biết cách sử dụng ngôn ngữ thì mới có thể nói được những từ, những câu[476].

Tuy nhiên, trẻ sẽ học cách phát âm dần dần các từ theo những độ khó khác nhau. Cha mẹ và thầy cô không thể dạy trẻ phát âm đủ thứ từ mà cần phải phân biệt để dạy những từ dễ phát âm nhất rồi mới đến những từ khó nhất. Quá trình học phát âm này có thể kéo dài vài ba năm chứ không thể hoàn thành ngay trong vòng vài tháng. Nhiều người lớn chúng ta cho đến nay vẫn chưa phát âm đúng một số từ như “rượu” đọc thành “riệu” , “hoàng” đổi thành “hoàn”… hoặc những vần “tr” thành “ch”, “l” đổi thành “n”, “s” đổi thành “x”… Nhiều người biết rõ mình phát âm sai nhưng lại không sửa được vì thói quen từ lúc nhỏ hoặc bộ nhớ trong não đã định hình như thế.

Những từ đơn giản có một nguyên âm như “ba, bà, má”, là những từ phát âm dễ nhất. Từ âm “e”, trẻ nói các từ “be, bé”; âm “ê” như “bê, bế”; âm “i” như “đi, lì, ị…” rồi đến các âm “o” như “no”; âm “u” như “bú, ngủ”. Những từ có hai âm đi liền nhau là những từ khó hơn mà trẻ đòi hỏi phải nhiều tháng mới có thể phát âm được như “chào, mía, núi, mùa, ngựa, gửi, đôi đũa, máy bay, cái kéo, trái đào, leo trèo…” những từ có hai nguyên âm và tận cùng bằng một phụ âm càng khó hơn nữa. Thí dụ: điện, đèn điện, viên phấn, yên ngựa, yên vui, chuồn chuồn, con lươn, vườn nhãn, ý muốn. Trẻ không dễ dàng phát được âm cuối nên giọng nói của trẻ thường bỏ âm cuối này và trẻ trở thành người nói đớt.

Những từ có hai phụ âm ở cuối như: “rau muống, nhà trường, luống cày, nương rẫy” là những từ khó đối với trẻ để phát âm trọn vẹn. Những âm khó cuối cùng là những từ có 3 hay 4 âm đi liền nhau như “hươu, cười, bưởi, khuya, bóng chuyền, chim khuyên, huân chương, băng tuyết, duyệt binh…” đây là những từ trẻ rất khó phát âm trọn vẹn.

Để trẻ có thể phát âm những từ ngữ từ dễ đến khó, trẻ bó buộc phải nhìn vào mặt cha mẹ hay thầy cô để quan sát chuyển động của môi miệng, răng lưỡi khi nói những từ này. Những ngôn ngữ khác còn đòi hỏi chuyển động của họng (tiếng Anh), của luồng hơi lên mũi (tiếng Pháp)….Thí dụ: để phát âm “a” miệng phải há to, để phát âm “ê” miệng phải thu nhỏ hơn, để phát âm “i” phải mgậm miệng, nhe răng và kéo môi dài, trong khi âm ‘o’ môi lại thu tròn, còn âm ‘u’ môi chụm lại nhỏ nhất. Tuy nhiên rất nhiều trẻ tự kỷ không nhìn vào mặt cha mẹ hay người dạy để học cách phát âm, nên ta cần phải ép trẻ tập nhìn, tập nói với mình.

Trẻ sẽ nhìn cách phát âm và bắt chước ngay từ bốn tháng tuổi. Đối với một số trẻ tự kỷ, hoặc cả những trẻ bình thường, nếu chúng không nhìn vào mặt cha mẹ, người dạy để tập nói những từ này mà chỉ nghe được âm thanh, các bé này sẽ rất chậm nói.

Hơn nữa, chính khi nhìn vào mặt cha mẹ để thấy chuyển động của môi, miệng, lưỡi, răng thì vùng vỏ não vận động ghi nhận những chuyển động và giúp trẻ phát âm đúng. Thí dụ từ “ba”, “má” là những từ dễ nhất, trẻ có thể tập quan sát và học bằng cách ngậm môi trước khi phát ra từ để đọc phụ âm b, m, sau đó phải há miệng ta để phát âm được “ba”, “má”.

Thanh điệu cũng là một vấn đề cho trẻ khi phát âm vì tiếng Việt có tới 6 âm sắc khác nhau: “không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng”. Vì thế, vùng vỏ não thính giác của trẻ phải phân biệt được những âm sắc cao thấp đó. Thí dụ hai từ “ba” và “má” có âm sắc khác nhau. Khi trẻ phát âm từ “ba, bà”, cha mẹ phải dạy mỗi từ có nghĩa khác nhau để phát âm cho đúng. Thí dụ chỉ vào người cha thì gọi “ba”, chỉ vào bà mẹ gọi “bà”. Như thế, vùng vỏ não vận động chính là vùng đóng góp cho việc phát âm chính xác của từ.

Vùng vỏ não thị giác

Khi phát âm một từ, nhất là những từ cụ thể như “ba, má, bàn, ghế, bánh, kẹo”, trẻ luôn luôn nối kết với những hình ảnh nhất định. Thí dụ: ba là hình ảnh của một người với làn da sậm, có râu tóc, giọng nói, nụ cười nhất định; hoặc từ “bàn” nối kết với những hình ảnh của chiếc bàn có hình dáng to, nhỏ, vuông, tròn, màu sắc khác nhau. Trẻ càng lớn hơn thì những hình ảnh đi kèm càng nhiều, một từ “bàn” có thể có mấy chục hình ảnh đi kèm.

Khi trẻ mới vài tháng tuổi, chúng chỉ nhớ được từ kèm theo một vài hình ảnh nhất định nào đó. Thí dụ: bình sữa, phải là đồ vật mà chúng vẫn thường dùng, có màu sắc, hình dáng quen thuộc, vì thế khi ta thay bình sữa khác có hình dáng màu sắc không đúng, có thể chúng sẽ không bú sữa. Hoặc khi trẻ đắp chăn thì chỉ nhớ đến cái chăn với màu sắc, hình dáng, độ mềm quen thuộc; nếu ta đưa một chiếc chăn khác màu, khác hình dáng, trẻ nhất định sẽ không chịu đắp. Chỉ khi trẻ được vài ba tuổi, trẻ mới bắt đầu tiến trình “tổng quát hoá” để dùng từ “bàn” với đủ loại bàn khác nhau, nhất là khi trẻ bắt đầu đi học, vào lúc 3-4 tuổi. Vì thế, vùng vỏ não thị giác với những hình ảnh quen thuộc sẽ giúp cho trẻ nhận thức và nhớ được các từ một cách nhanh chóng.

Khi trẻ cầm những iphone, ipad do người lớn đưa cho để nín khóc hay không quấy rầy, mắt của trẻ nhìn qua màn hình chỉ thấy những hình ảnh vô nghĩa. Bộ óc non nớt của trẻ khi thu nhận hàng trăm ngàn hình ảnh kèm theo với những âm thanh vô nghĩa sẽ làm cho bộ nhớ của trẻ bị rối loạn và không học được một từ nào hết trong khi bộ nhớ vẫn phải chứa hàng trăm ngàn dữ liệu của hàng ngàn hình ảnh và âm thanh.

Vùng vỏ não thị giác này cũng giúp cho trẻ nhận thức để học những từ liên quan đến hình dáng, màu sắc, chuyển động của vật thể. Khi trẻ dán mắt vào màn hình với đủ loại màu sắc khác nhau, chuyển động khác nhau mà không được cha mẹ giải thích chỉ dẫn, trẻ sẽ rất khó để học các từ thuộc chủng loại này, nhất là khi trẻ chỉ thấy những con vật vẽ trong phim hoạt hình, những robot không có thực trong đời sống.

Lời khuyên của chúng tôi với các phụ huynh là không nên cho trẻ chơi những thiết bị điện tử hay cùng xem những chương trình truyền hình với cha mẹ, vì đầu óc non nớt của trẻ phải thu nhận những hình ảnh và âm thanh vô nghĩa đối với chúng, nhất là những bộ phim mang tính cách bạo lực, ma quái, thiếu thực tế của đời thường.

Vùng vỏ não cảm giác thân thể

Nhiều trẻ tự kỷ không biết đến những nguy hiểm khi chúng chơi ở gần những chiếc quạt đang quay, những bếp đang nấu vì cha mẹ ít quan tâm đến vùng cảm giác thân thể của trẻ[477], hoặc vùng não này có thể đang ở tình trạng kém hoạt động. Cha mẹ có thể dạy cho trẻ các từ liên quan đến cảm giác như mát, đau, nóng, lạnh, thích, không thích… qua việc làm cho trẻ cảm nhận từ làn da của chúng để tránh những nguy hiểm. Thí dụ: áp vào da của chúng một ly nước ấm hay lạnh để trẻ cảm nhận được nhiệt độ khác nhau; xoa má, xoa lưng, hôn… để chúng cảm thấy dễ chịu, thích thú, hay đưa tờ giấy qua chiếc quạt bàn đang xoay để chúng thấy nguy hiểm. Từ đó chúng ta dạy cho trẻ những từ về nóng, lạnh, đau đớn và ngăn ngừa không đụng chạm vào những vật thể nguy hiểm.

Vùng điều hành trung tâm

Vùng điều hành trung tâm là vùng não quan trọng nhất, nằm ở phía trán của trẻ[478]. Vùng này sẽ nối kết tất cả những dữ liệu ở các vùng vỏ não thính giác, ngôn ngữ, thị giác, vận động thân thể và cảm giác thân thể để phối hợp với các vùng não trong liên quan đến trí nhớ và cảm xúc.

Vùng não dành cho trí nhớ

Vùng não trong là phần não trắng ở dưới vùng não xám gọi là vỏ não mà chúng ta vừa mô tả. Tất cả những từ ngữ mà trẻ học được đều ghi trong bộ nhớ. Quả thật, khi ta ngủ, bộ nhớ trong não dành cho phần ký ức vẫn tiếp tục làm việc để sắp xếp dữ liệu mà ta thu nhận ban ngày. Các vùng của não luôn hoạt động khi ta ngủ để lưu trữ và gợi nhớ lại các sự kiện gồm đủ loại thông tin.

Trí nhớ không phải chỉ đơn thuần là lưu trữ và gợi nhớ lại các sự kiện liên quan đến từ. Trí nhớ bao gồm mọi hoạt động: từ sự việc, kinh nghiệm và hoàn cảnh, tên người, tên vật đến khuôn mặt, nơi chốn, hình dáng, màu sắc và có liên quan đến trạng thái cảm xúc của trẻ vào một thời điểm nào đó. Thí dụ: khi trẻ phát âm từ “mẹ”, ngoài việc vận dụng âm thanh ngữ nghĩa, trẻ nhớ đến hình ảnh khuôn mặt, cử chỉ quen thuộc của mẹ với màu sắc của mắt, của tóc, của khuôn mặt, của làn da mềm mại, rồi phải vận động để phát ra từ kèm theo cảm xúc thích thú yêu thương, kèm theo mùi ngây nồng của sữa mẹ… Tất cả được tổng hợp ở vùng vỏ não điều hành trung tâm và các phần khác nhau ở phần trắng của não. Như thế, chỉ một từ “mẹ”, bộ não của trẻ đã xử lý rất nhiều dữ liệu. Điều này giúp ta hiểu ngôn ngữ của trẻ là một vấn đề rất phức tạp, nó đòi hỏi phải vận hành hầu như tất cả các phần của não để nói lên một từ hay một câu.

Để trẻ có thể nói được và nhớ được các từ, trẻ phải dùng tới bộ nhớ gồm nhiều thành phần khác nhau. Người ta nói đến 5 loại ký ức chính: về công việc, về ngôn ngữ, về tình tiết, về quy trình, ký ức ẩn tàng. Các loại ký ức đó liên quan đến các vùng khác nhau của não trắng như đồi thị, thuỳ đỉnh, nhân đuôi, thể núm, thuỳ trán, nhân vỏ hến, hạch hạnh nhân, thuỳ thái dương, hồi hải mã, tiểu não, hồi đai, hành khứu giác, điều hành trung tâm, Fornix[479]. Một đồ chơi chẳng hạn, gợi nhớ cho trẻ những tình tiết, quy trình tháo ráp, ngữ nghĩa và cả những hành động. Tất cả được lưu trữ trong bộ nhớ để trẻ phát âm được từ, thí dụ “xe hơi”. Nếu trẻ không có những ký ức liên quan, thì chúng không nhớ được từ và không phát âm được, hoặc sẽ quên ngay sau khi cha mẹ dạy xong. Vì thế cha mẹ và các nhà giáo thường phải sử dụng nhiều vật dụng cụ thể khi dạy trẻ để tạo các ký ức.

Có nhiều trẻ em hiện nay, tuy không có hội chứng tự kỷ, nhưng vẫn gặp những khó khăn và rối loạn về ngôn ngữ do sống trong gia đình có cha mẹ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Thí dụ cha là người Trung Quốc nói tiếng Quan Thoại, mẹ là người Việt Nam, cả hai dùng tiếng Anh để chuyển ngữ, nên đứa con của họ phải học tới 3 ngôn ngữ. Em đã gặp khó khăn và rối loạn ngôn ngữ. Chúng ta cũng gặp thấy tình trạng rối loạn ngôn ngữ trong những gia đình người Việt sống ở nước ngoài khi trẻ phải học 2 ngôn ngữ cùng một lúc hoặc những gia đình ở Việt Nam đang cho trẻ học trong các trường quốc tế dùng ngoại ngữ là ngôn ngữ chính. Trẻ càng nhỏ tuổi bao nhiêu thì khi học cùng một lúc 2 hay 3 ngôn ngữ khác nhau, càng dễ dẫn tới rối loạn ngôn ngữ. Lời khuyên của chúng tôi là chỉ nên cho trẻ học thêm ngôn ngữ khi đã đủ lớn khôn và dùng thành thạo một ngôn ngữ nào đó. Có gia đình nói với chúng tôi rằng họ ân hận khi cho con cái mình học trường quốc tế vì bây giờ các em đã lớn, gặp những vấn đề mà cha mẹ không thể dạy dỗ chúng do không đủ khả năng về ngôn ngữ.

Vùng não dành cho cảm xúc

Não cảm xúc là những phần não chi phối các cảm giác sâu kín và mãnh liệt khi có những cảm xúc mạnh mà phần não chi phối lý trí không kiểm soát được như giận dữ, sợ hãi, sung sướng ngất ngây. Chúng liên quan đến những bản năng sinh tồn như đói, khát và tình dục. Vùng não cảm xúc gồm các phần của hệ viền như hạnh nhân, đồi thị, vùng dưới đồi, thể núm, các vùng hướng vào trong của vỏ não và hồi đai. Nhiều phần của hệ viền có liên quan sâu sắc trong việc hình thành ký ức.

Thí dụ: để nói được từ “mẹ”, trẻ nhớ đến mùi sữa mẹ mà vùng hành khứu giác lưu trữ, thể núm ghi nhớ những lần bú sữa mẹ ngon ngọt khác nhau; từ mẹ cũng gợi cho trẻ nhớ những nụ cười, những cái hôn, những mơn trớn trên da tạo nên sự thích thú được lưu trữ ở vùng dưới đồi. Khi được dạy những từ ngữ, nhiều trẻ không nhớ vì thiếu những sự liên kết giữa các phần cảm xúc của não. Vì thế hệ thống máy Brainmaster cũng chữa trị chứng rối loạn ngôn ngữ bằng cách nối kết các hoạt động của các phần não tương ứng.

Chúng tôi cũng nhận thấy rằng một số trẻ rối loạn ngôn ngữ không vì nguyên nhân tự kỷ, nhưng lại bắt nguồn từ những cảm xúc yêu thương không được thoả mãn. Nhiều trẻ khi đến 2-3 tuổi nói năng bình thường, nhưng do cha mẹ có xung đột, mâu thuẫn, ly thân, ly dị, đứa bé không còn được yêu thương, nên trẻ đột ngột không nói nữa, rơi vào tình trạng trầm cảm, rối loạn ngôn ngữ. Vì thế, chúng tôi nhắc nhở các phụ huynh cần phải biểu lộ tình yêu thương nhiều hơn với trẻ thì việc chữa trị cũng sẽ có kết quả tốt hơn.

4. Kiểm tra rối loạn ngôn ngữ qua phương pháp Neuro-feedback

Phương pháp Neuro-feedback gọi là phương pháp phản hồi thần kinh, do các nhà khoa học Hoa Kỳ phát minh cách đây khoảng gần 1 thế kỷ (1929). Người ta phóng những sóng Beta, Alpha, Theta, Delta, những sóng này được các tế bào thần kinh ở vỏ não ghi nhận và phản hồi lại bằng những đường biểu diễn sóng, nhờ đó người ta có thể suy đoán phần não được tác động vào có hoạt động bình thường hay không. Đấy là những sóng được ghi nhận qua điện não đồ (EEG: ElectroEncephaloGram ). Đây là công nghệ dùng để ghi chép xung động điện não từ da đầu.

Các nhà khoa học của cơ quang Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã dùng phương pháp này để chữa trị những rối loạn thần kinh cho những nhà du hành vũ trụ và những người tiếp xúc với một loại nhiên liệu tên lửa, gọi là Mono Methyl Hydrazine dẫn đến các triệu chứng như đau đầu, buồn nôn, khó thở, ảo giác và co giật, trên những hệ thống máy gọi là Brainmaster. Vào năm 1960, phương pháp này có những thành công nhất định và đã được phổ biến một cách giới hạn cho quần chúng bởi những nhà khoa học chuyên nghiệp để chữa trị cho những người có triệu chứng rối loạn tâm thần. Năm 2015, kỹ sư Phạm Đình Hải đã đưa phương pháp này vào Việt Nam để chữa trị cho người con của mình mắc chứng tự kỷ, trên hệ thống máy Brainmaster 4 chấm, nghĩa là đo một lúc 4 điểm trên não bộ con người. Bộ máy này cũng được giáo viên khoa tâm lý trường Đại học Hoa Sen TP.HCM sử dụng từ năm 2016 để chữa trị cho trẻ tự kỷ và có những kết quả tốt.

Năm 2017, chúng tôi đã nhập hệ thống Brainmaster 19 điểm, có khả năng đo 19 điểm cùng một lúc và tác động đến nhiều phần não khác nhau với những chương trình chữa cho trẻ tự kỷ và tâm thần. Khi sử dụng hệ thống Brainmaster 19 điểm giúp cho những trẻ tự kỷ, chúng tôi đã nhận thấy các trẻ có hiện tượng rối loạn ngôn ngữ thường có những biểu hiện yếu kém trong các vùng sau đây:

– Vùng T3 T4 thuộc vỏ não thính giác, đây là vùng ghi nhận những âm thanh để nhớ được các từ.

– Vùng T5 T6, đây là vùng thuộc vỏ não Geschwind để nối kết tên các đồ vật.

– Vùng F7 F8, đây là vùng ngôn ngữ Broca để nhớ các từ.

– Vùng O1 O2, đây là vùng vỏ não thị giác chứa đựng các hình ảnh của đồ vật đi kèm với các từ gọi tên đồ vật.

– Vùng Cz C3 C4, đây là vùng vỏ não vận động thân thể và cảm giác thân thể, nhất là xúc giác. Nhiều trẻ tự kỷ khó khăn khi cầm nắm các đồ vật, không biết uốn lưỡi, vận động môi miệng khi học nói, không biết nguy hiểm khi cầm các đồ vật nóng, lạnh.

– Vùng P3 P4, là vùng xử lý thông tin đa cảm xúc, trẻ tự kỷ không có nhiều cảm xúc hoặc không kiềm chế được cảm xúc khi chúng giận dữ la hét, khóc lóc đòi cho bằng được điều chúng muốn.

– Vùng FPz FP1 FP2 (vùng trán), đây là vùng điều hành trung tâm để phối hợp tất cả hoạt động của vỏ não nhưng vì thiếu sự tập trung điều hành nên tất cả các vùng não đều rời rạc không liên kết với nhau, trẻ không thể nói những câu đòi hỏi một sự tổng hợp lớn như “Con muốn uống nước” mà chỉ nói được từ nước đơn giản rồi chỉ tay vào bình nước hay kéo tay người thân đến bình nước.

– Vùng F3 F4, đây cũng là vùng thuộc phần điều hành trung tâm để phối hợp các hành vi cần sự vận động của tay chân.

– Fz, đây là vùng vỏ não nằm ở giữa, ngang với F3 F4, kích thích trí tưởng tượng của trẻ. Đối với một số trẻ tự kỷ, vùng này hầu như ít hoạt động. Trái lại, đối với một số bệnh nhân tâm thần vùng này lại hoạt động quá mức gây nên sự hoang tưởng.

Như thế, những biểu đồ và những làn sóng trên màn hình đã cho chúng ta thấy các phần não của trẻ tự kỷ có rối loạn về ngôn ngữ hoạt động không bình thường và thiếu sự nối kết giữa các vùng vỏ não với nhau. Hệ thống Brainmaster với các chương trình chữa trị sẽ kích thích các phần não này hoạt động và tạo ra sự liên kết đa dạng giúp cho trẻ có thể nói dễ dàng và nhớ lâu hơn.

Tuy nhiên, với điều kiện hiện nay, mỗi tuần chỉ chạy máy 1,2 lần trong 10-20 phút, những vùng não bộ của trẻ không được kích thích thường xuyên. Do đó, chúng tôi tha thiết xin các phụ huynh cộng tác với các chuyên viên chữa trị bằng cách xoa bóp các phần vỏ não tương ứng của trẻ mỗi ngày một vài lần, mỗi lần một ít phút vì việc xoa bóp này sẽ tiếp tục tác động trên các phần não giúp cho phương pháp phản hồi thần kinh đạt hiệu quả cao hơn.

5. Phương pháp xoa bóp cho các trẻ rối loạn ngôn ngữ

5.1. Bảo vệ bộ não trẻ

Bộ não con người gồm khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh, gọi là neuron, bộ não này chính là hệ thần kinh trung ương phát đi các lệnh đến từng phần thân thể cho các cơ quan và tế bào hoạt động, cũng như thu nhận các dữ liệu từ khắp các phần thân thể chuyển về để cảm nhận, xử lý và lưu trữ trong bộ não. Những tháng tuổi đầu đời, bộ não của trẻ còn non nớt, ta lại càng phải chú ý vì chúng giống như tờ giấy trắng một khi vẽ lên rồi rất khó tẩy xoá. Nếu có tẩy xoá được thì trang giấy cũng đã bị lem luốc không còn đẹp nữa. Vì thế các bậc phụ huynh phải tránh không nên tạo cho trẻ những âm thanh, hình ảnh, cảm giác, cảm xúc, cảm tình quá mạnh mẽ, tiêu cực gây nguy hại cho bộ não của trẻ. Thí dụ: những âm thanh chát chúa, những hình ảnh với ánh sáng quá mãnh liệt, những đồ vật quá nóng hoặc quá lạnh, những trò chơi tung hứng có thể làm trẻ cười sặc sụa nhưng tạo nên những nỗi sợ hãi khó quên trong bộ nhớ.

Ngày nay với những phương tiện truyền thông xã hội như truyền hình, điện thoại, sách báo, máy nghe nhạc… nhất là những chương trình qua các điện thoại thông minh hay ipad, iphone, trẻ có thể ngồi yên không khóc, không cử động trong nhiều giờ đồng hồ khi chơi với những phương tiện đó, khiến người lớn chúng ta có thể yên ổn làm việc. Nhưng chúng ta không thể nào lường được những tai hại khi bộ nhớ của trẻ phải thu nhận hàng tỷ dữ liệu qua những hình ảnh, âm thanh vô nghĩa.

Mỗi giây đôi mắt của chúng ta thu nhận 24 hình ảnh được sắp xếp gần nhau để tạo nên một cử động. Vậy trong 1 giờ có 3.600 giây, đôi mắt của trẻ đã thu nhận khoảng 86.400 hình ảnh khác nhau kèm theo những dữ liệu về âm thanh, màu sắc được lưu trữ trong bộ nhớ. Điều này đã làm cho những hình ảnh đồ vật mà cha mẹ muốn dạy qua ngôn ngữ bị chìm lỉm trong khối hình ảnh hỗn độn kia, khiến trẻ không nhớ nỗi hình ảnh ta muốn dạy.

Âm thanh ngôn ngữ cũng vậy, một khi bộ nhớ của trẻ đã ghi nhận những âm thanh từ những trò chơi, chương trình truyền hình mà chúng không hiểu gì hết, nhưng vẫn được ghi nhớ trong vỏ não thính giác, thì việc gọi tên một vài đồ vật mà cha mẹ muốn dạy làm cho trẻ cảm thấy rất khó khăn. Đó là chúng ta chưa nói đến những khuôn mặt giận dữ, những hình ảnh ma quái, bạo lực, mang đầy tính đe doạ, tiêu cực đã được trẻ thu nhận và ghi nhớ trong cõi vô thức của trẻ có thể tạo nên những hiện tượng tâm lý tiêu cực sau này.

Vì thế, cha mẹ chỉ nên cho trẻ thơ tiếp xúc với những hình ảnh trong sáng, vui tươi, tích cực, nghe những âm thanh vui vẻ, nhẹ nhàng qua những bài hát đơn giản để tạo nên những tình cảm tốt đẹp, quân bình, trong sáng, cao thượng trong tâm trí trẻ thơ.

5.2. Nuôi dưỡng bộ não

Để cho bộ não hoạt động, nó cần phải được nuôi dưỡng đầy đủ bởi máu được chuyển đến từ tim và khí Oxy thu nhận từ phổi chứa đựng trong máu. Tuy nhiên, người ta ít quan tâm đến việc máu và khí có đủ trong não của trẻ hay không. Cha mẹ chỉ quan tâm đến việc bú sữa, ăn dặm. Bộ não của trẻ sẽ hoạt động rất tốt nếu chúng ta giúp cho trẻ thở được nhiều khí trong lành và xoa bóp để máu và khí được vận hành.

Đối với những trẻ vài tháng tuổi đến 1,2 tuổi, ta cố gắng tạo nên những chỗ ở thoáng mát giúp cho trẻ thở được bầu khí trong lành, trẻ nên mặc những bộ quần áo rộng rãi thay vì mặc những bộ quần áo bó chặt để giữ ấm như một số cha mẹ ở Việt Nam đang làm. Trong mùa lạnh trẻ có thể mặc thêm áo ấm nhưng phải là những bộ quần áo rộng rãi để cho trẻ dễ thở.

Cha mẹ có thể xoa phía trước ngực để kích thích tim và phổi, nhất là mấy huyệt đạo giữa ức của trẻ và vỗ nhẹ phía sau lưng để giúp trẻ thở mạnh hơn. Chúng ta biết trẻ sơ sinh thở khoảng 25 lần/phút, trong khi người lớn thở khoảng 16 lần/phút. Khi trẻ được 2,3 tuổi, ta có thể tập cho trẻ thở bằng cách làm mẫu cho trẻ bắt chước. Ta nói trẻ nhìn vào mặt mình, ngậm miệng, hít dài hơi bằng mũi, rồi thở ra từ từ bằng miệng. Khi thở ra ta thổi nhẹ vào mặt trẻ để bé cảm thấy luồng hơi phát ra. Mỗi ngày tập thở như thế vài ba phút để tạo thói quen cho trẻ hít được nhiều khí trong buồng phổi qua mỗi lần thở.

Bộ não của chúng ta tuy chỉ bé bằng nắm tay, nhưng để hoạt động bình thường, nó cần tới 1/5 dung tích khí của toàn thân, nghĩa là khoảng 2000 lít không khí mỗi ngày. Dưỡng khí ta thở, ta hít vào buồng phổi sẽ chuyển hoá dòng máu đen thành dòng máu đỏ chảy về tim và từ tim được bơm đi khắp thân thể nuôi sống từng tế bào. Vì thế, có đầy đủ oxy, bộ não của trẻ sẽ hoạt động hiệu quả. Do đó, những bộ quần áo quá chật sẽ làm cho trẻ khó thở, ngăn cản phần nào việc dung nạp khí của bộ não.

Não cần phải được nuôi bằng máu bơm từ tim lên qua 3 đường chính[480].

– Một đường từ hai bên cổ đi đến trước tai rồi chuyến đến các động mạch, tĩnh mạch bên ngoài của đầu.

– Đường thứ hai, từ phía dưới cằm chạy dọc theo sóng mũi đi lên đỉnh đầu.

– Đường thứ ba, từ cổ phía sau gáy chạy dọc theo giữa đầu lên đỉnh đầu.

Đây là các động mạch, tĩnh mạch bên ngoài đầu, chúng ta có thể xoa nhẹ những phần vỏ não để máu được chuyển thông dễ dàng trong các phần vỏ não. Ngoài ra, não còn được cung cấp bằng các mạch máu ở bên trong não, gọi là mạch máu nội sọ.

Để kích thích các mạch máu này, chúng ta có thể xoa ở các đốt sống cổ từ C1-C4 cho máu chuyển thông nhanh[481].

Chúng ta cũng lưu ý rằng các hạch bạch huyết ở đầu và cổ tạo nên hệ miễn dịch có thể gây cản trở luồng máu lưu thông trên đầu, vì khi con người chúng ta bị nhiễm trùng, bị những vết thương ở đầu và mặt, những hạch bạch huyết này có nhiệm vụ sản xuất ra bạch cầu để bao vây vi trùng, vi khuẩn. Việc nở lớn các hạch bạch huyết cũng có thể ngăn trở các mạch máu. Vì thế, việc xoa nắn nhẹ trên mặt và cổ của trẻ cũng giúp cho máu lưu thông dễ dàng. Chúng tôi khuyến khích các phụ huynh xoa bóp cho trẻ ở vùng đầu, vùng cổ mỗi ngày vài ba phút. Những hành vi yêu thương này sẽ giúp cho trẻ cảm nghiệm được tình yêu của cha mẹ, là dịp ta dạy trẻ nhìn vào mặt mình, tập đọc các từ ngữ để co nhiều tương tác xã hội.

6. Trình bày kết quả chữa trị rối loạn ngôn ngữ theo phương pháp phản hồi thần kinh

Sau đây chúng tôi sẽ trình bày quá trình chữa trị rối loạn ngôn ngữ qua một vài bệnh nhân điển hình trên hệ thống Brainmaster 19 điểm.

6.1. Trường hợp của bệnh nhân Trần Nguyễn Ngọc Tuyền

Đây là một trẻ gái, không có rối loạn tự kỷ, chỉ có rối loạn ngôn ngữ: khi tới em chưa biết nói thành câu, chỉ nói được hai từ đơn là ăn, mẹ và bà. Hình ảnh EEG ngày đầu tiên chúng tôi thu nhận được với những làn sóng bất thường ở các vùng F3, F4, F7, F8, FP1, FP2, T5, T6, O1, O2.

Trẻ được ghi nhận các biểu hiện như rối loạn ngôn ngữ, khó ngủ (ngủ hay mơ, giật mình), khó kìm chế cảm xúc, dễ cáu giận ngay trong ngày đầu tiên tiếp xúc với phương pháp phản hồi thần kinh.

Sau 12 lần chạy máy Brainmaster theo chương trình chữa trị, chúng tôi có biểu đồ về sóng não của 19 điểm như sau:

– Các vùng não trước đây có màu đỏ, bây giờ ổn định với màu xanh.

– Kết quả điều trị: trước đây trẻ đến phòng khám chưa biết chào hỏi một ai, dù cha mẹ có gợi ý, nay đã biết tự động chào hỏi.

– Trước đây trẻ chỉ nói được hai từ đơn là “bà” và “mẹ”, nay trẻ đã biết kể câu chuyện đơn giản, diễn tả các xúc cảm qua nét mặt vui/buồn và qua các cử chỉ khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi.

6.2. Trường hợp của bệnh nhân Nguyễn Đức Bình

Đây là một tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tự kỷ. Khi trẻ tới, trẻ la hét rất nhiều, khó khăn kìm chế cảm xúc, biểu hiện tăng động kém tập trung, hay ăn vạ, tự đánh bản thân, tuy nói được một số từ nhưng không rõ, trẻ chưa biết chỉ ngón tay, giới hạn chơi với một số đồ chơi nhưng không chơi đúng chức năng, chỉ thích chơi một mình.

Biểu đồ não của em cho thấy các vùng não bị tổn thương, các sóng não ở 19 điểm, phần vỏ não có những chỗ bất thường, phần liên kết các vùng vỏ não kém. Các vùng vỏ não không ổn định hiển thị màu đỏ rất rõ.

Kết quả chạy máy, ngày đầu tiên ghi nhận trẻ có rối loạn ngôn ngữ, khó khăn âm vị, khó khăn giao tiếp xã hội; khó khăn kiểm soát vận động tay chân; khó khăn lên kế hoạch và hoàn thành mục tiêu đề ra; khó khăn khả năng ghi nhớ, lưu trữ thông tin liên quan âm thanh, hình ảnh; khó khăn khả năng định hướng không gian; khó khăn kìm chế cảm xúc; khó khăn giấc ngủ; hơi thở yếu.

Sau 15 lần chạy máy Brainmaster theo chương trình chữa trị, chúng tôi có biểu đồ về sóng não của 19 điểm như sau:

So sánh hình chụp bộ não của em với hình chụp ban đầu, chúng ta thấy có nhiều điểm tốt đẹp qua phần màu xanh và các sóng não ổn định hơn. Trước kia em bị rối loạn ngôn ngữ, khó khăn phát âm, khó khăn kìm chế cảm xúc, không muốn ngồi yên, khó khăn lên kế hoạch, khó khăn giấc ngủ… nhưng bây giờ các vấn đề đã cải thiện rất nhiều: em tích cực hơn, phát âm khá rõ, kìm chế cảm xúc khá tốt (trước đây em không vừa ý, hoặc thích đồ chơi mà không được, em có thể ăn vạ từ 1 giờ đến 3 giờ đồng hồ mới hết, bây giờ chỉ còn vài phút) và chủ động trả lời khi được hỏi, nhiều lúc em chủ động được câu hỏi; chủ động ngủ sớm hơn, ngủ sâu hơn; tâm trạng em vui hơn rất nhiều so với trước khi chạy máy. Đặc biệt, em biết chỉ ngón tay (khả năng định hướng không gian) chỉ sau 7 buổi chạy máy.

7. Cầu nguyện cũng là một cách chữa trị

Rất nhiều trẻ tự kỷ và những bệnh nhân khác đã đến với chúng tôi để dùng phương pháp phản hồi thần kinh. Sau 3 năm điều trị, chúng tôi nhận thấy có những kết quả khác nhau. Có những bệnh nhân mà biểu đồ não cho thấy những thông số xấu lại được chữa lành mau chóng hơn những bệnh nhân có biểu đồ não với thông số tốt. Dù chúng tôi đã chỉ dẫn những cách xoa bóp phần vỏ não, cách hít thở và số lần chạy máy Brainmaster như nhau.

Sự kiện này nhắc nhở chúng tôi về 4 yếu tố trong sức khoẻ con người: thể lý, tâm thần, tâm lý, tâm linh, mà nhiều bệnh viện tiên tiến trên thế giới đang áp dụng. Chúng tôi nhận ra điều này qua chuyến tham quan học hỏi ở Đức và Thuỵ Sỹ. Theo lời mời của tiến sĩ Armin Kuhr, người Đức, Viện trưởng Viện tham vấn Điều trị Tâm lý Dinklar ở Đức, từ ngày 4/9 đến 24/92012, chúng tôi cùng tiến sĩ Nguyễn Thị Loan và thạc sĩ Nguyễn Thanh Hằng thuộc khoa tâm lý Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TP.HCM đã sang thăm và làm việc tại các cơ sở để điều trị tâm lý cho các trẻ tự kỷ, các người bệnh bị khủng hoảng tâm lý vì nghề nghiệp, vì nghiện ma tuý, phim đồi truỵ hay trò chơi điện tử ở Đức và Thuỵ Sĩ. Chúng tôi đặc biệt thăm một bệnh viện chuyên khoa tên là Berolina ở vùng Lohne Bad Oeynhausen, ngày 13/9/2012, với hướng điều trị sức khoẻ toàn diện gồm 4 yếu tố: thể lý, tâm thần, tâm lý và tâm linh. Đây là xu hướng điều trị mới của các nước tiên tiến.

Ngoài việc áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong phương pháp phản hồi thần kinh, cộng thêm với việc xoa bóp các phần vỏ não, việc tập thở để có nhiều khí Oxy trong các đường dẫn máu vào não, chúng tôi đề nghị những bệnh nhân và người thân của các trẻ tự kỷ, nếu họ có niềm tin, hãy thêm lời cầu nguyện. Khi viết những dòng này, một số người có thể chê trách chúng tôi là mê tín hoặc cố ý tuyên truyền tôn giáo trong những hoạt động thuần tuý khoa học kỹ thuật để điều trị con người.

Tuy nhiên, dù bạn tin hay không tin, dù bạn theo một tôn giáo hay không theo tôn giáo nào, thì chúng tôi vẫn muốn chia sẻ với bạn niềm xác tín này: “con người là một mầu nhiệm cần khám phá không ngừng”. Cho đến nay, trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu về con người, khoa học vẫn phải xác nhận rằng có những hiện thực không thể giải thích bằng những lý lẽ tự nhiên vì chúng vượt quá giới hạn của khoa học kỹ thuật, nếu chỉ căn cứ vào những thứ cân-đo-đong-đếm được nơi thể xác vật chất của con người.

Trong lĩnh vực chữa trị các trẻ tự kỷ hay người bị rối loạn ngôn ngữ cũng thế. Có những bệnh nhân phục hồi khả năng nói và suy nghĩ một cách mau chóng nhờ lời cầu nguyện. Tại sao chúng tôi lại quả quyết điều đó? Thưa, tại vì chính hoạt động của bộ não con người nhắc nhở chúng tôi rằng: ngôn ngữ con người cũng là một mầu nhiệm mà chính khoa học cũng chưa khám phá được hết những điều kỳ diệu của nó.

Trên đây, chúng ta đã nghiên cứu việc vận hành của bộ não với các phần vỏ não, bộ nhớ và bộ cảm xúc liên quan đến ngôn ngữ, nhưng thử hỏi bản chất thật sự của những từ ngữ, ký ức, hình ảnh, cảm xúc vui buồn, yêu thương, hạnh phúc trong bộ não của chúng ta và trong toàn bộ hệ thần kinh với cả tỷ tế bào thần kinh chạy khắp cơ thể để dẫn những cảm giác nóng lạnh, đau đớn, thăng bằng… là gì?[482]

Tất cả chỉ là những tín hiệu thần kinh hay là các xung điện của dòng điện gây ra do sự chuyển động của các phần tử gọi là ion. Khi các ion di chuyển băng qua màng tế bào, chuyển động liên kết của điện tích gây ra một xung động điện hay là một điện thế hoạt động. Điện thế hoạt động đo được vào khoảng 100 mV từ đỉnh đến đáy và kết thúc trong 1/250 giây[483].

Các xung động điện rất nhỏ truyền dọc theo các sợi trục của các tế bào thần kinh đến gần cuối tế bào, gọi là khớp thần kinh, chúng sẽ giải phóng những chất dẫn truyền thần kinh, là những hoá chất, chứa bên trong các túi. Các chất dẫn truyền này lại vượt qua khe khớp ngăn cách giữa 2 tế bào để gắn vào những thụ thể của tế bào thần kinh tiếp theo tạo nên một xung điện mới truyền lệnh thần kinh[484].

Như thế, tất cả những gì mà chúng ta gọi là từ ngữ, ý nghĩa, tư tưởng, cảm xúc, cảm giác, tình yêu, hạnh phúc… chỉ là những xung động điện, những hoá chất tác động trong bộ não và thần kinh của con người. Chúng ta cần tìm về được với nguồn của tư tưởng, tình yêu, sự thật và sự sống là một thực tại không nằm ở trong con người, nhưng lại đang hoạt động trong con người. Cũng vì lý do đó mà chúng tôi mới nói đến việc cầu nguyện để những bệnh nhân có triệu chứng rối loạn ngôn ngữ có thể tiếp xúc với Thực Tại Cao Cả này mà mỗi tôn giáo có thể gọi bằng những tên khác nhau.

Lời kết

Việc điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ cho những trẻ tự kỷ và những người tâm thần là một công trình cần được nghiên cứu sâu xa hơn mà chúng tôi, qua một ít kinh nghiệm thực tế, muốn đóng góp vào sự nghiệp chung của các nhà điều trị. Chúng tôi hy vọng rằng những phụ huynh của các trẻ tự kỷ có thể giúp các cháu phát triển khả năng ngôn ngữ của mình qua những hướng dẫn cụ thể về cách xoa bóp phần não, hít thở khí tăng cường cho bộ não hoạt động và cả việc cầu nguyện với lòng tin tưởng để việc chữa trị này sẽ đạt được hiệu quả nhanh chóng hơn.

Bài 2: Tin mừng cho người khuyết tật

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn,

Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ NKT&TMC TP.HCM

Phạm Văn Giáo

Chuyên viên tâm lý và sử dụng máy BrainMaster

Lời mở

Cách đây hơn 3 năm, vào ngày 12/6/2016, cũng tại Trung tâm Mục vụ Giáo phận Cần Thơ này, chúng tôi đã trình bày với các bạn về “Hiện trạng người khuyết tật và linh đạo Caritas”. Hôm nay, thứ Bảy 7/12/2019, chúng ta lại họp mặt nhân Ngày Quốc tế Người Khuyết tật. Sau những năm hoạt động tích cực để giúp đỡ những người khuyết tật, nghiên cứu và tìm hiểu một vài phương pháp mới, nhất là phương pháp xoa bóp chữa trị và phản hồi thần kinh (neurofeedback) trên hệ thống máy BrainMaster, do các nhà khoa học của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) phát minh, chúng tôi có thể loan báo một vài tin mừng cho những người khuyết tật. Chúng tôi hy vọng chúng ta có thể cùng giúp nhau cảm nhận được niềm vui và hy vọng trong cuộc sống đầy thử thách bởi những khuyết tật của mình.

1. Vài dòng lịch sử

Từ năm 1992, Liên Hợp Quốc chọn ngày 3/12 là Ngày Quốc tế Người Khuyết tật. Chủ đề hoạt động của năm 2019 là “Tầm quan trọng của sự hoà nhập: Tăng cường sự tiếp cận và quyền của tất cả mọi người”. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người Khuyết tật được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua ngày 13/12/2006, nhằm thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm cho người tàn tật được hưởng thụ đầy đủ và công bằng tất cả các quyền con người và các quyền tự do, đồng thời chú trọng đề cao nhân phẩm của người tàn tật. Công ước này được chính thức áp dụng từ năm 2008 trên khắp thế giới. Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn công ước này ngày 28/11/2014. Từ năm 1980, Việt Nam vẫn tổ chức Ngày Người Khuyết tật vào ngày 18 tháng Tư hàng năm.

2. Tình trạng người khuyết tật hiện nay

Theo thống kê mới nhất của Liên Hợp Quốc, khoảng 10% dân số thế giới, tức hơn 700 triệu người, bị ảnh hưởng bởi những khiếm khuyết về thể chất cũng như tinh thần, theo nhiều mức độ khác nhau, từ nhẹ đến nặng. 80% số người khuyết tật sống tại các nước đang phát triển, trong đó tỉ lệ người khuyết tật ở phụ nữ cao hơn nam giới. Người khuyết tật được coi là những người bị thiệt thòi nhất với 1/3 trong số họ sống dưới mức nghèo, nghĩa là không kiếm nỗi 1 đô la Mỹ, tương đương 23.000 đồng Việt Nam/ngày.

Sáng 11/1/2019, Tổng cục Thống kê và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNICEF) đã công bố kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam 2016.

Đây là cuộc điều tra đầu tiên có quy mô lớn sử dụng tiêu chuẩn quốc tế xác định người khuyết tật để thu thập các thông tin toàn diện về cuộc sống của người khuyết tật tại Việt Nam, do Tổng cục Thống kê tiến hành trong hai năm 2016 và 2017 với sự hỗ trợ kỹ thuật của UNICEF.

Ông Vũ Thanh Liêm, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết, mục đích của cuộc điều tra là đánh giá tình trạng khuyết tật của dân số và điều kiện kinh tế-xã hội nhằm cung cấp bằng chứng phục vụ việc lập kế hoạch, chính sách cải thiện cuộc sống của người khuyết tật tại Việt Nam.

Khuyết tật có ảnh hưởng đến một tỷ lệ dân số đáng kể ở Việt Nam với hơn 7% dân số từ 2 tuổi trở lên – khoảng 6,2 triệu người, là người khuyết tật. Bên cạnh đó, có 13% dân số – gần 12 triệu người, sống chung trong hộ gia đình có người khuyết tật. Tỷ lệ này dự kiến sẽ tăng lên cùng với xu hướng già hoá dân số.

Theo kết quả điều tra, những hộ gia đình có thành viên khuyết tật thường nghèo hơn những hộ không có người khuyết tật, trẻ em khuyết tật có nguy cơ ít được đi học hơn các bạn cùng trang lứa, cơ hội việc làm cho người khuyết tật cũng thấp hơn những người không khuyết tật.

Cho dù người khuyết tật là đối tượng được hưởng chính sách bảo hiểm y tế và nghèo không phải là rào cản đối với việc tiếp cận các cơ sở y tế, nhưng rất ít người khuyết tật (2,3%) tiếp cận được với dịch vụ phục hồi chức năng khi bị ốm hoặc bị thương. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng về mức sống và tham gia xã hội đối với người khuyết tật.

Điều tra cũng chỉ ra rằng, cơ hội được đi học của trẻ em khuyết tật thấp hơn nhiều so với trẻ em không khuyết tật. Ở các cấp học cao hơn thì cơ hội đi học của trẻ khuyết tật càng thấp hơn. Đến cấp Trung học phổ thông chỉ có chưa đến 1/3 trẻ khuyết tật đi học đúng tuổi, so với tỷ lệ 2/3 trẻ em không khuyết tật.

Mặc dù việc đưa trẻ em khuyết tật hoà nhập với trẻ em khác và học chung giáo trình đã cho những kết quả tích cực. Tuy nhiên, chỉ có 2% trường Tiểu học và Trung học cơ sở có thiết kế phù hợp với học sinh khuyết tật và khoảng 1/7 số trường có một giáo viên được đào tạo về khuyết tật[485].

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 27 năm Ngày Quốc tế Người Khuyết tật (3/12/1992 – 3/12/2019) diễn ra chiều 3/12/2019 tại Hà Nội, Bà Trương Thị Mai, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương, nhấn mạnh rằng việc Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật vào năm 2014 đã thể hiện sự cam kết chính trị mạnh mẽ nhằm xoá bỏ những trở ngại, rào cản đối với người khuyết tật.

Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nước ta hiện có hơn 6,2 triệu người khuyết tật, trong đó có 1,1 triệu người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, bằng 7,06% dân số cả nước. Đến nay, các cơ quan chức năng đã cấp giấy xác nhận tình trạng khuyết tật cho hơn 1,5 triệu người; giải quyết chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng cho khoảng 1,1 triệu người. Riêng năm 2019, ngân sách nhà nước đã bố trí cho các địa phương hơn 17.000 tỷ đồng để thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật.

Nhận được sự trợ giúp về nhiều mặt, không ít người khuyết tật ở nước ta đã toả sáng trong đời sống xã hội bằng tâm hồn, trái tim, khối óc, nghị lực và sự cống hiến của bản thân họ. Tuy vậy, việc triển khai chính sách trợ giúp người khuyết tật có chỗ, có nơi chưa đạt kết quả như mong muốn. Đáng lưu ý là mức trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật chậm được điều chỉnh; việc huy động các nguồn lực xã hội để trợ giúp người khuyết tật chưa đáp ứng được nhu cầu[486]…

Chúng tôi muốn gợi ý với những anh chị em khuyết tật và gia đình những người khuyết tật rằng họ có quyền được hưởng những quyền lợi dành cho mình, thí dụ như tiền trợ cấp hàng tháng, quà nhân dịp Tết Trung Thu cho trẻ em, quà Tết Nguyên Đán… nên họ cần khai báo với chính quyền địa phương, cụ thể là Phòng Ban Lao động, Thương binh Xã hội của quận huyện, làng xã… Hiện này số người khuyết tật rất nhiều, nhưng chỉ mới một phần tư người khai báo và một phần năm người được hưởng trợ cấp.

3. Một vài hoạt động cụ thể dành cho người khuyết tật

Trong nhiều năm qua, Hội Bảo trợ Người Khuyết tật và Trẻ Mồ côi TP.HCM đã có một số những hoạt động trợ giúp người khuyết tật và từ đó có thể giúp cho người khuyết tật vượt qua một số những hạn chế về thể chất và tinh thần.

Mỗi năm Ban Y tế Xã hội của Hội Bảo trợ Người Khuyết tật và Trẻ Mồ côi TP.HCM tổ chức những đoàn bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, tình nguyện viên để khám sức khoẻ tổng quát, siêu âm, đo điện tim, khám phụ khoa, khám mắt, tai mũi họng, cơ xương khớp, khám chữa răng, phát thuốc, phát kính cho những người khuyết tật và trẻ mồ côi trong các quận huyện của TP.HCM và một vài tỉnh thành lân cận như Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, An Giang, Lâm Đồng, Đăk Nông. Trung bình mỗi năm 6 lần, cho khoảng 6.000 người. Hằng tuần, có nhiều ngày khám bệnh, chữa răng cho các người khuyết tật, mỗi năm khoảng 2.000 người.

Sau nhiều năm giúp các bệnh nhân, chúng tôi nghiên cứu và khám phá ra phương pháp xoa bóp chữa bệnh, kích thích các hệ thống thần kinh, cơ xương khớp, hệ thống tuần hoàn, hệ bạch huyết và miễn dịch để trợ giúp những người khuyết tật vận động và chữa trị những bệnh tật khác[487].

3.1. Điều đầu tiên chúng tôi muốn lưu ý là các dây thần kinh tuỷ sống từ cổ đến xương cùng có thể bị chèn ép và gây nên những chứng bệnh và hạn chế vận động của con người. Chúng tôi nhận thấy rằng rất nhiều bệnh nhân bị tê liệt tay chân do tai nạn giao thông, do té ngã, do nằm ngủ sai tư thế, mang vác nặng không đúng tư thế… nên bị thoát vị đĩa đệm ở cột sống, thoái hoá các đốt sống. Các đĩa đệm này đã chèn các dây thần kinh khiến cho lệnh từ não không đến được các cơ quan như tim, phổi, dạ dày, gan, mật, tuỵ tạng, ruột non, ruột già trong hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ sinh dục hay đến tay chân, từ đó gây nên các chứng bệnh khác nhau hay chân tay khó vận động. Vì thế, qua việc khám nghiệm xem có đĩa đệm nào thoát ra ngoài, chúng tôi sẽ đưa chúng vào lại vị trí đúng là các dây thần kinh hết bị chèn[488].

Nhìn trên hình ảnh hệ thần kinh ta thấy những đường dây thần kinh chằng chịt dẫn lệnh từ não đi khắp cơ thể, cũng như có 31 đôi thần kinh từ tuỷ sống dẫn lệnh thần kinh đến các cơ quan nội tạng trong người. Thí dụ 8 dây thần kinh tự động dẫn đến tim và 7 dây thần kinh dẫn đến phổi đi từ đốt sống cổ C1-T5. Nếu những dây này bị ngăn cản bởi các đĩa đệm sẽ gây nên những chứng bệnh về tim và phổi. Khi chúng tôi dùng những ngón tay và bàn tay ấn trên lưng bệnh nhân để đưa các đĩa đệm về đúng vị trí, nhiều bệnh nhân đã được chữa lành. Hoặc một số bệnh về dạ dày, gan, tuỵ có thể bắt nguồn từ việc các dây thần kinh tuỷ sống ngực dẫn lệnh từ não đến các cơ quan đó bị các đĩa đệm từ T5-T9 ngăn cản. Nhiều bác sĩ định bệnh cho thuốc chữa dạ dày, gan, tuỵ, nhưng nguyên nhân bệnh có thể không bắt nguồn từ các cơ quan đó mà do lệnh từ não không tới được chúng. Chúng tôi đã thử dùng tay xoa bóp, rồi đưa các đĩa đệm đó về đúng vị trí là các triệu chứng bệnh biến mất. Như thế hệ thống cơ xương khớp với các đĩa đệm bị thoát khỏi vị trí cũng liên quan mật thiết đến một số bệnh trong cơ thể con người[489].

Điểm có thể áp dụng trong đời sống cho người khuyết tật là chúng ta cố gắng nằm thẳng, tránh những dịp làm cho đĩa đệm bị sai lệch, xoa dọc theo xương sống cho máu chuyển đều trong các dây thần kinh, có thể dùng nắm tay đấm nhẹ chỗ thắt lưng đến xương cùng để kích thích các dây thần kinh thắt lưng, thần kinh toạ chuyển động.

Ta cũng có thể tập mấy thế thể dục sau đây để tăng cường sức khoẻ. Thế thứ nhất: nằm thẳng trên giường hay trên nền nhà bằng phẳng, hai tay nâng đầu, hai chân vừa đạp từ từ như đạp xe đạp, vừa đạp vừa hít vào thở ra dài hơi. Thế tập này sẽ làm khoẻ chân, tiêu mỡ bụng, làm cho các cơ bụng vận chuyển, bộ phận tiêu hoá, bài tiết, sinh dục sẽ khoẻ mạnh hơn. Thế tập thứ hai, cũng nằm ngửa, tay giữ đầu như thế thứ nhất, giơ thẳng hai chân lên cao, hít vào từ từ bằng mũi, sau đó từ từ hạ chân xuống, vừa thở ra bằng miệng. Thế tập này kéo thẳng các cơ và dây thần kinh dọc theo chân, làm thần kinh toạ chuyển động ở mông, hông, lưng.

Thế tập thứ ba: nằm thẳng, hai tay nắm hai cẳng chân, co hai đầu gối sát bụng, vừa kéo vừa hít vào. Sau đó vừa từ từ duỗi chân thẳng ra, vừa thở ra bằng miệng. Thế tập này làm khoẻ chân, khoẻ đầu gối, kéo dãn các cơ và các dây thần kinh ở sống lưng giúp cho lưng thẳng, không đau nhức. Thế tập thứ tư: nằm sấp, hai bàn tay đặt ngang vai mở ra, đặt úp xuống nền, khuỷu tay sát hông, đầu thẳng, từ từ nâng nửa thân trên lên cao, bụng vẫn dán xuống nền, cong xương sống và ngửa cổ ra sau vừa làm vừa hít vào bằng mũi. Sau đó hạ người dần xuống tư thế ban đầu, vừa thở ra bằng miệng. Tư thế này giống với thế tập “rắn hổ mang” (cobra) của Yoga. Tư thế này kéo dãn các đốt sống cổ và lưng, các thần kinh liên sườn, kéo dãn lồng ngực, làm khoẻ tim, phổi.

Mỗi ngày ta dành chừng 10-15 phút tập các động tác này, kèm thêm việc chạy tại chỗ, chạy từ từ. Vừa chạy vừa hít vào thở ra thật mạnh. 3 lần hít vào, 3 lần thở ra để làm cho tất cả các cơ bắp trong người chuyển động. Ta sẽ làm tiêu các chất mỡ, chất đường dư thừa trong người và tạo được một sức khoẻ dẻo dai và làm cho tim mạch được điều hoà.

3.2 Điều thứ hai là chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của khí thở đối với sức khoẻ con người. Chúng ta thường chú ý đến ăn, ít quan tâm đến uống và không chú ý đến thở. Trong thực tế mỗi ngày ta cần khoảng 1.5kg lương thực để cung cấp khoảng 2.300 kcalo và nhịn ăn tối đa khoảng 20,30 ngày mới chết. Ta cần uống từ 3-4 lít nước mỗi ngày và nhịn uống tối đa 3-4 ngày. Nhưng ta cần tối thiểu 10.000 lít khí thở mỗi ngày và nhịn thở tối đa được 4 phút. Trong mỗi vòng quay máu thường kéo dài chưa đầy 1 giây trong cơ thể con người, khí thở rất cần thiết để biến đổi dòng máu đen từ tim chuyển thành dòng máu đỏ ở phổi, sau đó lại trở về tim và từ đây chuyển đến từng tế bào trong khắp cơ thể. Nếu những cơ quan trong các hệ thần kinh không nhận đủ oxy và chất bổ dưỡng trong máu, chúng không đủ nguồn lực để phát đi các lệnh và chuyển các lệnh cho toàn thân hoạt động.

Qua việc đo lường khí thở cho từng bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy có khoảng hơn 90% người Việt Nam thở không đủ khí. Khi bệnh nhân đến khám chữa bệnh, nhiều nơi thường chỉ đo huyết áp, siêu âm, xét nghiệm máu, chụp x quang… nhưng ít khi đo lường khí thở để tìm ra nguyên nhân bệnh tật. Qua kinh nghiệm nhiều năm giúp đỡ các bệnh nhân, chúng tôi thấy việc thở không đủ khí là một trong những nguyên nhân chính gây nên nhiều chứng bệnh khác nhau do bộ não thiếu khí để hoạt động. Bộ não của con người chỉ to bằng một nắm tay nhưng mỗi ngày cần tối thiểu 2.000 lít khí đểvận hành, nghĩa là chiếm 1/5 lượng khí của cơ thể.

Vì thế chúng tôi tập cho các bệnh nhân cách thở thế nào để tăng cường khí trong mỗi lần thở. Việc tập thở rất đơn giản, chúng ta bước một chân lên trước, dang rộng cánh tay và ưỡn ngực trong khi ngậm miệng và hít khí vào bằng mũi cho đầy phổi. Sau đó từ từ khép cánh tay lại đưa chân về thở ra bằng miệng cho hết khí. Ta tiếp tục động tác này bằng cách đổi chân khác. Đây là cách thở thứ nhất cho lồng ngực nở theo chiều ngang. Cách thở thứ hai làm nở lồng ngực theo chiều dọc: ta bước một chân lên trước, đưa hai cánh tay từ từ lên cao, vượt qua khỏi đầu, ưỡn ngực và ngửa người ra phía sau, vừa làm vừa hít sâu vào bằng mũi để dãn các xương sườn ngực. Sau đó ta rút chân về, từ từ cúi xuống, cho đến khi hai tay chạm vào đầu gối và thở hết khí ra bằng miệng.

Chúng tôi cũng hướng dẫn bệnh nhân xoa các huyệt đạo phía trước ngực nơi xương ức và kiểm tra các đốt sống cố từ C1 đến T5 để ổn định hoạt động của phổi và tim. Bệnh nhân có thể kiểm tra dung tích khí thở của mình bằng ống thở với những thông số sau đây tuỳ theo tuổi, giới tính và chiều cao[490]. Nhờ việc tăng cường khí thở như thế, nhiều bệnh nhân đẩy lùi nhiểu bệnh tật và các chứng khó vận động tay chân mà không phải dùng thuốc.

ĐO DUNG LƯỢNG KHÍ THỞ

(Xem ở trang 201-203)

3.3. Điểm thứ ba chúng ta nên quan tâm đến việc vận chuyển máu trong cơ thể, nhất là cho hệ thống thần kinh trung ương gồm não và tuỷ sống. Bộ não ở trên đầu con người với khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh cần một lượng máu lớn để hoạt động. Nếu không có đủ máu cho các vùng vỏ não xám tạo ý thức cho con người cũng như các vùng liên quan đến bộ nhớ trong phần não trắng ở bên dưới vỏ não, chúng ta sẽ khó phát triển những tài năng tinh thần như trí hiểu, trí nhớ, trí tưởng tượng, cảm xúc, khả năng hoạt động, óc tổng hơp, óc phán đoán…Hơn nữa rất nhiều những bệnh tật thuộc dạng tâm thần, trầm cảm, hoang tưởng, hội chứng tự kỷ… hầu như đều bắt nguồn từ những rối loạn hay kém hoạt động của hệ thần kinh trung ương này. Các đường dây thần kinh dẫn lệnh bị sơ cứng, lệnh truyền của não bị chậm hay bị tắc nghẽn là do không có máu đưa oxy và các chất bổ dưỡng trong máu đến nuôi sống tế bào thần kinh. Do đó người ta hay nói đến 2 nguyên nhân chính của tật bệnh là thiếu máu não và thiếu oxy trong máu ở não, không kể đến nguyên nhân nhiễm trùng và các chấn thương.

Vì thế việc cần làm là đưa máu từ tim lên não qua các mạch máu ngoại biên ở sọ và mặt bằng cách xoa nhẹ 3 mạch máu ở đầu và cổ theo hình ảnh dưới đây[491] hoặc ấn sâu và xoa các đường dây thần kinh tự động ở các đốt sống cổ từ C1 đến C4 để kích thích các mạch máu nội sọ. Việc xoa nhẹ các đường thần kinh từ tuỷ sống chui ra dọc theo sống lưng, sẽ làm cho máu lưu thông trong các đường dây thần kinh và có thể giúp bệnh nhân chữa trị nhiều chứng bệnh trong các cơ quan nội tạng.

Đối với một số bệnh nhân bị tê bại cánh tay, không giơ cao tay lên được, bị tê bàn tay khi chạy xe máy, các ngón tay co cứng… chúng tôi xoa bóp các dây thần kinh tuỷ sống cổ, dây thần kinh cơ bì, các dây thần kinh dọc theo cánh tay, bàn tay, ngón tay và phục hồi được hoạt động của đôi tay. Nhiều bệnh nhân bị tê liệt đôi chân, đi đứng khó khăn, không duỗi được chân, đau đầu gối, tê bàn chân… chúng tôi xoa bóp các dây thần kinh tuỷ sống thắt lưng từ L1 xuống tận xương cùng, các dây thần kinh toạ, các dây thần kinh dọc theo chân cho đến ngón chân và giúp họ đi lại được.

Thêm vào đó các hạch bạch huyết chứa các bạch cầu tạo nên hệ thống miễn dịch cho cơ thể, bao vây các vi trùng và virus xâm nhập cơ thể, đã nở lớn khiến các mạch máu bị chèn ép và không đưa đầy đủ máu đến các dây thần kinh. Đặc biệt là các hạch bạch huyết ở cổ và mặt dọc theo hai bên tai đi xuống, các hạch ở dọc theo hai bên nách, nhóm hạch trên ròng rọc, nhóm hạch bẹn, nhóm hạch kheo ở đầu gối[492]. Nhờ xoa nhẹ những nhóm hạch này, chúng ta làm cho máu lưu thông dễ dàng hơn để nuôi sống các dây thần kinh

Chúng tôi đã giúp cho các bệnh nhân khuyết tật đủ loại phục hồi được hoạt động thể xác cũng như tinh thần. Chúng tôi nghĩ rằng rất nhiều người trong các bạn có thể học những bài thể dục vận động, hít thở, tìm hiểu cách thức xoa bóp chữa trị này để có thể giúp cho mình cũng như giúp cho người khác vượt qua khuyết tật, làm cho mình khoẻ hơn, vui hơn, đẹp hơn và thông minh hơn.

3.4. Điểm thứ tư. Phương pháp phản hồi thần kinh. Từ năm 2016, chúng tôi đã phối hợp với Đại học Hoa Sen TP. HCM nghiên cứu phương pháp phản hồi thần kinh qua hệ thống máy BrainMaster để chữa trị những trẻ tự kỷ và những người rối loạn tâm thần. Rất nhiều trẻ tự kỷ mắc chứng rối loạn ngôn ngữ, tăng động, thiếu tập trung do những hoạt động ở các vùng vỏ não thính giác, ngôn ngữ, cảm xúc, vận động thân thể, thị giác và vùng điều hành trung tâm không nối kết được với nhau.

Nhờ hệ thống máy BrainMaster với những chương trình chữa trị kích thích các phần vỏ não hoạt động, chúng tôi đã giúp cho các trẻ tự kỷ có thể vượt qua những khiếm khuyết này để nói được dễ dàng, giảm tăng động, tập trung chú ý và học hành tiến bộ hơn. Chúng tôi đã trình bày bài nghiên cứu trên trang web: hanhkhatkito.org, ở mục Hoạt động Hành khất Kitô http://hanhkhatkito.org/Default.aspx?tabid=57&ctl=ViewNewsDetail&mid=437&NewsPK=56310&Keyword=

Đối với một số dạng khuyết tật người lớn như giảm trí nhớ, giảm chú ý, trầm cảm… những chương trình điều trị phục hồi những phần vỏ não cũng như vùng não dành cho bộ nhớ và hành động của phương pháp phản hổi thần kinh, kết hợp với việc đưa nhiều khí vào bộ não qua việc tập thở sâu và xoa các đường vận chuyển máu lên đầu, kích thích các mạch máu nội sọ cũng mang lại những hiệu quả tốt đẹp.

Chúng tôi cũng đang nghiên cứu một số trường hợp của các trẻ bị cho là bại não. Sau khi chữa trị bằng hệ thống máy BrainMaster cộng với phương pháp xoa bóp để thúc đẩy sự vận chuyển của máu trong bộ não, chúng tôi cũng thấy có một số kết quả khả quan.

Đặc biệt có một vài trường hợp các bệnh nhân bị cho là khuyết tật nặng nề về thị giác, chúng tôi cũng đã dùng phương pháp phản hồi thần kinh kết hợp với phương pháp xoa bóp chữa bệnh để kích thích các phần vỏ não xám và phần não trắng nằm sâu bên dưới nối kết lại với nhau nhằm phục hồi hoạt động của các dây thần kinh thị giác cho các bệnh nhân khiếm thị và đạt được những kết quá đáng khích lệ.

4. Một số ca chữa trị cụ thể (anh Phạm Văn Giáo trình bày)

Sau đây, chúng tôi giới thiệu một vài trường hợp tiêu biểu để giúp các bạn biết thêm về phương pháp phản hồi thần kinh và phương pháp chữa trị mà chúng tôi đã giúp đỡ những người khuyết tật trong thời gian vừa qua.

4.1. Bà Hồ Thị Diện: Chẩn đoán Alzheimer, dấu hiệu hay quên, hay bối rối, lo âu, gây hấn với người làm, con cái và có rối loạn giấc ngủ. Ngoài ra, bà còn có dấu hiệu ảo giác, hoang tưởng, đêm đêm nhìn gương nói chuyện. Hình ảnh chụp não bộ bằng hệ thống máy BrainMaster vào ngày 31/03/2019 khi bắt đầu kiểm tra cho thấy.

Kết quả chạy BrainMaster cho thấy bà có dấu hiệu tổn thương não bộ, ảnh hưởng lên khả năng nghe, nhớ, lưu trữ thông tin ngắn hạn, có ảo giác, có rối loạn giấc ngủ, khó khăn kiềm chế cảm xúc, khó khăn tiếp nhận và xử lý thông tin liên quan đến hình ảnh, âm thanh, nhận thức.

Sau 3 lần chạy máy, bà nghe tốt hơn, ngủ khá hơn nhưng còn khó khăn kiềm chế cảm xúc, khó khăn tiếp nhận và xử lý thông tin liên quan hình ảnh, âm thanh, nhận thức.

Sau 7 lần chạy máy BrainMaster kết hợp uống thuốc chống loạn thần, bà khá ổn, ngủ ngon giấc, không còn ảo giác, không còn chửi mắng người nhà và người làm. Hơn nữa, bà kiềm chế cảm xúc khá tốt, bắt đầu nhớ được những việc diễn ra trong ngày, trí nhớ ngắn hạn có sự phục hồi.

4.2 Trường hợp Trần Đức Thắng: Chẩn đoán: Rối loạn nhân cách, rối loạn hành vi ứng xử, tổn thương não, rối loạn chức năng não, liệt nửa người trái (phụ lục đính kèm) và được điều trị ở Bệnh viện Tâm Thần Quảng Ngãi. Theo chẩn đoán này ở Bệnh viện Tâm Thần Quảng Ngãi, bác sĩ trả về và nhắc người nhà chăm sóc cho em Thắng trong tình trạng nằm liệt như vậy suốt đời.

Ngày 14/6/2018, theo giới thiệu của gia đình bà dì ruột tại Sài Gòn, mẹ của em Thắng mang em vào Sài Gòn chạy chữa và được chúng tôi hỗ trợ từ 15/06/2018 với day xoa bóp, bấm huyệt cho em. Lúc này em còn chưa đi lại được. Sau 3 tuần hỗ trợ, em đã đi lại được nhẹ nhàng, tuy nhiên còn la hét, ngủ còn chập chờn, còn chửi bới, không làm chủ được bản thân, tay trái chưa nhấc lên được cao, mặt không có cảm xúc.

Ngày 09/07/2019 bắt đầu hỗ trợ thêm cho em bằng cách kết hợp bấm huyệt với chạy máy BrainMaster, kết quả ngày đầu tiên cho thấy em có rối loạn giấc ngủ, có hoang tưởng, nhịp tim cao, có biểu hiện hoang tưởng, nghe thấy âm thanh lạ, nhìn thấy hình ảnh lạ, khó kềm chế cảm xúc hay nóng giận, tay chân khó cử động, đi lại khó khăn tay không giơ lên cao được (hình dưới). Sau khi chạy máy, được chúng tôi đề nghị: Cần rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, tập thể dục thường xuyên, tăng cường vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, tăng cường các bài tập để tăng sự tập trung.

Ở buổi thứ 2, ngày 17/07 (1 tuần sau khi chạy máy, dù mới chạy được 1 lần, vẫn duy trì tập vật lý trị liệu, bấm huyệt, thở thần khí), em đã ngủ ngon hơn, khả năng nhận thức tốt hơn, nhịp tim và huyết áp ổn hơn, khả năng kiềm chế cảm xúc có cải thiện, tay giơ cao hơn được một chút (hình dưới).

Ở buổi thứ 3, ngày 26/07, sau khi chạy máy và bấm huyệt, và tập thở tại nhà, quan sát lâm sàng cho thấy em đã làm chủ cảm xúc tốt hơn, bớt chửi bới, ngủ ngon, nhịp tim và huyết áp khá ổn, tay chân còn yếu nhưng phối hợp nhịp nhàng (xem phụ lục).

Kết quả chạy máy cho thấy em ngủ ngon, nhịp tim và huyết áp khá ổn, tuy nhiên ngôn ngữ diễn đạt còn gặp khó khăn, còn khó khăn tiếp nhận và xử lý thông tin, còn hoang tưởng. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, tập thể dục thường xuyên, tăng cường vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, tăng cường các bài tập để tăng sự tập trung.

Ở buổi thứ 6, ngày 17/08 sau khi chạy máy và bấm huyệt, và tập thở tại nhà, quan sát lâm sàng cho thấy em đã thực sự làm chủ cảm xúc, không còn chửi bới, ngủ ngon, nhịp tim và huyết áp khá ổn, tay chân phối hợp nhịp nhàng và có thể chạy thể dục được, dù lực chân còn chưa hoàn toàn bình thường (xem phụ lục).

Kết quả chạy máy cho thấy em ngủ ngon, nhịp tim và huyết áp khá ổn, ngôn ngữ diễn có cải thiện nhiều, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin có cải thiện, hoang tưởng không còn. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, tập thể dục thường xuyên, duy trì vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, để cơ thể hoàn toàn bình phục.

Sau 2 tuần ngừng chạy máy nhưng em vẫn day bấm huyệt đều đặn. Ngày 01/09 nhận thấy cơ thể em đã hoàn toàn bình phục nên gia đình đã cho em trở lại quê nhà. Theo thông tin từ phía gia đình, em đã đi làm công nhân trở lại tại nhà máy may ở Quảng Ngãi từ ngày 25/09/2018.

4.3 Trường hợp ông Nguyễn Văn Chung (Nam Định). Chẩn đoán tại Bệnh viện Quân Y 108, thoái hoá thể vàng, di chứng liệt nửa người do tai biến mạch máu não. Ông bị bệnh trong suốt 27 năm, từ 1992 đến nay.

Tình trạng tiếp nhận: bệnh nhân đi lại khó khăn, chân tay hơi run, mắt nhìn rất mờ, chỉ nhìn được vật với hai màu đen trắng mờ mờ.

Kết quả chạy máy BrainMaster cho thấy bệnh nhân có rối loạn nhịp tim, huyết áp cao, khó khăn giấc ngủ, ngủ hay giật mình tỉnh giấc, thiếu oxy não, khó khăn kiểm soát vận động tay chân, khó khăn kiềm chế cảm xúc, khó khăn về ngôn ngữ diễn tả, khó khăn tiếp nhận, xử lý thông tin liên quan cảm xúc, vận động, ngôn ngữ, mối quan hệ không gian, hình ảnh.

Sau 12 lần chạy máy, kết hợp day xoa bóp, bấm huyệt, tập thể dục, tình trạng bệnh của bệnh nhân có thuyên giảm, khả năng nhìn rõ hơn nhưng vẫn giới hạn ở nhìn vật với hai màu đen trắng. Khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin liên quan cảm xúc, hình ảnh, giao tiếp xã hội, mối quan hệ không gian hình ảnh tốt hơn. Dù bệnh nhân có ngủ ngon hơn, đi lại dễ dàng hơn xong vẫn còn thỉnh thoảng tỉnh giấc. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, uống thêm thuốc bổ não, dầu cá, tập thể dục thường xuyên, tăng cường vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, tăng cường các bài tập để tăng khả năng xử lý hình ảnh thị giác vào buổi sáng sớm.

Sau 22 lần chạy máy, kết hợp day xoa bóp, bấm huyệt, tập thể dục, tình trạng bệnh của bệnh nhân khá ổn. Bệnh nhân đi lại được bình thường, huyết áp và nhịp tim khá, khả năng kiềm chế cảm xúc khá, ngủ không còn giật mình, bắt đầu nhìn đồ vật được với màu sắc đa dạng, nhưng còn hơi nhoè. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, uống thêm thuốc bổ não, dầu cá, tập thể dục thường xuyên, tăng cường vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, tăng cường các bài tập để tăng khả năng xử lý hình ảnh thị giác vào buổi sáng sớm.

Sau 26 lần chạy máy, kết hợp day xoa bóp, bấm huyệt, tập thể dục, tình trạng bệnh của bệnh nhân cải thiện nhiều. Bệnh nhân đi lại được bình thường, huyết áp và nhịp tim gần như ổn định, khả năng kiềm chế cảm xúc tốt, ngủ không còn giật mình, nhìn đồ vật được với màu sắc đa dạng, rõ nét hơn. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, uống thêm thuốc bổ não, dầu cá, tập thể dục thường xuyên, tăng cường vật lý trị liệu, day xoa bấm huyệt, tăng cường các bài tập để tăng khả năng xử lý hình ảnh thị giác vào buổi sáng sớm.

Sau 29 lần chạy máy, kết hợp day xoa bóp, bấm huyệt, tập thể dục, tình trạng bệnh của bệnh nhân gần như ổn định. Bệnh nhân đi lại được bình thường, huyết áp và nhịp tim ổn định bình thường (huyết áp 121/72, nhịp tim 75), khả năng kiềm chế cảm xúc tốt, ngủ sâu giấc, nhìn đồ vật được với màu sắc đa dạng, giống như khi chưa bị bệnh. Lời khuyên sau khi chạy máy: Cần tiếp tục rèn luyện khí thở (tập thở thần khí) để nuôi dưỡng não, uống thêm thuốc bổ não, dầu cá, tập thể dục thường xuyên để bệnh không bị tái phát.

Lời kết

Chúng tôi nghĩ rằng trên đây là một vài tin mừng có thể chia sẻ, không phải chỉ cho người khuyết tật, mà còn cho cả những người khoẻ mạnh. Nếu chúng ta chịu khó dành vài phút trong ngày để tập thở cho được nhiều khí hơn, xoa nhẹ các phần vỏ não trên đầu để kích thích các mạch máu và các dây thần kinh hoạt động, chúng tôi chắc chắn rằng thể xác chúng ta sẽ khoẻ mạnh, tươi đẹp hơn, tinh thần chúng ta sẽ vui vẻ, sáng suốt hơn. Nhờ đó chúng ta có thể giúp nhau vượt qua những khuyết tật và phục hồi được những khả năng cần thiết của mình.

Phụ lục

5.2. Trường hợp Trần Đức Thắng.

5.2.1. Chẩn đoán của Trần Đức Thắng theo Bệnh viện Tâm thần Quảng Ngãi

5.2.2. Các thuốc Thắng đã dùng theo đơn thuốc Bệnh viện Tâm thần Quảng Ngãi

5.2.3. Ảnh chụp Thắng tập thể dục trong nhà sau khi day xoa bóp, bấm huyệt và chạy máy BrainMaster, ngày 26/07/2018.

5.2.4. Ảnh chụp Thắng chạy tập thể dục ngoài đường sau khi day xoa bóp, bấm huyệt và chạy máy BrainMaster, ngày 26/07/2018.

[1] x. Liên Hiệp Quốc, Báo cáo Triển vọng dân số thế giới 2019: Những điểm nổi bật, internet, 19/6/2019.

[2] x. Vietlex Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt 2013, in lần thứ năm, NXB Đà Nẵng, mục từ Người, tr.899.

[3] x. Hội đồng Quốc gia Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, mục từ Con người, q.1, tr.706.

[4] x. Nguyễn Đình Diễn, Từ điển Công Giáo Anh-Việt, NXB Đồng Nai, mục từ Man, tr.1226.

[5] x. TLHTXHCG, số 102; GS, số 12; Evangelnim vitae, số 34; GLHTCG, số 27-49; Mục từ Homo est Der Capevx, tr.971.

[6] x. HĐGMVN, Từ điển Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2016, mục từ Con người, tr.161.

[7] x. Từ điển Tiếng Việt, mục từ Khoa học, tr.648.

[8] x. Wikipedia, Bài Học thuyết Darwin, Internet, 6/3/2019.

[9] x. Wikipedia, Các bài về Big Bang – Vụ nổ lớn, Internet, 2/5/2019.

[10] x. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, 2015, tr.12-13.

[11] x. Alice Roberts, Atlas, tr.14-15.

[12] x. Alice Roberts, Atlas, tr.20-22.

[13] x. Alice Roberts, Atlas, tr.300.

[14] x. Alice Roberts, Atlas, tr.305.

[15] x. Alice Roberts, Atlas, tr.306.

[16] x. Wikipedia, Lịch sử thế giới, internet.

[17] x. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Từ điển Phật học, NXB Phân viện Nghiên cứu Phật học, 1992, q.1, mục từ Luân hồi, Lục đạo, Lục thú, tr.766, 774, 789.

[18] x. Thuyết Tiến hoá của Darwin – Đã đến lúc phải chấm dứt sự lừa dối vĩ đại, Youtube, 1/1/2018; 9 lý do chứng minh Thuyết Tiến hoá của Darwin sai, Youtube, 14/10/2018; …

[19] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, tr.355-358.

[20] x. HTXHCG, số 89.

[21] x. HTXHCG, số 87-95.

[22] x. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt 2013, mục từ Học thuyết, tr.587.

[23] x. HTXHCG, số 96.

[24] x. HTXHCG, số 7.

[25] x. Tóm lược HTXHCG, số 13.

[26] x. Lời giới thiệu cuốn Docat của ĐGH Phanxicô, ngày 6/11/2015.

[27] x. TLHTXHCG, số 103, 391, 582.

[28] x. Từ điển Tiếng Việt 2013, mục từ chủ nghĩa nhân bản, nhân văn, nhân đạo, tr.24-27; Từ điển Bách khoa Việt Nam, q.I, 2005, NXB Từ điển Bách khoa Việt Nam, mục từ chủ nghĩa nhân bản, nhân văn, nhân đạo, tr.638.

[29] x. HTXHCG, số 6-7.

[30] x. Nguyễn Đình Diễn, Từ điển Công Giáo Anh Việt, NXB Đồng Nai, 2014, mục từ humanism, tr.982-983.

[31] x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles Laia, số 5.

[32] x. GS, số 55.

[33] x. GS, số 56.

[34] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.201.

[35] x. GS, số 3.

[36] x. GS, số 19-21.

[37] x. GS, số 12-18; HTXHCG, chương 3; Docat, chương 3.

[38] x. TLHTXHCG, số 431.

[39] x. TLHTXHCG, số 583.

[40] x. GS, số 3; TLHTXHCG, số 13; Docat, câu 47.

[41] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.315-317.

[42] x. TLHTXHCG, số 127; GS, số 14.

[43] x. TLHTXHCG, số 128.

[44] x. Bs Alice Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.10-26.

[45] x. Alice Roberts, Atlas, 2015, tr.294-320.

[46] x. TLHTXHCG, số 144.

[47] x. Docat, câu 54.

[48] x. TLHTXHCG, số 125-126.

[49] x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt 2013, mục từ Tự nhiên, tr.138 và Siêu nhiên, tr.1105.

[50] x. TLHTXHCG, số 20.

[51] x. Alice Roberts, Atlas, 2015, tr.18.

[52] x. Alice Roberts, Atlas, 2015, tr.16.

[53] x. TLHTXHCG, số 130; Docat, câu 53.

[54] x. TLHTXHCG, số 108-109, 131; Docat, câu 47.

[55] x. GS, số 14, HTXHCG, số 128.

[56] x. Chương 10 của TLHTXHCG và Docat.

[57] x. HTXHCG, số 108; GS, số 12; GLHTCG, số 357

[58] x. HTXHCG, số 105.

[59] x. HTXHCG, số 140-142; GS, số 12; Docat, câu 57, 62, 85, 128.

[60] x. HTXHCG, số 22, 37, 53, 89, 93; GS, số 20.

[61] x. HTXHCG, số 14.

[62] x. HTXHCG, số 115-123.

[63] x. GS, số 22.

[64] x. HTXHCG, số 176.

[65] x. HTXHCG, số 177.

[66] x. HTXHCG, số 174.

[67] x. CĐ Vat. II, GS, số 26; ĐHG Gioan XXIII, Thông điệp Pacem interris, số 55; HTXHCG, số 197-208.

[68] x. HTXHCG, số 115-123.

[69] x. ĐGH Gioan Phaolô II, TĐ. Sollicitudo Rei Socialis, số 36, năm 1988.

[70] x. HTXHCG, số 144, 214, 215-17, 2465.

[71] x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt 2013, mục từ sự thật, tr.1129

[72] x. Từ điển Tiếng Việt 2013, mục từ chân lý, tr. 195.

[73] x. HĐGMVN, Từ điển Công Giáo, 2016, mục từ chân lý, tr.123.

[74] x. Nguyễn Đình Diễn, Từ điển Công Giáo Anh Việt, 2014, mục từ truth, tr.2088.

[75] x. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, q1, 005, mục từ chân lý, tr.516.

[76] x. CĐ Vat.II, Gaudium et Spes, 1965, số 10.

[77] x. Hội đồng Quốc gia Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, mục từ chân lý tuyệt đối, q.I., tr.516

[78] x. HTXHCG, số 1.

[79] x. HTXHCG, số 45.

[80] x. HTXHCG, số 130.

[81] x. HTXHCG, số 198; GLHTCG, số 2467.

[82] x. HTXHCG, số 19; Docat, chương 1.

[83] x. Xuân Diệu (1916-1985), tên thật là Ngô Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Ông nổi tiếng với các bài thơ về tình yêu, nhưng lại mang tiếng về tình yêu “đồng tính”, qua những bài thơ Biển, Tình Trai mà nhà văn Tô Hoài đã viết trong cuối hồi ký Cát bụi chân ai. (Internet, ngày 15/3/2016, Hội thảo Khoa học “Xuân Diệu với văn hoá dân tộc”).

[84] x. Đoàn Trung Côn, bộ Phật học Từ điển, 3 cuốn, NXB TP.HCM, 1992; Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bộ Từ điển Phật học Hán Việt, 2 cuốn, NXB Phân viện nghiên cứu Phật học, Hà Nội, 1992; Thích Minh Châu – Minh Trí, Từ điển Phật học Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.

[85] x. Đây là câu 2658 trong Truyện Kiều. Sư Giác Duyên nói với Thuý Kiều: “Sự rằng phúc hoạ đạo trời, Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta, Tu là cõi phúc tình là dây oan”.

[86] x. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, mục từ “Tham Sân Si”, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2005, tr.137.

[87] x. Lấy ý từ bài thơ Ngập Ngừng của thi sĩ Hồ Dzếnh trong tập thơ “Quê Ngoại”, sáng tác năm 1943. Nguyên văn: “Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”.

[88] x. Hàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật là Phêrô Nguyễn Trọng Trí, sáng tác được 213 bài thơ. Các câu thơ này ở trong tập Thu Thương (Thơ Điên, sáng tác năm 1937). Ông bị bệnh phong cùi, chết ở Quy Nhơn.

[89] x. Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ lớn (1939-2001) của âm nhạc đại chúng với 236 ca khúc được phổ biến rộng rãi.

[90] x. Vietlex, Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt 2013, NXB Đà Nẵng, mục từ “Tình yêu”, tr.1284.

[91] x. Sđd, tr.1492

[92] x. Sđd., Vietlex, Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, 2013, NXB Đà Nẵng, mục từ “Tình yêu”, tr.1283.

[93] x. Sđd., Vietlex, Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, 2013, NXB Đà Nẵng, mục từ “Tình yêu”,

tr.1256, mục từ “Thương” và tr.1237, mục từ “Thương xót”.

[94] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2015, tr.136-137.

[95] x. HĐGMVN, Từ điển Công Giáo, Mục từ Con tim, NXB Tôn Giáo, 2016, tr. 7

[96] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.295.

[97] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.302.

[98] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.310.

[99] x. P. Ekman, Emotions Revealed, 2003; mạng internet 21/3/2017, Ngan Nguyen, Tìm hiểu về 7 cảm xúc cơ bản.

[100] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.306.

[101] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.305-310.

[102] x. A.Roberts, Atlas, NXB Y Học, 2015, tr.300.

[103] x. HTXHCG, số 9, 46, 65.

[104] x. HTXHCG, số 29, 491.

[105] x.HTXHCG, số 34.

[106] x. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, 11: AAS74 (1982), 92; GLHTCG, số 2392.

[107] x. HTXHCG, số 31,34,54.

[108] x. ĐGH Bênêđictô XVI, TĐ Thiên Chúa là tình yêu- Deus est Caritas, số 8

[109] x. HTXHCG, số 30, 34, 121, 431.

[110] x. Câu nói đăng ở bìa sau của Docat ở các ngôn ngữ khác, trừ tiếng Việt

[111] x. HTXHCG, số 3.

[112] x. HTXHCG, số 4.

[113] x. HTXHCG, số 6.

[114] x. HTXHCG, số 204.

[115] x. HTXHCG, số 205.

[116] x. HTXHCG, số 207-208.

[117] x. Hội đồng Quốc gia, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, 2005, mục từ “Văn minh”.

[118] x. Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, bài “Xây dựng nền văn minh tình yêu”, NXB Tôn Giáo, 2015, tr.292.

[119] x. Thông điệp Ngày Hoà bình Thế giới năm 1977

[120] x. Thông điệp Centessimus Annus (Bách Chu niên), năm 1991, số 10; Ngày Giới trẻ Thế giới 1995 tại Manila, Philippines.

[121] x. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công Giáo, số 103, 391, 582; Docat, số 14 tr.23, số 51 tr.63, số 102 tr.102-111, số 275 tr.255, số 276 tr.256, số 278 tr.257, số 319 tr.290.

[122] x. Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, bài “Xây dựng nền văn minh tình yêu”, NXB Tôn Giáo, 2015, tr. 292; Tóm lược HTXHCG, số 1-19, 20-59, 105-159.

[123] Docat, số 14 tr. 23.

[124] Docat, số 319 tr. 290.

[125] x. Thông điệp Redemptor Hominis (1979), số 10; Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, tr.28.

[126] x. Thánh Gioan Chrysostom; Tóm lược HTXHCG, số 582.

[127] x. Viện Ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt 2013, NXB Vietlex, mục từ Tự do, tr.1379; Hội đồng Quốc gia Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ Điển, mục từ Tự do, q4., tr.71.

[128] x. HTXHCG, số 321, 326

[129] x. Tuyên bố từ chối giải Nobel của J.P. Sartre, Internet, 14/12/2017

[130] x. NXB An Tiêm, in năm 1967, tại Sài Gòn; NXB Văn hoá Sài Gòn, tái bản năm 2008, tại TP.HCM

[131] x. CĐ.Vat II, GS, số 17

[132] x. Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, tháng 12/1946

[133] x. HTXHCG, số 109; GLHTCG, số 356-358

[134] x. HTXHCG, số 138

[135] x. HTXHCG, số 113

[136] x. HTXHCG, số 114; ĐGH Gioan Phaolô II, TĐ. Evangelium vitae, 1995, số 37

[137] x. HTXHCG, số 110-112

[138] x. GS, số 17

[139] x. GLHTCG, số 1731

[140] x. HTXHCG, số 135; GS, số 17

[141] x. HTXHCG, số 136

[142] x. HTXHCG, số 138-144

[143] x. GLTHCG, số 1955-57

[144] x. HTXHCG, số 155, 553, 286, 445

[145] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.353-370

[146] x. HTXHCG, số 21

[147] x. HTXHCG, số 29

[148] x. HTXHCG, số 38-40

[149] x. HTXHCG, số 59; Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Libertatis Conscientia, 1987, số 97

[150] x. HTXHCG, số 130

[151] x. HTXHCG, số 130; Docat, câu 57; Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, tr.383-400.

[152] x. Bs. Alice Roberts, Atlas, tr.14-15.

[153] x. Từ điển chỉ có 3 từ “sống ghép”, “sống bám cố định”, “sống lâu năm” (x. Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB TĐBKVN, Hà Nội, 2003, tr.798).

[154] x. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2013, tr.1117.

[155] x. Lm. Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, bài “Con đường sự sống”, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.264-272.

[156] x. Trịnh Công Sơn (1939-2001) sáng tác bài này năm 1965 và ca sĩ Khánh Ly trình bày đầu tiên trong Sơn Ca 7.

[157] x. HTXHCG, số 16.

[158] x. Mc 3,31-35; Mt 12,46-50; Lc 8,19-21; Mc 6,3; Mt 13,53-58; Lc 4,16-30; Ga 7,2.5; Cv 1,14; 1Cr 9,5; Gl 1,19

[159] x. TLHTXHCG, số 1; ĐGH Gioan Phaolô II, TĐ. Redemptor Missio, số 11.

[160] x. HTXHCG, số 14.

[161] x. HTXHCG, số 15.

[162] x. HTXHCG, số 17.

[163] x. HTXHCG, số 41; CĐ Vat. II, GS, số 22.

[164] x. HTXHCG, số 42; GLHTCG, số 1888.

[165] x. HTXHCG, số 43; GLHTCG, số 1889.

[166] x. HTXHCG, số 47, 130; Docat, câu 47, 52, 53, 56,57.

[167] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, tr.232-233.

[168] x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2013, mục từ Hành động, tr.548.

[169] x. Nguyễn Đình Diễn, Từ điển Công Giáo Anh-Việt, 2014, tr.40,42.

[170] x. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Từ điển Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2019, tr.375.

[171] x. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2010, số 1749-1754.

[172] x. Youcat, số 288.

[173] x. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa – Hà Nội, 2002, tr. 215-218.

[174] x. Báo Thanh Niên, ngày 2/10/2019, tr.1-2.

[175] x. Tóm lược HTXHCG, số 34, 108-109.

[176] x. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2010, số 404.

[177] x. Tóm lược HTXHCG, số 115.

[178] x. Tóm lược HTXHCG, số 116.

[179] x. Tóm lược HTXHCG, số 117.

[180] x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2013, mục từ Hành động, tr.548.

[181] x. Tóm lược HTXHCG, số 171-184.

[182] x. Chủ nghĩa Cộng sản, Internet, Wikipedia.

[183] x. TLHTXHCG, số 160-162.

[184] x. Nguyễn Trường, Tri thức trẻ, kenh.vn, ngày 25/5/2016.

[185] x. Internet, ngày 30/9/2017.

[186] x. Internet, ngày 3/10/2017.

[187] x. Internet, ngày 15/12/2017.

[188] x. Internet, ngày 25/4/2019.

[189] x. TLHTXHCG, số 105-159; Docat, số 47-83.

[190] x. TLHTXHCG, số 160.

[191] x. TLHTXHCG, số 105.

[192] x. 1Cr 8,11; Rm 14,15; GLHTCG, số 1931.

[193] x. TLHTXHCG, số 108-109.

[194] x. TLHTXHCG, số 114.

[195] x. TLHTXHCG, số 110.

[196] x. Công đồng Vaticanô II, Gaudium et Spes, số 27; x. GLHTCG, số 2259-2261.

[197] x. TLHTXHCG, số 114.

[198] x. TLHTXHCG, số 164-184; Docat, số 87-94.

[199] x. Công đồng Vaticanô II, Gaudium et Spes, số 26.

[200] x. GLHTCG, số 1912; ĐGH Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris, số 55.

[201] x. GLHTCG, số 1907.

[202] x. ĐGH Giaon Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, số 41.

[203] x. TLHTXHCG, số 171-184.

[204] x. TLHTXHCG, số 171; CĐ Vat.II, Gaudium et Spes, số 69.

[205] x. TLHTXHCG, số 184; Docat, số 89.

[206] x. TLHTXHCG, số 185-188; Docat, số 95-99.

[207] x. ĐGH Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum 1892, số 101-102, 123.

[208] x. TLHTXHCG, số 192-196; Docat, số 100-103.

[209] x. GLHTCG, số 1939-1941.

[210] x. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, số 36,37.

[211] x. Mt 10,40-42; 20,25; Mc 10,42-45; Lc 22,25-27; ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, số 38; Thông điệp Laborem Exercens, số 8; Thông điệp Centesimus Annus, số 57.

[212] X. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Mục từ Việt Nam, NXB TĐBKVN, 2005, tr.890-892.

[213] X. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, 2015, tr.014.

[214] X. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, đôi khi gọi tắt là Toàn Thư, là bộ quốc sử viết bằng văn ngôn của Việt Nam, viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời đại truyền thuyết Kinh Dương Vương năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê.

[215] X. Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, Quyển Thượng, NXB Tp.HCM.

[216] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Niên giám 2016 Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, NXB Tôn Giáo, 2017, tr.470.

[217] X. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Tp.HCM, 1996; nhiều bài về văn hoá nông nghiệp trên mạng internet viết theo hướng đó.

[218] X. Văn Lang thời Hùng Vương đã từng có chữ viết riêng? Internet, 16/4/2016, về nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền.

[219] X. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký toàn thư.

[220] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Niên giám 2016 Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, NXB Tôn Giáo, tr. 178-185.

[221] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Niên giám 2016 GHCGVN, NXB Tôn Giáo, tr.215; Họp Đại biểu Quốc Hội, Vì sao đạo đức xuống cấp?, Báo Tuổi Trẻ, ngày 31/10/2018, tr.1-3.

[222] X. Đây là bài được trình bày trong Niên giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam 2016, của Hội đồng Giám mục Việt Nam, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2016, tr. 171-194.

[223] X. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Giáo Hội tại châu Á, 1999, số 5.

[224] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 1980, số 9.

[225] X. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục được soạn thảo dưới triều vua Tự Đức từ năm 1856, quyển 33, phần chính biên, tờ 5-6,

[226] Trong cuốn Niên giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam năm 2016 của Hội đồng Giám mục Việt Nam ở trang 175, tác giả viết dòng Đa Minh. Sau khi tìm hiểu và tra cứu, chúng tôi xin đính chính lại là Phanxicô, x. cuốn “Tỉnh Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam – Lược khảo lịch sử, Tập 1” của linh mục A.M Trần Phổ, OFM, xuất bản 1996 đã viết những thông tin này (tr.47), và ghi các thừa sai là dòng Phanxicô (với trích dẫn từ các tác giả: J. Vermeulen, Lorenzo Perez, Victor-Bernardin de Rouen, Antolin Abad Perez, Romanet du Caillaud). Xin cáo lỗi với anh em dòng Phanxicô.

[227] X. C. A. Poncet, La Princesse Marie, trong Bulletin des Amis du Vieux Hué, tháng 12/1941, tr.351-358; Lê Triều Thượng Cổ truyền giáo, tr. 111.

[228] X. Đỗ Quang Chính, Lịch sử Chữ Quốc ngữ, 1620-1659, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn, 1972.

[229] X. Công Giáo và Dân tộc, Công Giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm, 1945–1995, 1996, tr.86.

[230] X. Nguyễn Văn Kiệm, Một số vấn đề lịch sử đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam, UBKHXH, Viện KHXH và Ban Tôn giáo Chính phủ, 1988, tr. 29-42.

[231] X. Trần Đình Sơn, Vua Gia Long với quyết định chọn người kế vị, tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số 81B, tháng 11/2000, tr. 26-27.34.

[232] X. Nguyễn Văn Kiệm, Một số vấn đề lịch sử…, sđd, tr. 27.

[233] X. Trần Đình Sơn, Sđd, Tạp chí Xưa và Nay, số 81B, tháng 11/2000, tr. 26-27.

[234] X. Gs. Lê Văn Sáu, Một số vấn đề lịch sử… Sđd, tr. 101.

[235] X. Nguyễn Văn Quý, Địa phận Sài Gòn 1835-1944, tư liệu, 1993, tr. 5-39.

[236] X. Lm. Bùi Đức Sinh, OP., Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, q.II, tr.17-200..

[237] X. Lm. Geffroy thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP), đăng sự kiện này trên tuần báo Missions Cathothiques ở Paris vào các ngày 3, 10, và 17 tháng 9 năm 1886 (bản tiếng Việt), cũng như trong tài liệu của H. Ravier, Sử ký Hội thánh (Historiae Ecclesiasticae). Q. III.

[238] X. Một số vấn đề lịch sử…, sđd, tr. 19.

[239] X. Một số vấn đề lịch sử… sđd, tr. 17-21.

[240] X. Thống kê GHVN năm 1889.

[241] X. Một số vấn đề lịch sử… sđd, tr. 78.

[242] X. Một số vấn đề lịch sử… sđd, tr. 45.

[243] X. Niên Giám 2016, Chương 17, Các đại chủng viện ở Việt Nam.

[244] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám 2016, Chương 18, Đời sống thánh hiến tại Việt Nam.

[245] X.. Nguyễn Ngọc Sơn, Người mục tử cộng đồng hướng về tương lai, Toà TGM. TPHCM xuất bản 1997, tr. 73-88.

[246] X. Bài phỏng vấn cha Tôma Vũ Quang Trung, dòng Tên, thư ký Uỷ ban T u sĩ của HĐGMVN, ngày 15/5/2019.

[247] X. Sứ điệp Ngày Thế giới Hoà bình 1/1/2001 của ĐTC Gioan Phaolô II; Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, 2004, số 103,391,582.

[248] X. Sđd, Niên Giám GHCGVN 2016, Chương 13, Công cuộc Tân PAH ở Việt Nam.

[249] X.. Thư ngỏ của các giám mục thuộc TGP. TP.HCM gửi các tín hữu Công Giáo trên thế giới về vấn đề di tản.

[250] X. Our Sunday Visitor’s, Catholic Almanac 2015, tr. 316; Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang tân Phúc âm hoá, NXB tôn Giáo, 2014, tr. 280.

[251] X. Catholic Almanac 2002, tr. 338

[252] X. Tổng Điều tra Dân số toàn quốc 2009.

[253] X. Sđd, Niên Giám GHCGVN 2016, Chương 21, GHVN trong tình hiệp thông.

[254] X. Sđd, Niên Giám GHCGVN 2016, Chương 13, Công cuộc Tân PAH ở Việt Nam.

[255] X.. Kinh Tiền Tụng Lễ Chúa Giêsu, Vua Vũ Trụ.

[256] X. HĐGMVN, Thư Mục vụ, tháng 10/2000, số 2, 3, 5, 8.

[257] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Vui mừng và Hy vọng, số 38.

[258] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Niên giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam 2016, NXB Tôn Giáo, tr.175.

[259] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Từ điển Công Giáo, mục từ Thiên Chúa, 2016, tr.842.

[260] x. Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn học Toàn Thư I, NXB Quốc Hoa, 1959.

[261] x. Wikipedia, mục từ Hercules, mạng Internet.

[262] x. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2013, tr 1284.

[263] x. Docat, câu số 16.

[264] x. Ga 3,18; Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, số 38.

[265]1Cr 13, 4-6 ; x. Thông điệp Mater et Magistra, (1961), số 257; Docat (2017), tr. 28.

[266] X. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng-Vietlex, 2013, tr.386

[267] X. Hiên Phan, Thuyết Big Bang là gì?, Nguồn Space.com, Internet, 16/8/2005; Docat, câu số 2, tr.16.

[268] X. Bs. Alice Roberts, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.12-15

[269] X. Bs. Alice Roberts, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.18-24

[270] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 2, tr.16

[271] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 1965, số 10; Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, câu số 4, NXB Tôn Giáo, 2017, tr.18

[272] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 4, tr.17

[273] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2007, số 130; Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 53, tr. 64

[274] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 6, tr.19

[275] X. CĐ. Vat. II, Hiến chế Dei Verbum, số 2-6; x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2015, tr.245-251

[276] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 10-11, tr.21.

[277] X. Uỷ ban Giáo lý Đức tin, Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 5, tr.19.

[278] X. ĐTC Gioan Phaolo II, Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, số 6, 11; Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 13, tr.22; x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2015, tr.251-253.

[279] X. Docat, NXB Tôn Giáo, 2017, câu số 9, tr. 20-21.

[280] X. Đức Giáo Hoàng Phanxico, Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng,24/11/2013, số 49.

[281] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 19-21.

[282] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 10.

[283] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2007, số 62; Docat, câu số 306, tr.277.

[284] X. Công đồng Vaticano II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 22.

[285] X. Nguyễn Công Trứ (1778-1858) vừa là nhà chính trị, kinh tế, quân sự, nổi bật với việc khai hoang lập ấp, quai đê lấn biển, tạo thành một vùng đất rộng lớn ở hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình) làm quan tới chức thượng thư, tổng đốc nhưng cũng nhiều lần bị cách chức làm dân, làm lính.

[286] X. Gs Phạm Đình Lựu, Sinh lý học Y khoa, tập I, NXB Y học, 2011, tr.196.

[287] X. Alice Robert, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.330.

[288] X. Alice Robert, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.302-303.

[289] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 691.

[290] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 703.

[291] X. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2013, tr. 165.

[292] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 689-690, 727.

[293] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 730.

[294] (X. Alice Robert, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.324).

[295] Xem các mục về Khí công trong các sách hay trên internet.

[296] (X. Blair T. Spalding, Life and Teaching of the masters of the Far East-Hành trình về Phương Đông, Nguyên Phong dịch; SAnagorika Givinda, The way of the White Clouds-Đường Mây qua Xứ Tuyết, Nguyên Phong dịch, Barbara Ann Brennan, Hands of light-Bàn tay Ánh sáng, Lê Trọng Bổng dịch, NXB Văn hoá Thông tin, 1996).

[297] (X. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2013, tr.173-175; Bạn là Lời Cứu độ, tái bản lần IV, NXB Tôn Giáo, 2017, tr. 30-31).

[298] ĐO DUNG LƯỢNG KHÍ THỞ

1. Vệ sinh đầu ống thở bằng bông tẩm cồn 900.

2. Ngậm ống thở và hít vào từ từ bằng miệng với 1 hơi dài tối đa.

3. Vừa hít vào vừa quan sát bông trong ống đo đẩy lên tới vạch nào.

4. Ngắt hơi ở điểm nào thì đó là mức đo khí thở tại điểm đó (xem số dung lượng ghi trên ống đo).

5. So sánh với Bảng Dung lượng Dự đoán Khí thở để xem mình thở có đủ không.

6. Vệ sinh đầu ống thở bằng bông tẩm cồn 900 để người khác sử dụng.

BẢNG DUNG LƯỢNG DỰ ĐOÁN KHÍ THỞ

Bảng dành cho nữ

Chiều cao

Tuổi

1,47

1,52

1,57

1,62

1,67

1,72

1,77

1,82

1,87

20

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

3500

25

1850

2050

2250

2450

2650

2850

3050

3250

3450

30

1800

2000

2200

2400

2600

2800

3000

3200

3400

35

1750

1950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

3350

40

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

45

1650

1850

2050

2250

2450

2650

2850

3050

3250

50

1600

1800

2000

2200

2400

2600

2800

3000

3200

55

1550

1750

1950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

60

1500

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

65

1450

1650

1850

2050

2250

2450

2650

2850

3050

70

1400

1600

1800

2000

2200

2400

2600

2800

3000

75

1350

1550

1750

1950

2150

2350

2550

2750

2950

80

1300

1500

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

Bảng dành cho nam

Chiều cao

Tuổi

1,47

1,52

1,57

1,62

1,67

1,72

1,77

1,82

1,87

1,92

1,97

20

2000

2200

2400

2600

2800

3000

3200

3400

3600

3800

4000

25

1950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

3350

3550

3750

3950

30

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

3500

3700

3900

35

1800

2000

2200

2400

2600

2800

3000

3200

3400

3600

3800

40

1750

1950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

3350

3550

3750

45

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

3500

3700

50

1650

1850

2050

2250

2450

2650

2850

3050

3250

3450

3650

55

1550

1750

7950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

3350

3550

60

1500

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

3500

65

1400

1600

1800

2000

2200

2400

2600

2800

3000

3200

3400

70

1350

1550

1750

1950

2150

2350

2550

2750

2950

3150

3350

75

1300

1500

1700

1900

2100

2300

2500

2700

2900

3100

3300

80

1250

1450

1650

1850

2050

2250

2450

2650

2850

3050

3250

(Bảng Dung lượng Dự đoán Khí thở do G.Polgar và V. Promadhat công bố trên tạp chí của Hiệp hội Thân ngực Mỹ, th. 9/1979, bộ 122, số 3)

[299] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.78.

[300] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.350-361.

[301] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.014.

[302] X. Bài Thẻ Tre 2000 năm, gọi là “Tần giản”, khai quật vào năm 2002 ở cổ thành Lý Da, Hà Nam, có niên đại 222 TCN – 208 TCN tiết lộ mật lệnh tìm tiên dược của Tần Thuỷ Hoàng, Internet, ngày 12/3/2018, Sơn Tùng.

[303] X. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng, 1965, số 14.

[304] X. HĐGMVN, Niên giám 2016 GHCGVN, NXB Tôn Giáo, 2016, tr.172.

[305] X. Nguyễn Ngọc Sơn, Sứ điệp loài Hoa, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2008, in lần thứ 4, tr.19.

[306] X. A.Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y học, 2015, tr.443.

[307] X. Dân Trí Việt Nam, Bạn nên ăn bao nhiêu calo một ngày? Internet, 20/7/2016,. Cẩm Tú đăng.

[308] X. Dinhduong.online tổng hợp, bài Phân tích tháp dinh dưỡng cho người lớn khoẻ mạnh, Internet, ngày 17/8/2018.

[309] x. Wikipedia, bài Chiến tranh nước, Internet

[310] x. Earth’s Water distribution, United states Geological Survey, internet, 13/5/2019.

[311] x. Scientific Facts on Water: State of the Resource Green Facts website, internet, 31/1/2008.

[312] x. Wikipedia, Bài Tài nguyên Nước, Giáng Thuỷ, Internet.

[313] x. Wikipedia, Chiến tranh Nước, Internet.

[314] x. Báo Tuổi Trẻ, bài Sông Mêkông trơ đáy, ĐBSCL lo hạn mặn khốc liệt, ngày 25/7/2019, tr.7.

[315] x. Tóm lược HTXHCG, số 365, 485.

[316] x. Docat, tr.181, 207, 220.

[317] x. Tóm lược HTXHCG, số 485.

[318] x. Ez 47,1-12; Tv 104; Lv 26,4; Am 4,7; Đn 11,14.

[319] x. Ga 3,5; 4,10-14; 7,37-38; HĐGMVN, Từ điển Công Giáo Việt Nam, mục từ Nước, tr.655; Hội đồng Giáo hoàng về Văn hoá, Huấn thị Đức Giêsu Kitô, Đấng đem lại Nước Hằng Sống, 2002, tr.33; Tóm lược HTXHCG, số 463.

[320] x. Ez, 16,4-9; St 18,4; Tv 26,6; Lv 16,4.24; Mt 27,24; 3,11; Lc 11,38-41; 1Cr 6,11.

[321] x. Ga 7,39; Tt 3,5; GLHTCG, số 694-696.

[322] x. Anthony Nguyễn Ngọc Sơn, Sứ điệp loài hoa, Hoa Lưu ly, tr. 11.

[323] Robinson Crusoe là tiểu thuyết của nhà văn Anh Daniel Defoe, tên tiếng Anh đầy đủ: The life and strange surprising adventures of Robinson Crusoe of York, Mariner, xuất bản năm 1719.

[324] x. A. Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr. 15.

[325] Miền Bắc gọi là “quần bò” vì dân chăn bò ở bang Texas, Hoa Kỳ, thường mặc. Loại quần áo này may bằng vải dày do ông Levi Strauss (1829-1902 ), người Đức, di cư sang Hoa Kỳ năm 1847, phát minh để giúp dân đào vàng ở San Francisco, California,có loại quần áo đủ bền chắc trong công việc nặng nhọc của họ.

[326] X. Wikipedia, bài Trang phục Việt Nam, Internet.

[327] Thành phố Hồ Chí Minh còn giữ một địa danh là Chợ Đũi là khu vực ở góc đường Võ Văn Tần, q.3 và giáo xứ Công Giáo Chợ Đũi ở đường Tôn Thất Tùng , q.1, Tp.HCM. Đây là khu vực buôn bán đũi cách đây khoảng 100 năm.

[328] X. Wikipedia, bài Áo Dài, Internet.

[329] X. Wikipedia, bài Áo Dài, Internet.

[330] X. Nhà thơ Đinh Vũ Ngọc, quê ở Quảng Nam, tên thật là Đinh Văn Bảo (1935-2014), bài thơ Chiếc áo dài Việt Nam, trong tập Thơ Đường Thi Cảm Dịch, NXB đà Nẵng, 2000.

[331] X. Điển ngữ thần học Thánh Kinh, Bản dịch của Giáo hoàng Học viện Piô X, cuốn 4, 1976, mục từ Yphục, tr 469-475.

[332]x. Hội nghị Trung ương 8, Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá XI, ngày 4/11/2013.

[333] x. Ts Giáp Văn Dương, Học để làm gì? Tuổi Trẻ online, 12/11/2013.

[334] x. 10 bí quyết học tập hiệu quả, Dân Trí online, bài đăng ngày 24/4/2013 của Hoa Học Trò.

[335] x. Internet, ngày 19/8/2017, bài Chăm thôi chưa đủ, muốn học tốt phải tìm phương pháp học đúng, Kênh 14.vn, mục Học đường.

[336] x. Bs. Alice Robert, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.300-307.

[337] x. Bs. Alice Robert, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.304-306.

[338] x. Ngô Bảo Châu, bài Học như thế nào, Internet, ngày 8/4/2013.

[339] x. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, số 130, NXB Tôn Giáo, 2007, tr. 112.

[340] x. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 1831, 1845.

[341] x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr. 236-272

[342] x. Nguyễn Ngọc Sơn, Kỹ thuật chữ, Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật, NXB Giáo Dục, 1996.

[343] x. Nguyễn Ngọc Sơn, Sứ điệp Loài hoa, in 7 lần với số lượng 160.000 bản; Bạn là Lời Cứu độ, in 4 lần với 45.000 bản; Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, in 2 lần với 10.000 bản, Niên giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Năm 2005, 2016, Thống nhất đời sống trong Chúa Giêsu Kitô, …

[344] x. Bản dịch Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X; Sách lễ Rô Ma của Uỷ ban Phụng tự trực thuộc HĐGMVN; Tóm Lược Học Thuyết Xã hội của Uỷ ban Bác ái Xã hội trực thuộc HĐGMVN; Docat của Uỷ ban Giáo lý Đức tin trực thuộc HĐGMVN.

[345] X. Bài Chữa trị những trẻ chậm nói, trên trang Web: Hành Khất Kitô, địa chỉ: hanhkhatkito.org, mục Hoạt động Hành khất Kitô, đưa lên ngày 15/11/2019.

[346] X. Nguyễn Ngọc Sơn, Kỹ thuật Chữ, NXB Giáo Dục, 1996, tr.11.

[347] X. Nguyễn Ngọc Sơn, Kỹ thuật Chữ, NXB Giáo Dục, 1996, tr.11-12.

[348] X. Uỷ ban Giáo dân, Bài 6: Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tháng 10/2018, mục 2.2.

[349] X. Trung tâm Từ điển Vietlex, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội, 2013, tr.5.

[350] X. Mã Giang Lân, Tục ngữ Ca dao Việt Nam, NXB Giáo Dục, 1999.

[351] X. Phạm Duy, Tình ca Tiếng nước tôi.

[352] X. Tại sao con người biết nói và có ngôn ngữ riêng, Internet, ngày 15/7/2017.

[353] X. Bs Alice Robert, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, 2016, tr.407.

[354] X. Bs Alice Robert, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, 2016, tr.305-306.

[355] X. Bản Đề cương Thượng Hội đồng Giám mục 2012: Tân Phúc Âm hoá để thông truyền đức tin, số 11.

[356] Theo Bộ Thông tinTruyền thông, có 60 triệu người Việt Nam sử dụng internet 7 giờ/ngày trên tổng dân số 95 triệu người. Báo Thanh Niên ngày 10/12/2018, tr.7, chiếm hơn 60% Facebook 60tr.

[357] Nguyễn Ngọc Sơn, Kỹ thuật Chữ, giáo trình trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, NXB Giáo Dục, 1996.

[358] X. Hình ảnh bài Tiếng Việt lớp 1, Tập 1, tr 1-3.

[359] X. Tranh cãi về Công nghệ giáo dục Tiếng Việt lớp 1, Người trong cuộc nói gì, Báo Tuổi Trẻ, ngày 9/9/2018, tr.1,2,3; Báo Thanh Niên, ngày 9/9/2018, tr.5.

[360] X. Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, 2013, NXB Đà Nẵng-Vietlex, Hà Nội, 2013.

[361] X. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển BKVN, Hà Nội, 1995-2005.

[362] X. Vietlex, Từ điển Tiếng Việt, 2013, tr.V.

[363] X. Quy định Số: 09/1998/QĐ-VPCP, Thư viện Pháp Luật, Internet.

[364] X. Tài liệu Hội thảo, Lm. Nguyễn Ngọc Sơn; Bài tham luận Việc thống nhất cách đặt dấu giọng trên vài vần cho phù hợp với khoa ngôn ngữ học hiện đại, tr.519-527.

[365] X. Lm. Nguyễn Ngọc Sơn, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học ở Bình Định, ngày 12-13/1/2016, tr.520-523.

[366] X. Vũ Đình Liên, Bài thơ Ông Đồ, sáng tác năm 1936.

[367] X. Internet, 6/12/2018, Chữ viết thể hiện tâm người, có thể phân biệt rõ người chính kẻ tà, Bài của Tuệ Minh; Chỉ cần nhìn chữ viết, tôi có thể nói bạn là người thế nào, Bài của R.D.

[368] X. Internet, bài Ngộ nhận trong tâm lý học: chữ viết tiết lộ được những đặc điểm tính cách của con người. Tác giả của cuốn 50 ngộ nhận phổ biến của tâm lý học phổ thông. S.O. Lilienfeld, S.J. Lynn; J.Ruscio. Người dịch Nguyễn Hoàng.

[369] X. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, NXB Ra Khơi, Sài Gòn, 1972.

[370] X. Lm. Nguyễn Ngọc Sơn, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học ở Bình Định, tr.520.

[371] X. Lm. Nguyễn Ngọc Sơn, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học ở Bình Định, tr.523.

[372] X. Quyết định số 240/QĐ, ngày 5/3/1984 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về Quy định về Chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt.

[373] X. Từ điển Bách khoa Việt Nam, mục từ Âm tiết, Q. 1, tr.118.

[374] X. L.R. Zinder, Giản yếu lý thuyết đại cương về chữ Việt, Mokba, 1987; Bùi Khánh Thế, Nhập môn Ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, 1995, tr.53.

[375] x. Viện Ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt, 2013, mục từ Lao động, tr.702.

[376] x. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 2002, mục từ Lao động, tr.642-645.

[377] x. Jean de la Fontaine (1621-1695), nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng của Pháp. Truyện ngụ ngôn con ve và con kiến.

[378] x. Das Kapital – Kritik der politischen Oekonomie (Tư bản – chỉ trích về kinh tế chính trị) do K.Marx viết cuốn I, xuất bản ngày 14/9/1867. Bản thảo của ông được Friedrich Engels sử dụng để xuất bản cuốn thứ 2 (1885) và thứ 3 (1894).

[379] x. Cải cách thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải đáp, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 3/5/2014; Kinh tế Việt Nam: mất 15 năm chỉ để dò đá qua sông; báo điện tử VTC News, 29/8/2015.

[380] x. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Wikipedia.

[381] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 105-159; Docat, số 47-83.

[382] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 164-184; Docat, số 87-94.

[383] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 185-188; Docat, số 95-98.

[384] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 192-196; Docat, số 100-103.

[385] x. x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 256.

[386] x. ĐTC Gioan Phaolô II, Thông điệp Labor exercens (Lao động con người), số 6, 1981.

[387] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 263.

[388] x. Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo (TLHTXHCG), số 261.

[389] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.14-15.

[390] X. Từ điển chỉ có 3 từ “sống ghép”, “sống bám cố định”, “sống lâu năm” (x. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển, NXB TĐBKVN, Hà Nội, 2003, tr.798).

[391] X. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2013, tr.1117.

[392] X. Lm. Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, bài Con đường sự sống, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.264-272.

[393] X. Trịnh Công Sơn (1939-2001) sáng tác bài này năm 1965 và ca sĩ Khánh Ly trình bày đầu tiên trong Sơn Ca 7.

[394] X. Mc 3,31-35; Mt 12,46-50; Lc 8,19-21; Mc 6,3; Mt 13,53-58; Lc 4,16-30; Ga 7,2.5; Cv 1,14; 1Cr 9,5; Gl 1,19

[395] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.12

[396] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.13

[397] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.24

[398] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.24

[399] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.26-36

[400] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.302

[401] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.294

[402] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.299

[403] X. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr.306-307

[404] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà Bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội Công Giáo, NXB Tôn Giáo, 2007, số 130.

[405] X. Vietlex, Từ điển Tiếng Việt, 2013, NXB Đà Nẵng, Mục từ Đẹp, tr.408.

[406] X. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn, Từ Điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ Điển Bách khoa Việt Nam, 2005, tập I, tr.431.

[407] X. Olivier de La Brosse, A.M Henry, P. Rouillard, Từ điển Đức tin Kitô giáo, mục từ đẹp-beau).

[408] X. Thánh Augustinô,Confession 10,27:CCL 27,251; x. Thư gửi các nghệ sĩ, ngày 4/4/1999, số 16.

[409] X. ĐGH Gioan Phaolô II, Thư gửi Văn nghệ sĩ, số 3.

[410] X. Ngô Tất Tố, Lều Chõng, tiểu thuyết phóng sự về đời một kẻ sĩ theo Khổng học, xuất bản ngày 10/3/1939 tại Hà Nội.

[411] X. Vũ Văn Thước, Quan niệm về cái đẹp của một số trường phái triết học- tôn giáo phương Đông, Ban Tôn giáo Tp.Đà Nẵng, Website Ban Tôn giáo Chính phủ.

[412] X. Bài giảng của thánh Augustinô số 241,2, PL 38, 1134; GLHTCG, số 32; Docat 2016, tr.240.

[413] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2500.

[414] X. Giáo hoàng Phanxicô, bài giảng ngày 24/1/2014; Docat, số 57.

[415] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2502.

[416] X. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2513; Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Phụng vụ Thánh Sacrosanctum concilium, 122-127, AAS 56 (1964).

[417] X. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thư gửi các nghệ sĩ, ngày 4/4/1999, số 11.

[418] X. Tranh cãi giữa Hồng Y Carafa và Michelangelo, nghệ sĩ bị buộc tội là vô đạo đức, tục tĩu khi vẽ những ảnh trần truồng trên bức hoạ Ngày Phán xét cuối cùng ở nhà nguyện Sixtine, Bách khoa Toàn thư, Wikipedia, Nhà nguyện Sixtine.

[419] X. Công đồng Vaticanô II (1965), Hiến chế Gaudium et Spes, số 14, Bản dịch của HĐGMVN, NXB Tôn Giáo, 2012, tr.233.

[420] X. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thư gửi các nghệ sĩ, số 16; x. F. Dostoevsky, L’Idiot, phần III, chương V, Milan 1998, tr. 645.

[421] X. Lê Ngọc Trà, Thách thức của sáng tạo, NXB Thanh Niên, 2002, tr.192.

[422] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên giám 2016, NXB Tôn Giáo, tr. 215.

[423] X. “Thuyết tiến hoá của Darwin: Đã đến lúc phải chấm dứt sự lừa dối vĩ đại”, bài trên You Tube, ngày 1/1/2018; bài “9 lý do chứng minh thuyết tiến hoá của Darwin sai”, You Tube, ngày 14/10/2018….

[424] x. Viện Ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt, Vietlex, 2013, tr.890.

[425] x. Wikipedia; Macmillan Dictionary for Students Macmillan, Pan Ltd. [1981], page 936.

[426] x. A. Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.132.

[427] x. A. Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.389.

[428] X. A. Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.306.

[429] X. A. Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.305.

[430] X. Bài “Đố ai nằm ngủ không mơ”, Trang nhà của Bs Lương Lễ Hoàng, phát lên mạng ngày 20-11-2017.

[431] X. Bs. Alice Roberts, Atlas giải phẫu cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.412- 413

[432] Mt 22,32; Mc 12,27; Lc 20,38

[433] Lc 20,38

[434] Kn 1,13-14

[435] X. Rm 8,20-23

[436] Kn 2,23-24

[437] X. Mc 5,21-43

[438] 1867-1940

[439] 2Tm 2,11

[440] 1Pr 3,13; Kh 21,1; sách GLHTCG, số 1043

[441] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, số 48

[442] Kh 21,4; sách GLHTCG, số 1044

[443] Gl 3,28

[444] Dt 13,8

[445] Ep 1,10

[446] X. Đn 7,10; Ge 3,4; Ml 3,19

[447] X. Mt 3,7-12

[448] X. Mc 12,38-40

[449] X. Lc 12,1-3; Ga 3,20-21; Rm 2,16; 1Cr 4,5

[450] X. Mt 5,22; 7,1-5

[451] Mt 25,40. X. Sách GLHTCG, số 678

[452] X. Ga 1,3

[453] Ga 5,22

[454] X. Ga 3,17

[455] X. Ga 5,26

[456] X..Ga 3,18; 12,48

[457] X. 1Cr 3,12-15; Mt 12,32; Dt 6,4-6;10,26-31; Sách GLHTCG số 679

[458] X. Sự phán xét cuối cùng là một tranh tường do Michelangelo sáng tác, vẽ trên tường của nhà nguyện Sistina ở thành Vatican. Phải mất 4 năm để hoàn thành bức hoạ này, từ năm 1537 đến năm 1541.

[459] X.Mt 25,31-46

[460] 1Ga 4, 8.16

[461] Gc 2,13

[462] X. Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo 2014. tr 383-400

[463] X.. Lc 16,19-31

[464] X. Hiến chế tín lý Lumen Gentium, số 3, 5, 35-36, 44, 46 và Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, số 39, 45.

[465] X. 2 Cr 12,2

[466] X. Tm 6,11-16

[467] X. Rm 15,16

[468] X. 1Cr 7,31

[469] X. 1Cr 2,9; Kh 21,4-5

[470] X. Rm 8,19-21

[471] X. Sách lễ Rôma, Kinh Tiền Tụng lễ Chúa Kitô Vua;. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ số 39.

[472] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người. NXB Y Học, 2015, tr. 407.

[473] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.316-317.

[474] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.305.

[475] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.306.

[476] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.305.

[477] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.305.

[478] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.306.

[479] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể Người, NXB Y Học, tr.306.

[480] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.124-125.

[481] x. Bs. Frank H. Netter, Atlas Giải phẫu người, NXB Y Học, 1999, Hệ thần kinh tự chủ, tr.169.

[482] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.296.

[483] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.298-299.

[484] x. Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẫu Cơ thể người, NXB Y Học, 2015, tr.300.

[485] x. Theo Vietnamplus, Công bố kết quả điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam, Báo Hà Nội Mới, dientu@hanoimoi.com.vn, ngày 11/01/2019.

[486] x. Hà Hiền, Báo Hà Nội Mới, dientu@hanoimoi.com.vn, ngày 3/12/2019, đề mục Xoá bỏ những rào cản đối với người khuyết tật.

[487] x. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẩu Cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr. 86-86.

[488] x. Frank H. Netter. MD, Atlas Giải phẫu người, NXB Y Học, 1999, tr. 153; Bs. Alice Roberts, Atlas Giải phẩu Cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr. 60-61, Hệ Thần Kinh.

[489] x. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẩu Cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr. 433.

[490] x. Bảng Dung lượng Dự đoán Khí thở do G.Polgar và V. Promadhat công bố trên tạp chí của Hiệp hội Thân ngực Mỹ, th. 9/1979, bộ 122, số 3.

[491] x. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẩu Cơ thể người, NXB Y học, 2015, tr. 124,125.

[492] x. Bs Alice Roberts, Atlas Giải phẩu Cơ thể người, NXB Y học, 2015, Hạch bạch huyết và hệ miễn dịch,. tr. 74-75.